Những YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG đến SỰ THAY ĐỔI KĨ NĂNG QUẢN LÍ CẢM XÚC của GIÁO VIÊN MẦM NON tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Phần 1)

LÊ THỊ THANH HUYỀN
(Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh)

TÓM TẮT

     Bài viết này sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi kĩ năng quản lí cảm xúc (KNQLCX) của giáo viên mầm non (GVMN). Khách thể nghiên cứu là 389 GVMN thuộc 25 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 mô hình dự báo sự thay đổi KNQLCX của GVMN, với các biến tác động là: nhận thức của GVMN về QLCX và KNQLCX, cách ứng xử trong nhà trường, cơ hội phát triển công việc, khí chất và áp lực công việc, mức độ gắn bó với công việc. Kết quả này gợi ý cho việc xây dựng những biện pháp tác động giúp GVMN tại TPHCM nâng cao KNQLCX.

     Từ khóa: kĩ năng quản lí cảm xúc; giáo viên mầm non; những yếu tố ảnh hưởng.

x
x x

1. Đặt vấn đề

     Theo Izard (1992), cảm xúc tạo nên hệ động cơ chính của con người. Các cảm xúc có ý nghĩa to lớn trong hoạt động của cá nhân, nó thôi thúc con người làm việc. Chúng ta không nên nghĩ cảm xúc là yếu tố đối lập hoàn toàn với trí tuệ, mà cảm xúc là một dạng trí tuệ bậc cao. Cảm xúc là một phẩm chất tâm lí cơ bản và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Cảm xúc tác động mạnh mẽ đến hiệu quả công việc, học tập và khả năng sáng tạo của con người. Thực tế cho thấy, khi con người vui sướng, họ hoạt động năng nổ, nhiệt tình và vì thế họ thường thực hiện các hành vi mang tính tích cực để nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngược lại, khi con người sợ hãi, đau khổ, họ có xu hướng thu mình lại, uể oải, mệt mỏi, mất năng lực, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống. Như vậy, cảm xúc có tính hai mặt: một mặt, cảm xúc là động lực thôi thúc cá nhân hoạt động có hiệu quả.

     Mặt khác, cảm xúc cũng có thể là rào cản ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của mỗi cá nhân. Theo đó, để các hoạt động hằng ngày đạt hiệu quả, giảm bớt rủi ro thì KNQLCX  có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp chúng ta biết nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của bản thân để đạt được hiệu quả hoạt động.

__________
Cite this article as: Le Thi Thanh Huyen (2019). Factors affecting changes in emotional management skills of preschool teachers in Ho Chi Minh City. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 16(11), 809-818.

2. Một số khái niệm liên quan

 Giáo viên mầm non là những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ hay lớp mẫu giáo độc lập (Minitry of Education and Training, 2008). GVMN là chủ thể của hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên, hoạt động sư phạm của GVMN có điểm đặc thù, khác biệt hẳn so với hoạt động sư phạm của giáo viên ở các cấp học khác, bởi vì đối tượng của hoạt động chăm sóc và giáo dục của GVMN là trẻ em còn nhỏ (dưới 6 tuổi). Các em đang trong quá trình hình thành và phát triển những phẩm chất ban đầu của nhân cách, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi, do đó, GVMN phải tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi mầm non. Diễn biến phức tạp của hành vi bạo hành trẻ mầm non do GVMN gây ra là một minh chứng cho thấy, không ít GVMN đang gặp khó khăn trong quản lí cảm xúc (QLCX) của họ, đặc biệt là những cảm xúc tiêu cực xuất hiện trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ (CS-GDT).

     Có nhiều quan điểm khác nhau về cảm xúc. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức cho rằng: Cảm xúc là những rung cảm của cá nhân phản ánh ý nghĩa mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và hệ thống nhu cầu, động cơ của cá nhân đó. Nói cách khác, cảm xúc xuất hiện khi có kích thích từ bên trong hoặc bên ngoài có liên quan đến hệ thống nhu cầu, động cơ của cá nhân (Vu Dung, 2000; Nguyen Quang Uan, 2003; Nguyen Xuan Thuc, 2007).

     QLCX là khái niệm được bắt nguồn từ các công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, nó được xem là một thành phần trong cấu trúc của trí tuệ cảm xúc (Nguyen Ba Phu, 2016).

     Theo Mayer và cộng sự (2000): “QLCX là năng lực tăng cường những cảm xúc dễ chịu và điều hòa những cảm xúc tiêu cực”. Theo Daniel Goleman (2007): “QLCX thể hiện năng lực làm cho những cảm xúc của mình thích nghi với hoàn cảnh, là việc con người tự trấn an tinh thần của mình, thoát ra khỏi sự chi phối của lo âu, buồn rầu và giận dữ…”. Theo Nguyễn Thị Hải: “QLCX là quá trình điều chỉnh cảm xúc của bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp” (Nguyen Thi Hai, 2014). Theo tiếp cận nhận thức – hành vi, phản ứng của con người trước các sự kiện, tình huống trong cuộc sống là tổng hòa phản ứng của một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như: nhận thức, cảm xúc, nhu cầu, động cơ và hành vi.

