Nhập tịch (Tác giả: Phan Kế Bính)

Trà nhập tịch – Làng nào mỗi năm cũng có một trà nhập tịch (vào đám), nhất là hay làm về tháng giêng, tháng hai. Hôm ấy là hôm bắt đầu vào tiệc hội hát, nhưng hội hát thì thỉnh thoảng năm nào phong đăng mới mở to, còn thường thường mỗi năm chiếu lệ làm sơ sài dăm bảy ngày cho chí mười ngày là cùng.

Xem chi tiết

Phụng sự tổ tông (Tác giả: Phan Kế Bính)

Nhà thờ – Bao nhiêu con cháu dòng dõi trong một họ lập chung một nhà thờ Thủy Tổ, gọi là mỗ tộc (Trần tộc, Nguyễn tộc v.v ) từ đường. Nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thủy Tổ, và khi tế tự thì lấy các tổ tông biệt chi, biệt phái mà phối hưởng. Có họ không có nhà thờ thì xây một cái bàn lộ thiên, dựng bia đá ghi tên thụy hiệu các tổ tiên để khi tế tự thì ra tại đó mà tế. Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hỏa, chi trưởng tuyệt thì mới truyền sang chi thứ. Có họ thì con cháu luân lưu thờ tổ ở nhà riêng của mình.

Xem chi tiết

Tang ma (Tác giả: Phan Kế Bính)

Khi mới mất – Nhà nào có ông già bà cả gần mất, con cái vực đến chỗ chính tẩm, hỏi han xem người giối giăng những gì, rồi đặt tên hiệu cho người biết, dùng nước trầm hương lau sạch sẽ, thay đổi quần áo tươm tất. Khi tắt hơi rồi, lấy chiếc đũa, để ngang hàm, bỏ một vốc gạo và ba đồng tiền vào miệng. Nhà phú quý thì dùng ba miếng vàng sống, chín hạt châu trai, gọi là ngậm hàm

Xem chi tiết

Việc tế tự (Tác giả: Phan Kế Bính)

Lễ sóc vọng – Mỗi tháng ngày sóc (mồng một) ngày vọng (hôm rằm), dân làng biện lễ oản chuối, trầu rượu, đem tại miếu hoặc tại đình để lễ thần. Năm bảy người hoặc mươi, mười lăm bô lão trong làng mặc áo thụng vào lễ. Đoạn đem ra chia lấy một nửa làm cỗ kiến viên để các lão hiện có tại đó uống rượu, còn một nửa chia mỗi người một miếng cho được quân chiêm thần huệ. Phần dẫu một miếng trầu, một miếng oản, một quả chuối, cũng phải phân minh. Nếu người đương cai lỡ ra làm thiếu của ai thì sinh ra hiềm khích, có khi đi kiện nhau cũng nên…

Xem chi tiết

Nói về phong tục trong gia tộc – I – Cha mẹ với con (Tác giả: Phan Kế Bính)

Cha mẹ – Hai tiếng cha mẹ, nước ta mỗi nơi gọi cũng hơi khác nhau: Nơi thì gọi là Bố là Đẻ, nơi thì gọi là Thầy là U. Về đường ngược (Hưng Hóa) thì gọi mẹ là Bầm, về đường trong thì gọi là Bụ. Nam kỳ thì gọi cha là Tía, gọi mẹ là Má. Ở đây bây giờ lại nhiều người cho con gọi cha là Ba, gọi mẹ là Mẹ. Còn các nhà hiếm hoi thì chẳng cứ gì, người thì cho con gọi là Chú Thím, người thì cho con gọi là Anh Chị, Cậu Mợ. Ngày xưa lại có tiếng gọi mẹ là Cái nữa, tiếng ấy thì bây giờ không đâu dùng…

Xem chi tiết

Nghiên cứu Phong tục trên phương diện Khái niệm và Liên ngành

Phong tục là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn hoá. Nếu liệt kê sách viết về phong tục ở Việt Nam cũng đã có đến vài mươi đầu sách. Tuy nhiên, hầu hết chỉ miêu tả phong tục chứ chưa có một nhận thức khoa học đầy đủ về phong tục cũng như các vấn đề có liên quan trên phương diện lý luận. Qua bài viết này, chúng tôi cố gắng tìm ra một khái niệm khả dĩ trong nghiên cứu phong tục trên cơ sở nội hàm của nó; đồng thời gợi một số vấn đề phương pháp luận nghiên cứu phong tục trên cơ sở liên ngành.

Xem chi tiết

Một số sinh hoạt NGHI LỄ và PHONG TỤC trong LỄ HỘI CỔ TRUYỀN của NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Người Khmer Nam Bộ có nền văn hoá phát triển khá sớm, tồn tại và được chắt lọc qua thời gian, chứa đựng nhiều giá trị tinh hoa đặc sắc về vật chất và tinh thần. Một trong những thành tố không thể không nói tới của nền văn hoá đó là lễ hội cộng đồng.

