Hội RẰM THÁNG BA _ nét VĂN HOÁ NGƯỜI NGUỒN huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình

1. Người Nguồn bảo nhau rằng: “Thà rằng đau ốm mà nằm, ai mà nỡ bỏ Hội Rằm Tháng Ba”. Mùa xuân trên quê hương Minh Hoá ánh lên đầy màu sắc, khi mùa con ong đi lấy mật, khi những chồi non đang nhú, những nhánh lan rừng nở trắng đồi núi, tiếng chim hót líu lo, cảnh sắc núi rừng căng tràn sức sống như nàng sơn nữ đang tuổi trăng tròn cũng là mùa “đến hẹn lại lên” của những đôi trai gái thề hẹn năm nào. Với những ai chưa được trải nghiệm ngày hội văn hoá đặc sắc này thì hãy một lần đến, để rồi nhớ, rồi thương, vấn vương để lại tìm về Hội Rằm Tháng Ba.

2. Tín ngưỡng thờ Pụt – nguồn gốc của Hội Rằm Tháng Ba

     Người ta không thể nhớ chợ Rằm có từ bao giờ nhưng trong tiềm thức bao thế hệ người dân nơi đây đã truyền tụng và kể cho nhau nghe câu chuyện về thần Pụt 1 – thác Pụt và Hội Rằm Tháng Ba bắt đầu từ câu chuyện dân gian đưa thần Pụt về thác Pụt.

     Chuyện kể rằng vào một ngày tháng 3 âm lịch, có hai anh em đi rừng tìm ong lấy mật, rồi lạc vào hướng lèn Ông Ngoi. Đi mãi đi mãi đến một nơi, họ gặp một phiến đá nhẵn bên cạnh có giếng nước trong xanh cùng một cây cam chín mọng quả, đang lúc mệt họ dừng chân uống nước, ăn cam rồi lại lên đường. Nhưng lạ thay họ đi mãi bao nhiêu cũng quay về chỗ cũ (nơi có phiến đá, giếng nước, cây cam). Họ nghĩ đây không phải là phiến đá thường. Nhìn kĩ thấy xung quanh bàn đá có mười hai hình người bằng đá ngồi thành một hàng, họ linh cảm đây là do thần linh tạo nên, liền lấy hai hòn đá bỏ vào giỏ mang về và tin rằng thần đá sẽ dẫn đường chỉ lối cho họ tìm ra lối đi về nhà. Đúng như mong muốn, anh em họ tìm được hướng ra, trên đường về đến chân thác nước Dòn 2, dưới chân lèn Ông Ngoi, họ ngồi nghỉ và đặt hai hình đá xuống đất, nhưng lạ thay khi nhấc lên lại không có cách nào nhấc được. Khi về nhà những ngày sau ở làng Cầu 3, làng Pôộc 4, làng Ang 5  làng Sét 6  đều nháo nhác, kẻ ốm người đau nạn dịch hoành hành. Sau hồi suy tính dân làng cho rằng do mình có lỗi với Thần, nghĩ vậy cả dân làng đến thác nước lập miếu thờ thần (nơi đây gọi là thác Pụt) để tạ lỗi với thần Pụt và cầu cho mưa thuận gió hoà, dân làng bình yên, mùa màng tươi tốt. Và cũng từ đây hàng năm cứ đến ngày Rằm Tháng Ba (15/3 âm lịch) dân làng lại cùng nhau làm lễ cúng tế thần Pụt để cầu an, cầu lộc, cầu tài, cầu phúc.

     Lễ cúng thần Pụt được tổ chức vào ngày 14 tháng 3 âm lịch. Dân làng cùng nhau sắm nếp, bánh ít, nổ, bánh giò và gác cúng bao gồm: 12 con oản, 12 đĩa hạt nổ, 12 quả cam, 12 lá trầu tươi, 12 quả cau nhẵn bóng đẹp và dân làng thì ăn chay 3 ngày.