     Trong đó, nhận thức đảm nhận vai trò lí giải và đưa ra ý nghĩa cho các sự kiện, tình huống bên ngoài. Theo ý nghĩa này, nhận thức ảnh hưởng đến các yếu tố còn lại như cảm xúc, nhu cầu, động cơ và hành vi của con người khi gặp phải một sự kiện kích hoạt nào đó (Nguyen Thi Minh Hang et al., 2017). Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên quan điểm của trường phái nhận thức – hành vi và cho rằng: QLCX là quá trình đánh giá khách quan những suy nghĩ có liên quan đến sự kiện kích hoạt cảm xúc để nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của bản thân nhằm đạt được hiệu quả hoạt động.

     Kĩ năng cũng là vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đi trước tiếp cận kĩ năng theo hai hướng (Nguyen Cong Khanh, 2000): i) Kĩ năng thiên về mặt kĩ thuật, thao tác của hành động, hoạt động; và ii) Xem xét kĩ năng thiên về năng lực của con người. Theo đó, thuật ngữ kĩ năng ban đầu được sử dụng với các hành động có tính cơ học, nhưng đến nay kĩ năng được sử dụng để phản ánh nhiều năng lực khác nhau của con người như kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng tư duy, kĩ năng xã hội… Nghiên cứu này tiếp cận kĩ năng thiên về năng lực của con người và đồng ý với Nguyễn Bá Phu về khái niệm kĩ năng như sau: Kĩ năng là năng lực vận dụng cách cách thức hành động vào hoạt động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hoạt động đó đạt kết quả theo mục đích đã đề ra. (Nguyen Ba Phu, 2016).

     Trên cơ sở những phân tích ở trên, KNQLCX của GVMN trong quá trình CS-GDT mầm non được hiểu như sau: Là năng lực vận dụng các cách thức hành động, đánh giá khách quan những suy nghĩ có liên quan đến sự kiện kích hoạt cảm xúc để nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của GVMN trong quá trình CS-GDT nhằm đạt được hiệu quả công việc. Như vậy, KNQLCX của GVMN sẽ bao gồm ba kĩ năng thành phần: kĩ năng nhận diện cảm xúc (KNNDCX), kĩ năng kiểm soát cảm xúc (KNKSCX) và kĩ năng điều chỉnh cảm xúc (KNQLCX). Năng lực vận dụng các cách thức hành động, đánh giá khách quan những suy nghĩ có liên quan đến sự kiện kích hoạt cảm xúc sẽ được thể hiện ở ba kĩ năng thành phần của KNQLCX, giúp GVMN đạt được hiệu quả trong quá trình CS-GDT mầm non. Trong đó: KNNDCX của GVMN là năng lực nhận ra và gọi tên đúng các loại cảm xúc phù hợp với tình huống và sự kích hoạt; KNKSCX của GVMN là năng lực theo dõi, kìm nén, tiết chế và làm chậm quá trình bộc lộ cảm xúc bằng việc tập trung suy nghĩ về cảm xúc, điều chỉnh biểu hiện cơ thể, hành vi và ngôn ngữ của bản thân nhằm đạt được hiệu quả công việc; KNĐCCX của GVMN là năng lực lựa chọn cảm xúc và cách bộc lộ cảm xúc thông qua việc thay đổi suy nghĩ, niềm tin của bản thân về sự kiện kích hoạt cảm xúc nhằm đạt được hiệu quả công việc.

     Khi tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNQLCX, nhiều nghiên cứu đi trước đã chỉ ra các yếu tố chủ quan và khách quan. Trong nghiên cứu này, chúng tôi căn cứ vào đặc điểm nghề nghiệp của GVMN để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố sau đối với KNQLCX của GVMN: 1) Nhận thức của GVMN về QLCX và KNQLCX; 2) Kiểu khí chất của GVMN (hướng nội hay hướng ngoại); 3) Áp lực công việc của GVMN; 4) Cách ứng xử trong nhà trường; 5) Cơ hội phát triển trong công việc; 6) Mức độ gắn bó với công việc.

3. Mẫu và phương pháp nghiên cứu

    3.1. Chọn mẫu và thời gian khảo sát

     Mẫu của nghiên cứu này là mẫu ngẫu nhiên thuận tiện, bao gồm 389 GVMN của 25 trường mầm non thuộc các quận Bình Thạnh, Tân Bình, Quận 1, Quận 3, Quận 5 ở TPHCM. Khảo sát chính thức được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 3 năm 2019.