Xem chi tiết

Tín ngưỡng THỜ QUAN CÔNG của NGƯỜI HOA ở TP HỒ CHÍ MINH (Trường hợp ở Nghĩa An Hội Quán)

Quan Công là một vị thần có địa vị tối cao trong hệ thống chư thần ở Trung Quốc, được cả Nho, Phật, Lão thờ phụng. Nho giáo xem Quan Công là “Võ Thánh Đế Quân” (còn Văn Thánh là Khổng Tử), Phật giáo xem Quan Công là Hộ pháp gọi là “Già Lam Bồ tát”, còn Đạo giáo phong Quan Công là “Tam giới Phục ma Đại đế”. Cả tam giáo Nho, Phật, Lão đã tích hợp từ văn hoá dân gian, truyền thuyết, ghi chép… và từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa nổi tiếng để “sáng tạo” nên một hình tượng Quan Công “Trung nghĩa”, “Nho nhã”, ”Anh linh”, “Thần uy”.

Xem chi tiết

Hiện tượng THỜ ĐỊA MẪU tại HÀ NỘI

Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành khá sớm và tồn tại phổ biến ở Việt Nam. Nó thể hiện đặc trưng tính “nữ” của văn hoá người Việt, điều đó thể hiện rõ nét trong tục thờ cúng Nữ thần và các Thánh Mẫu. Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu, thể hiện ở việc dạy con người sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân, với nước.

Xem chi tiết

TẢN VIÊN SƠN THÁNH trong đời sống VĂN HOÁ TÂM LINH CƯ DÂN VIỆT _ MƯỜNG (Phần 2)

Trong đời sống văn hoá tâm linh của cư dân Việt và Mường, tục thờ Sơn thần tồn tại theo nguyên lí vũ trụ luận nguyên sơ của phương Đông với các cặp tương sinh tương khắc và đối lập với nhau như Sông – Núi, Đất – Nước,… Đó là môi trường sống quen thuộc của con người, đặc biệt là đối với cư dân nông nghiệp lúa nước, họ sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên với họ, đất và nước có vai trò vô cùng quan trọng. Trong hệ tư duy huyền thoại của người dân, họ luôn quan niệm vạn vật có linh hồn, nên họ luôn cầu mong sự phù hộ của các thần tự nhiên; và vị thần núi Tản Viên Sơn Thánh ngự trị trên đỉnh Ba Vì cũng không nằm ngoài dạng thức đó.

Xem chi tiết

Những giá trị VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG của DÂN TỘC trong TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ở VIỆT NAM

Thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc bản địa, do đó tín ngưỡng này gắn bó chặt chẽ với văn hoá Việt Nam, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống độc đáo của dân tộc. Làm rõ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam không chỉ góp phần khẳng định vai trò của tín ngưỡng này trong đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng mà còn là cơ sở cho việc bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Mẫu vì một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Xem chi tiết

TẬP QUÁN SINH ĐẺ và NUÔI TRẺ SƠ SINH của NGƯỜI THÁI (Nghiên cứu trường hợp Bản Yên, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá)

Những người khai khẩn ruộng nước Bản Yên xưa là từ Mường Mộc, Mường Xo, Mường Lò các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lai Châu. Người Thái ở Bản Yên có nền văn hoá dân gian rất phong phú và đa dạng, trong đó tập quán sinh đẻ và nuôi con hàm chứa tri thức tộc người, giá trị giáo dục nhân văn sâu sắc.

Xem chi tiết

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Tây Nam Bộ trong thách thức hội nhập

1. Nhóm ngành nghề tiểu thủ công: đan đát, dệt chiếu, thảm ở Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ,…; chằm nón, lá ở Vĩnh Long; làm gạch, gốm ở Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ,…; nghề mộc, chạm trổ ở Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang,…; mĩ nghệ từ cây dừa ở Bến Tre, cây mây, tre, trúc ở Cần Thơ,… 2. Nhóm ngành nghề thực phẩm như làm bánh, cốm, kẹo ở Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long,…; làm khô, dưa, nem, rượu, mắm, tương, chao,… ở một số tỉnh…; chế biến khô thuỷ sản ở hầu hết các tỉnh đồng bằng. 3. Nhóm ngành nghề nông nghiệp hoa kiểng ở Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp,… 4. Nhóm ngành nghề có thương hiệu, hiệu quả kinh tế cao, mang lại thu nhập ổn định, như: mắm Châu Đốc, mộc Chợ Mới, tủ thờ Gò Công, bàng buông Tiền Giang, bánh pía Sóc Trăng, khô Cà Mau, sản phẩm cây dừa Bến Tre và hoa kiểng Chợ Lách, Sa Đéc.

Xem chi tiết

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI CHĂM trên các đền tháp ở NINH THUẬN

Lễ hội Yuer Yang được tổ chức định kì hằng năm vào chiều ngày chủ nhật và sáng ngày thứ hai vào tháng 4 Chăm lịch (khoảng tháng 7 dương lịch). Mục đích của lễ Yuer Yang là tạ ơn thần mặt trời. Theo tác giả Ngô Văn Doanh, mục đích lễ Yuer Yang là cầu cho mưa xuống để có nước cày cấy, vì thế người Chăm thường giải thích Yuer Yang là lễ cầu đảo hay lễ thần nông.