     Chủ lễ là một vị bô lão do dân làng Xuân Hoá, Yên Hoá, Quy Hoá, Hồng Hoá “xin keo” chọn ra. Người được chọn là người có uy tín, có địa vị trong làng được người dân tôn kính nhất. Những thanh niên trai tráng trong làng giỏi săn bắn, đi rừng, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn được làng chọn ra để đưa đồ cúng về thác nước cúng Pụt.

     Từ khi thờ thần Pụt thì hằng năm người Nguồn tổ chức Hội Rằm Tháng Ba. Đây là lễ hội khá hoàn chỉnh có cả phần lễ và phần hội. Trong tín ngưỡng người Nguồn, Pụt là vị thần cứu giúp họ qua mọi khó khăn trong cuộc sống cho nên ngoài việc thờ thần Pụt không một tôn giáo nào có thể du nhập vào tín ngưỡng tâm linh người Nguồn.

___________
1. Pụt theo quan niệm của người Nguồn là một vị thần linh thiêng, người dân thờ cúng Pụt để cầu an, cầu lộc. Pụt là vị thần tài giỏi, đức độ. Pụt hoá thành tượng đá (12 ông) ở đỉnh núi Ông Ngoi. Sau có hai người Nguồn đem về thác nước Dòn hai ông và lập bàn thờ.

2. Xóm Sông, xã Hồng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình.

3. Cầu 3, thôn Tân Kiều, xã Yên Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình.

4. Pộôc 4, làng Yên Thọ, xã Tân Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình.

5. Ang 5, thôn Thống Nhất, xã Hồng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình.

6. Sét, làng Kim Bảng, xã Minh Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình.

3. Các dạng thức của Hội Rằm Tháng Ba

     Người Nguồn cứ đến ngày này ngoài việc góp công sức, góp của để dân làng lo cúng thần Pụt thì ở mỗi gia đình đều chuẩn bị các thực phẩm khác: hoa quả, xôi, bánh giò,… để cúng trong nhà cầu tài, cầu lộc, cầu an.

     Trẻ em thì trong những ngày này được vui chơi thoả thích, thanh niên trai gái gặp gỡ, giao duyên, ước hẹn, cùng nhau chuyện trò ca hát không biết đến thời gian. Các vị bô lão, ông bà già cũng có cơ hội gặp nhau cùng uống bát nước chè xanh, ngâm nga điệu dặm, điệu lí với nhau. Chợ Rằm đã thành nơi gặp gỡ cho mọi lứa tuổi, dù xa, gần thì ngày nay sẽ trở về để gặp nhau. Chợ Rằm Tháng Ba thu hút tất cả người Nguồn ở trên địa bàn Minh Hoá và nhiều khách thập phương.

     Ẩm thực:

     Món ăn đặc trưng của vùng là cơm pồi 1  – ôốc tựưc (ốc được luộc và chấm muối lá chanh, khều bằng gai bưởi ăn có vị thơm, béo và mát. Người Nguồn còn chế biến ốc bằng cách lấy thịt ốc nấu chuối xanh và nấu canh chua). Ngoài ra còn có cá suối nướng lá nghệ, cơm nấu trong pheo (ống tre), uống cùng rượu gạo.

     Đây là những món ăn truyền thống và cũng là những món ăn được ưa chuộng nhất ngày Rằm. Ai một lần đến dự hội Rằm đều không thể không thưởng thức món ăn này, để biết được, hiểu được đời sống người Nguồn tuy đơn giản nhưng mang đậm hương vị chân chất, giản dị, mộc mạc của vùng quê miền núi, thắm đượm tình người và lòng nhiệt thành mến khách.