     3.2. Phương pháp nghiên cứu

     Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học. Trong đó, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu chính. Bảng hỏi KNQLCX của GVMN tại TPHCM gồm 2 phần:

    Phần 1: Thang đo tự đánh giá của GVMN về KNQLCX (bao gồm ba kĩ năng thành phần là KNNDCX, KNKSCX và KNĐCCX). Trong đó, tự đánh giá về KNQLCX của GVMN được đo trên hai tiêu chí là tính hiệu quả, tính linh hoạt và đều đảm bảo độ tin cậy và độ hiệu lực (xem Bảng 1).

Bảng 1. Kết quả kiểm định độ tin cậy và độ hiệu lực thang đo KNQLCX của GVMN tại TPHCM

     Phần 2: Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến KNQLCX của GVMN, bao gồm 1 trắc nghiệm khí chất của Eysenck và 5 tiểu thang đo cho 5 yếu tố ảnh hưởng. Trong đó, kết quả trắc nghiệm khí chất cho kết quả có 133 người hướng nội (chiếm 34,2%) và 256 người hướng ngoại (chiếm 65,8%). Thang đo 5 yếu tố ảnh hưởng cũng có độ tin cậy và độ hiệu lực đảm bảo yêu cầu (xem Bảng 2).

Bảng 2. Kết quả kiểm định độ tin cậy và độ hiệu lực thang đo các yếu tố ảnh hưởng
đến KNQLCX của GVMN tại TPHCM

     3.3. Mức độ và tiêu chí đánh giá

     Để lượng hóa mức độ tính hiệu quả và tính linh hoạt của KNQLCX của GVMN tại TPHCM, chúng tôi quy ước mứ c điểm như ở Bảng 3 sau đây:

Bảng 3. Quy ước mức độ, mức điểm và biểu hiện tính hiệu quả, tính linh hoạt
của KNQLCX của GVMN tại TPHCM

     Như vậy, điểm trung bình cộng tối đa là 3, tối thiểu là 1. Điểm định lượng đối với từng mức độ được xác định dựa vào phân phối chuẩn, tức điểm trung bình cộng đạt được của toàn bộ mẫu nghiên cứu và độ lệch chuẩn. Cu thê ̣ ̉, KNQLCX của GVMN được chia ra thành các mức độ như sau:

     – Mức “Yếu” (không có kĩ năng):

       + Về đinh tı ̣ ́nh: Mức “Yếu” chỉ thực trạng KNQLCX của GVMN tại TPHCM chưa có tính hiệu quả và linh hoạt, họ chưa nhận diện đúng, chưa kiểm soát và chưa điều chỉnh được cảm xúc trong hầu hết mọi tình huống, họ cũng lúng túng trong mọi tình huống cần nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc. Mức độ này nói lên GVMN gần như chưa có KNQLCX.

        + Về đinh lượng: Mức “Yếu” ≤ ĐTB – 1ĐLC.

     – Mức “Trung bình” (kĩ năng ở mức bình thường):

       + Về định tính: Mức “Trung bình” chỉ thực trạng KNQLCX của GVMN tại TPHCM đã có tính hiệu quả và linh hoạt nhưng không thường xuyên. Họ nhận diện, kiểm soát, điều chỉnh được một phần cảm xúc và mang lại phần nào hiệu quả như mong muốn. Đôi khi họ còn lúng túng khi nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc. Mức độ này nói lên GVMN đã có KNQLCX nhưng ở mức bình thường.

       + Về định lượng: ĐTB – 1ĐLC < Mức “Trung bình” ≤ ĐTB + 1ĐLC.

     – Mức “Tốt” (kĩ năng ở mức sử dụng có hiệu quả và linh hoạt):

       + Về định tính: Mức “Tốt” chỉ thực trạng KNQLCX của GVMN tại TPHCM đã mang lại hiệu quả và linh hoạt ở hầu hết các tình huống. Tức là họ hầu như nhận điện đúng, kiểm soát tốt và điều chỉnh được cảm xúc của mình ở mọi tình huống. Mức độ này nói lên GVMN đã có KNQLCX tốt.

       + Về định lượng: Mức “Tốt” > ĐTB + 1SD

     Các yếu tố ảnh hưởng đến KNQLCX của GVMN được đánh giá theo ĐTB. Theo đó, ĐTB của các yếu tố ảnh hưởng càng cao thì nhận thức của GVMN về QLCX và KNQLCX càng tốt, áp lực công việc của họ càng cao, cách ứng xử trong nhà trường càng tích cực, càng có nhiều cơ hội phát triển trong công việc và mức độ gắn bó với công việc cũng càng cao.

     Nếu ĐTB của các yếu tố ảnh hưởng càng thấp thì sẽ có ý nghĩa ngược lại.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM – ISSN: 1859-3100
Tập 16, Số 11 (2019): 809-818

Ảnh đại diện: Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.comthiết lập và chuyển sang tone màu sepia.
Nguồn ảnh:
https://vietgiaitri.com/

     Mời xem:

Những YẾU TỐ ẢNH HƯỞ NG đến SỰ THAY ĐỔI KĨ NĂNG QUẢN LÍ CẢM XÚC của GIÁO VIÊN MẦM NON tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Phần 2)