Xem chi tiết

Bảo tồn bản sắc VĂN HOÁ KHƠ-ME trong thời kì hội nhập nhìn từ Festival ĐUA GHE NGO SÓC TRĂNG lần I năm 2013

Ðồng bào Khơ-me có nhiều phong tục tập quán và có nền văn hoá nghệ thuật độc đáo. Những chùa lớn thường trống, kèn, đàn, ghe Ngo,… Hàng năm người Khơ-me có nhiều ngày hội, ngày tết Dân tộc được tổ chức theo nghi thức cổ truyền, đảm bảo an toàn và tiết kiệm. Lễ hội Ok Om Bok – Đua ghe Ngo được đặc biệt quan tâm đầu tư tổ chức nhằm tôn vinh, nâng cao ý thức bảo tồn di sản văn hoá Khơ-me truyền thống, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển du lịch văn hoá vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Xem chi tiết

Vì sao lại gọi là BÁNH CHƯNG?

Bấy nay, chắc rằng trong tiềm thức người Việt, bánh chưng cùng với tục ăn bánh chưng ngày tết là chỉ riêng có ở Việt Nam, chắc rằng cũng chẳng có ai nghi ngờ cái “độc quyền” này. Bởi cả đời luôn mang trong mình suy nghĩ ấy, nên khi biết được sự thực không phải vậy, chúng tôi đã vô cùng bất ngờ.

Xem chi tiết

NHÀ Ở và TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG của DÂN TỘC PU PÉO ở Hà Giang

Thôn Chúng Chải, thuộc xã Phố Là, huyện Đồng Văn là bản tập trung nhiều hộ người Pu Péo sinh sống của tỉnh Hà Giang, người dân còn gọi là thôn Củng Trá (nghĩa là bản của những người họ Củng). Người Pu Péo có dân số rất ít ỏi nên một mặt đã tiếp thu khá nhiều các yếu tố văn hoá của các dân tộc láng giềng (nhất là của người Tày, người Nùng, người Hán,…), nhưng mặt khác họ vẫn giữ lại rất đậm nét những đặc điểm văn hoá truyền thống của dân tộc. Những truyền thống này được thể hiện rõ rệt cả trong văn hoá vật chất (chủ yếu ở y phục phụ nữ và nhà cửa).

Xem chi tiết

CHỮ HIẾU _ giá trị gia đình trong TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ Việt Nam

Con người sinh ra đã có cha có mẹ. Do vậy, “chữ Hiếu” là phạm trù đạo đức được nhân loại ý thức rất sớm, ngay từ thời cổ đại. Dù ở phương Ðông hay phương Tây, người ta cũng đã cố công tìm kiếm và đề ra những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cho phạm trù này. Chuẩn mực đạo đức Hiếu, dù được đề cập dưới nhiều giác độ khác nhau tuỳ theo từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử, từng nền văn hoá, nhưng điểm chung nhất mà con người có thể thấy được là thái độ ứng xử một cách hài hoà trong mối quan hệ gần gũi giữa cha mẹ và con cái. Cũng chính nhờ điểm này mà tư tưởng Hiếu đã trở thành một trong những giá trị chung nhất cho toàn nhân loại từ xưa đến nay, nhưng lại vẫn có những nét đặc thù riêng cho từng dân tộc.

Xem chi tiết

Văn hoá VIỆT – NHẬT qua CÂU CHUYỆN ĐÔI ĐŨA

Việt Nam và Nhật Bản là hai nước có nhiều điểm tương đồng về văn hoá – ngôn ngữ. Dẫn chứng tiêu biểu là việc người Nhật và người Việt đều sử dụng chữ Hán. Hiện nay, số lượng từ mượn từ tiếng Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Việt chiếm tỉ lệ khá tương đương. Nếu nói về ẩm thực thì người Nhật và người Việt đều sử dụng gạo như một món ăn quan trọng. Tuy nhiên, đi vào cụ thể, những câu chuyện văn hoá ngôn ngữ này có nhiều điều khác biệt.

Trong bài tham luận này, chúng tôi xin kể ra một số điểm tương đồng nhưng lại dị biệt một cách thú vị giữa hai nền văn hoá qua câu chuyện về đôi đũa.

Xem chi tiết

Một số TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI của người Việt từ GÓC NHÌN VĂN HOÁ

Thương mại làng xã nhỏ lẻ, manh mún đã để lại dấu ấn tương đối đậm nét trong tập quán mua bán của người Việt ngay cả trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay. Tìm hiểu vấn đề này không chỉ làm rõ diện mạo kinh tế truyền thống mà còn góp phần đánh giá những hạn chế trong hoạt động thương mại Việt Nam mà nguyên nhân khởi nguồn từ yếu tố văn hoá – lịch sử.

Xem chi tiết