     Hò thuốc:

     Nghe kể rằng xưa có hình thức thuốc tập thể bằng rễ cây thuốc tên là Tèng, rễ của một loại cây mọc hoang trong rừng, rễ có chất nồng cay làm cho cá chết. Những thanh niên khoẻ mạnh vào rừng tìm rễ cây này mang ra đầu nguồn suối quay đá xung quanh, dùng những cây gỗ vót dẹt hai đầu làm chày giã Tèng, giã thật nát, mịn thì nước trong rễ cây chảy ra hoà vào nước suối làm cho cá chết. Trong lúc giã Tèng người ta hò hát làm cho nhịp giã thêm đều, thêm khoẻ, tạo hứng thú, hăng hái, sôi nổi và hiệu quả công việc cao. Hò thuốc ra đời từ đó. Đây là nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống mà hình thức lời hò là những câu ca dao đặc biệt là tiết tấu tiếng đệm lấy nhịp “hôi lên là hôi lên” của điệu hò thuốc cá. Ngày nay những làn điệu hò thuốc không còn nhiều, người biết và hát được giờ chỉ có bà Đinh Thị Đống.

     Hát sắc bùa:

     Đây là hình thức sinh hoạt tập thể, là lối hát phổ biến của người Nguồn. Họ thường tổ chức hát sắc bùa vào dịp tết, mừng nhà mới, mừng lúa mới, lễ hội,… Hát sắc bùa của người Nguồn có những đặc điểm riêng gắn với cuộc sống xã hội và thiên nhiên, về lời hát cũng như nghi thức diễn xướng. Tuỳ theo từng cuộc hát ở từng giai đoạn mà nội dung diễn xướng có thể thêm bớt khác nhau, có thể kéo dài hoặc rút ngắn về thời gian. Làn điệu sắc bùa có giọng ngâm nga, luyến láy ví von theo nhịp trống cái, trống cơm, mèn mèn nên khi hát những lời ca ngọt ngào du dương hoà lẫn với nhịp trống giòn giã, sôi nổi tạo nên không khí vui tươi, sảng khoái, người hát say sưa người nghe cũng bị lôi cuốn.

     Trò chơi dân gian:

     Trong ngày Hội Rằm Tháng Ba có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức và đã thu hút nhiều tầng lớp người dân tham gia, nhất là những thanh niên nam thanh nữ tú rất hăng hái và nhiệt tình. Các trò chơi xuất phát từ ước vọng cầu mưa, từ ước vọng phồn thực (trò chơi đánh vụ, ném còn,…), từ yêu cầu rèn luyện sức khoẻ nhanh nhẹn, tháo vát, khả năng lao động chiến đấu (vật, cà kheo, bắn cung,…). Tất cả góp phần làm nên một ngày hội thực sự có ý nghĩa.

     Các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian, các trò chơi dân gian là tinh thần của lễ hội, là điểm nhấn, là nơi cộng đồng sinh hoạt, vui chơi, gặp gỡ, giao lưu nhằm thắt chặt tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, hiểu nhau hơn.

     Lễ hội dân gian không chỉ là “tấm gương phản chiếu” nền văn hoá dân tộc mà còn là môi trường bảo tồn và làm giàu, phát huy nền văn hoá quý báu mà trải qua thời gian dài con người đã tạo dựng nên.

__________
1. Cơm pồi là món ăn thường ngày của người Nguồn được chế biến từ củ mì (sắn), sạu (ngô). Hạt ngô được ngâm trong nước sôi từ 5 – 7 tiếng, vớt ra để ráo, bỏ vào cối đâm thật mịn, giần lấy bột. Củ sắn tươi bóc vỏ rửa sạch mài sắn, ép nước, cho vào cối dùng chày đâm thật mịn. Lấy ra trộn cùng với bột ngô đâm cho thật đều, lấy ra đánh tơi cho vào nghè hôông (nồi hông) nấu trong 40 – 60 phút. Việc làm pồi rất mệt nhọc và nhiều công đoạn do người phụ nữ đảm nhiệm. Ngày hai bữa thì hai lần “tâm pồi” (giã ngô, sắn, hôông pồi). Nên người Nguồn có câu: Trôông pô cho tếêng mùa pồi / Tở con ôốc tựưc nó ngồi trêên vâm (Mong sao cho đến mùa pồi / Để con ốc tưực nó ngồi lên mâm).

4. Ý nghĩa lễ hội

     Người Nguồn qua quá trình lao động đã tạo dựng cho mình một nền văn hoá riêng, độc đáo. Từ bao đời nay, thế hệ con cháu vẫn tiếp tục thu thập, lưu giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp đó. Lễ hội Rằm Tháng Ba là một sự kiện văn hoá tinh thần có ý nghĩa lớn lao trong tâm thức mỗi một người con nơi đây.

     Những ai đã đến với Hội Rằm Tháng Ba ra về không tham vọng mua nhiều đặc sản đắt tiền như những khu du lịch sầm uất mà chỉ mua ít mật ong rừng, nhành lan rừng, măng rừng,… Nhưng vẫn lưu luyến mãi bởi con người và cảnh vật nơi đây, hữu tình, chân chất, giản dị, gần gũi của một vùng quê sơn cước. Có người không có điều kiện “đến hẹn lại lên” với Hội Rằm Tháng Ba thì nhắn gửi món “cơm Pồôi – ốôc Tưực” để rồi từ một nơi nào đó vẫn thức dậy một Hội Rằm Tháng Ba đầy nhớ nhung. Cũng không ít người gọi Chợ Rằm Tháng Ba là “Chợ tình” bởi đây là nơi gặp gỡ, trao duyên của nhiều đôi trai gái, họ hẹn ước và chờ đợi cho cuộc gặp gỡ năm sau và từ đây nhiều đôi nên vợ nên chồng.

     Lễ hội dân gian này là sự hoà quyện giữa con người với tự nhiên, với thần linh và siết chặt tình cảm, kết cấu làng xã càng được bền vững, truyền thụ tâm linh, giữ vững phong tục tập quán làng xã nói riêng, dân tộc nói chung.

5. Định hướng cho Hội Rằm Tháng Ba

     Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày nay Hội Rằm Tháng Ba Minh Hoá được giữ gìn và phát triển. Nội dung hoạt động Hội Rằm vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hoá truyền thống, vừa phù hợp với đời sống văn hoá tiên tiến.

     Ngày 03/5/2004, người dân Minh Hoá vui mừng, phấn khởi đón nhận sự kiện Hội Rằm Tháng Ba Minh Hoá được công nhận là Lễ hội văn hoá truyền thống cấp tỉnh. Đây là một vinh dự lớn, nhưng cũng đặt ra một trách nhiệm lớn cho Đảng bộ và nhân dân Minh Hoá đối với Hội Rằm Tháng Ba hôm nay và trong tương lai.

     Có thể nói Hội Rằm Tháng Ba là hình ảnh thu nhỏ của bản sắc văn hoá người Nguồn ở huyện Minh Hoá. Cần quan tâm giữ gìn, tôn tạo, phát huy hơn nữa, đặc biệt là sưu tầm, ghi chép, ghi âm, nghiên cứu một cách có hệ thống các làn điệu hò thuốc, các bài hát sắc bùa. Đồng thời, định hướng truyền dạy cho thế hệ trẻ để giá trị văn hoá không bị mai một, góp phần tạo nền móng vững chắc cho một nền văn hoá dân tộc, góp phần vào sự đa dạng của bản sắc văn hoá Việt Nam.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Đinh Thanh Dự, Bảo tồn và phát huy vốn văn hoá người Nguồn huyện Minh Hoá, NXB Thuận Hoá.

2. Hoàng Văn Đại vài nét về văn hoá tinh thần truyền thống của người Nguồn, Trung tâm Du lịch Văn Hoá – Phong Nha Kẻ Bàng.

3. Cao Văn Hồng, Hội Rằm Tháng Ba Minh Hoá hôm nay, Bản tin Minh Hoá, 2004.

4. Đinh Văn Hồng, Nét đẹp Hội Rằm Tháng Ba Minh Hoá, Đài Truyền hình Truyền thanh Minh Hoá.

5. Thường vụ Đảng uỷ huyện Minh Hoá, Lịch sử Đảng bộ huyện Minh Hoá, tập1 (năm 1930 – 1970), 2000.

6. Võ Xuân Trang – Đinh Xuân Dự, Thơ ca Dân gian Nguồn, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1994.

ĐINH THANH HOA 1

__________
1. ThS, Phú Bài, Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế.