PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG dân gian của NGƯỜI NGÁI

1. Hiện nay, người Ngái là một trong những tộc người có số lượng dân số sụt giảm nghiêm trọng nhất tại Việt Nam (cùng với Si-La, Pu Péo, Brâu, Ơ-Đu…). Trong vòng 10 năm (1999 – 2009), dân số người Ngái giảm 3.806 người từ 4.842 người (năm 1999) [1] xuống còn 1.035 người (năm2009) – một con số đáng báo động [2]. Sự suy giảm dân số đi liền với đó là sự mai một dần các giá trị văn hoá truyền thống – yếu tố quan trọng trong việc định hình, xác lập ý thức tộc người, bảo tồn văn hoá truyền thống.

     Trước tình hình đó, chúng ta cần có những biện pháp nhanh chóng, kịp thời nhằm khôi phục, lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một của tộc người Ngái. Xuất phát từ những lí do nêu trên, bài viết nêu lên một số nét tổng quan về tộc người Ngái, cũng như phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của họ,… nhằm góp phần lưu giữ những nét tinh hoa văn hoá trong đời sống của tộc người này.

2. Tổng quan về tộc người Ngái ở Việt Nam

     Ở Việt Nam hiện có 1.035 người Ngái. Người Ngái có mặt ở 28/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam [2], sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh,… Trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tộc người Ngái là một trong ba tộc người của nhóm ngôn ngữ Hán, thuộc ngữ hệ Hán – Tạng. Người Ngái được chia thành các nhóm với nhiều nguồn gốc khác nhau, di cư vào Việt Nam theo nhiều đợt trong suốt thời kì trung đại và cận đại. Người Ngái còn có tên gọi khác như Sán Ngái, Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sìn, Đản, Lê, Xuyến,… Tuy có sự khác nhau ít nhiều ở mỗi nhóm người Ngái về ngôn ngữ cũng như những yếu tố bản địa trong sắc thái văn hoá song giữa các nhóm người Ngái đều có chung một nguồn gốc lịch sử sinh tụ và là một cộng đồng mang đậm nét yếu tố Hán – Tạng trong bản sắc văn hoá của mình.

     Xét về nguồn gốc lịch sử tộc người, người Ngái di cư tới Việt Nam vào nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử. Việt sử thông giám cương mục vào thế kỉ thứ X đã ghi lại sự xuất hiện của người Ngái ở dọc bờ biển Việt Nam (Quảng Ninh, Hải Phòng…). Trên thực tế, người Ngái đã sinh sống ở Quảng Ninh từ nhiều thế kỉ. Còn người Ngái Hắc Cá (Hakka) đến Việt Nam vào khoảng những thập niên đầu thế kỉ XIX [9, tr. 24-32]. Trước năm 1945, người Ngái được gọi bằng tên “Sủi Sường nhằn” (âm Hán Việt là Thuỷ thượng nhân) tức người sinh sống trên mặt nước hay người Đản (Đản Gia lão) là người chuyên nghề đánh cá [3]. Người Dân tộc Ngái sống phân tán và rải rác, thường lập thôn xóm ở các sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo. Khác với các dân tộc khác, người Ngái không làm nương rẫy mà chỉ canh tác ở soi bãi và vườn đồi.Việc khai thác sản phẩm sẵn có trong tự nhiên ít có ý nghĩa với đời sống của người Ngái. Nhưng người Ngái lại rất thành thạo trong việc đánh bắt thuỷ hải sản. Họ không có thôn bản riêng mà thường ở xen kẽ với các dân tộc anh em Kinh, Tày, Sán Dìu, Sán Chay và Hoa. Trong cuộc sống ở thôn bản, người Ngái thường quần tụ thành những ngõ xóm riêng, tạo thành chòm xóm của người Ngái với các gia đình thuộc nhóm anh em thân thích. Các chòm xóm của người Ngái không có tên gọi riêng. Trước đây, xóm của người Ngái thường được các cộng đồng khác gọi bằng những tên miệt thị như Trại khách, xóm người Tàu. Họ bị xem là dân ngụ cư, có địa vị thấp hơn so với dân bản địa.

     Chính vì vậy, môi trường sinh hoạt cùng những phong tục xã hội của người Ngái luôn biến đổi và trở nên khá phức tạp. Đối với họ, việc duy trì song hành cả hai: Một là, họ phải tuân theo các tập tục truyền thống của cha ông; Hai là, họ lại phải thích nghi với môi trường xã hội mới với sự đan xen của các tộc người khác. Họ phải biến đổi để thích nghi từ hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội cho đến nếp sinh hoạt hàng ngày thể hiện trong ăn uống, trang phục, làm nhà cửa, kể cả phong tục tập quán và lối sống.

     Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung đề cập tới những phong tục, tập quán độc đáo của tộc người Ngái ở miền biển – địa bản di cư đầu tiên của người Ngái khi tới Việt Nam. Đó cũng được coi là những giá trị văn hoá “gốc” của tộc người này. Hiện nay, với số lượng dân số ít ỏi cùng với việc cư trú xen kẽ với các tộc người khác, các phong tục, tập quán này của người Ngái đang dần bị mai một, lãng quên.

3. Những nét phong tục, tập quán, tín ngưỡng tiêu biểu

     Quá trình phát triển của tộc người Ngái ở Việt Nam là một quá trình di cư, thích ứng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của Việt Nam. Trải qua thời gian, các giá trị văn hoá của người Ngái ở Việt Nam đã hình thành những bản sắc riêng – những sắc thái văn hoá ấy được phản ánh dưới góc độ nghi lễ, phong tục, tập quán.

     3.1. Phong tục và nghi lễ cưới xin

     Phần lớn người Ngái sống theo gia đình nhỏ, phụ quyền, thực hiện hôn nhân theo từng nhóm ba dòng họ. Nếu con trai dòng họ A lấy con gái dòng họ B thì con trai dòng họ B lấy con gái dòng họ C và con trai dòng họ C lấy con gái dòng họ A. Nguyên nhân là do người Ngái không có ý thức, quan niệm về tông tộc.

     Chế độ hôn nhân truyền thống của người Ngái có nhiều điều làm ta đáng chú ý. Một là chế độ anh chết thì em thế, có nghĩa là sau khi chồng chết, người vợ phải lấy em trai chồng hoặc người trong họ hàng nhà chồng. Hai là, khi con trai chết thì người con dâu, vợ của anh ta phải lấy bố chồng. Khi bà mẹ chồng biết, bỏ nhà đi chỗ khác, lúc đó bố chồng và con dâu chính thức được trở thành vợ chồng. Điều này, tương tự như tục “nối dây” (Chuê nuê) ở một số dân tộc Tây Nguyên, nhằm đảm bảo việc duy trì và bảo vệ tài sản cho gia đình nhà chồng. Lại có những phụ nữ sau khi chồng chết không được bố mẹ chồng cho phép đi bước nữa ở một nơi khác. Trong trường hợp đó, bố mẹ chồng chọn cho chị ta một người đàn ông nào đó đưa về nhà, nếu chị ta bằng lòng thì lấy làm chồng. Sau khi cưới, người đàn ông này phải cúng chồng cũ, mời thầy mo gọi là “Nam Vũ lão” để trình bày rõ với người chết lí do vì sao anh ta đến ở rể và người ta lấy tên người chồng đã chết đặt cho người đàn ông đó. Nếu người đàn bà có chồng chết không muốn xuất giá, có thể tìm lấy người yêu của mình (chung sống như vợ chồng nhưng không tiến hành cưới hỏi); không cần thông báo cho nhà chồng biết nhưng sau khi có thai, đứa con sinh ra phải thuộc quyền sở hữu của nhà chồng, còn người yêu của họ thì tuyệt đối không được biết tới sự tồn tại của đứa bé. Đây là một tập tục hôn nhân mang tính hủ tục. Hiện nay, tập tục này không còn tồn tại. Người Ngái thực hiện chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo đúng quy định của Đảng và Chính phủ.

     Gia đình nào có con trai chưa lấy vợ sẽ đặt một chậu cỏ ở đuôi thuyền, nhà nào có con gái chưa có chồng thì đặt một chậu hoa ở cuối thuyền, lấy đó làm dấu hiệu dẫn mối. Ngày cưới, hai bên cùng nhau ca hát. Nếu bên nam thắng, thì cướp người con gái về nhà mình. Khi cưới họ nhà trai đi đón dâu bằng 2 tới 3 chiếc thuyền, tuỳ thuộc vào điều kiện dòng họ nhà trai. Mỗi thuyền đều được trang trí bằng những ngôi sao từ 8 đến 12 cánh. Thuyền đón dâu sẽ bất ngờ áp vào mạn thuyền của cô dâu, việc bắt dâu thường tiến hành vào lúc 1 – 2 giờ sáng. Khi trở về đoàn thuyền trang trí thành hình người cá, khua chiêng, múa trống ăn mừng, biểu hiện niềm vui lớn lấn át đi sự hung dữ, hiểm nguy của biển cả.

     Sau khi cô dâu được cướp về, lễ cưới được tiến hành ở nhà trai. Sáng hôm sau, cô dâu ra mắt trình diện gia đình chồng, buông xoã tóc để thề ăn ở chung thuỷ với chồng suốt đời. Buổi trưa, cô dâu được đội “Cay vày” và mặc váy hoa. “Cay Vày” gồm có hai phần: Phần đội đầu là hình chiếc mũ chóp bằng, có hình ngôi sao 12 cánh ở đỉnh; Phần dưới đeo chuỗi hạt, phía trước dài quá ngược, phía sau dài đến thắt lưng. Hai ngày sau khi cưới, cô dâu và chú rể trở về nhà cô dâu, làm lễ vái tạ ơn cha mẹ vợ. Cha mẹ vợ làm cỗ đãi con gái, con rể. Tám ngày sau, nhà gái lại cho đem lễ cho con gái, con rể và họ hàng của người con rể. Người ta gọi đó là “Hà Huê”, thường thì nhà gái mang cho con rể, con gái mình và họ hàng nhà trai mỗi người một đôi giày. Sau khi cưới 15 ngày, cô dâu đội “Chuy chủi” và mặc váy đen, với ý nghĩa để tang con lợn đã cứu mình (người Ngái quan niệm, mỗi người con gái khi sinh ra sẽ có một con lợn thế mạng cho cô gái ấy có thể sống khoẻ mạnh trên trần gian). “Chuy chủi” phải đội tới khi có con đầu lòng mới thôi. Ngoài những nét khác biệt nêu trên, những nghi lễ chung của người Ngái phần lớn giống với người Hoa [6].

     3.2. Phong tục và nghi lễ sinh đẻ

     Người phụ nữ Ngái khi đang mang thai không được ăn ốc, thịt rắn, bò, dê, chó vì sợ ảnh hưởng tới màu da của đứa trẻ sau này. Khi người mẹ có mang phải kiêng kị không được vào nhà mới; không được bước qua thừng trâu; không được may hay mua sắm quần áo, mũ mới.

     Khi mũi thuyền của người Ngái ở miền biển (người Đản) treo mảnh lưới là sinh con trai, treo mảnh vải buồm là sinh con gái. Khi con dâu đẻ, mẹ chồng sắm một con gà, 2 bát gừng (1 bát gừng chín, 1 bát gừng tươi),1 bát trứng gà nấu với đỗ đen mang sang nhà thông gia. Gừng thái lát, nếu lát gừng để úp có nghĩa là sinh con trai, lát gừng để nghiêng là sinh con gái. Vì thế gia đình ông bà ngoại chỉ cần nhìn vào bát gừng là biết sinh con gái hay sinh con trai.

     Trẻ sơ sinh trai, sau 12 ngày phải đốt ngải cứu (sập nhịp chiu sổ), còn bé gái là 7 ngày. Vào buổi sáng, ngày đầu tháng người mẹ phải uống 3 bát nước lã để tránh cho con bệnh tiêu chảy. Khi nàng dâu sinh con đầu lòng, mẹ chồng mua một con gà, một bát trứng gà trộn với đậu đen với hai bát gừng: một bát gừng sống và một bát gừng chín. Người Ngái quan niệm rượu gừng tốt cho sản phụ. Đối với cuống rốn của trẻ sơ sinh và nhau thai, người Ngái có phong tục cho vào một ống tre chôn ở phía sau nhà. Người ta sợ nếu cuống rốn của trẻ bị kiến ăn hoặc mối xông khi rốn trẻ chưa rụng thì đứa trẻ sẽ bị ốm. Cũng giống như phong tục của nhiều tộc người khác, người ta cũng kiêng không cho khách đến thăm sản phụ và trẻ sơ sinh. Người ta thường cắm một cành lá xanh trước cửa để thông báo cho khách biết là gia đình có người ở cữ để tránh vào nhà. Người mẹ mới sinh không được ra khỏi nhà vào các ngày 41, 51, 61. Người mẹ chỉ được về bên ngoại khi con đầu lòng được 60 ngày, còn các con thứ thì sau 40 ngày.

     3.3. Phong tục và nghi lễ tang ma

     Ngư dân Đản (người Ngái ở miền biển) rất sợ nhìn thấy người chết. Vì vậy, khi thuyền có tang phải đỗ cách xa những thuyền khác. Thuyền nào có người chết, người nhà phải tự lo liệu. Người chết được buộc vào ván thuyền hoặc cột buồm thả xuống biển. Gần đây, gia đình người chết đã mua quan tài, thuê người chôn cất trên đất liền. Dù là địa táng hay thuỷ táng, thì đám ma của người Ngái luôn mời thầy đồng về cúng linh hồn người quá cố. Khi cúng, tuần thứ 3 cúng 1 ngày, 1 đêm; tuần thứ 5 cúng 1 ngày nhiều đêm (tuỳ thuộc vào điều kiện từng gia đình), tuần 6 người tiến hành cúng phải là cháu trai, tuần 7 lễ vật cúng bắt buộc phải có muối, tuần 8 con gái đi xuất giá về cúng cha mẹ, tuần 9 cháu gái bên ngoại cúng, tuần 10 con trai cúng. Sau 120 ngày làm lễ đoạn tang, các anh em trai, cháu trai cho các chị em gái và cháu gái 9 cái bát, 9 đôi đũa, 2 đôi đèn, 4 bó rau cải. Cách thức tổ chức cúng linh hồn cha mẹ lại một lần nữa biểu hiện sự liên minh của ba dòng họ trong tổ chức gia đình của người Ngái.

     3.4. Tín ngưỡng dân gian

     Trong hàng loạt các thế lực siêu nhiên, người Đản tin sùng “Long Thần Thiên Công” và “Xà Thần”, đó cũng là điều dễ hiểu đối với cư dân miền sông nước. Họ có nhiều truyền thuyết nói về rồng và rắn. Trong miếu thờ các vùng cửa biển luôn có tượng thần rồng, thần rắn.

     Người Ngái chia các vị thần của họ ra thành “Thần chính” và “Thần hèn”, còn quỷ chia ra thành”Quỷ nhà” và “Quỷ hoang”. Nếu thần có nơi thờ tự (đền, miếu) thì gọi là Thần chính, còn không có nơi thờ thì gọi là Thần hèn. Trong quỷ, quỷ nào có thể trở về nhà thì gọi là Quỷ nhà, còn Quỷ không có nhà cửa trở về thì gọi là Quỷ hoang (Dã Quỷ). Trong các quỷ, thần kể trên thì Thuỷ Quỷ là thứ quỷ thần chỉ có ở tín ngưỡng dân gian của người Ngái.

     Trong cộng đồng người Ngái, có người được gọi là “Tinh Bà” làm nghề xem bói, chữa bệnh. Số người làm “Tinh Bà” này khá đông, có người sống dưới thuyền, có người sống trên núi. Những người làm thầy cúng trong đám ma, chuyên nghề cúng bái, cầu đảo được gọi là “Nam Vu lão”. “Nam Vu lão” và “Tinh Bà” là những người có địa vị cao trong cộng đồng người Ngái. Bởi cư dân Ngái rất tin vào thuyết số mệnh và thuật phong thuỷ [5].

     Vào ngày tết cổ truyền, người Ngái có một loại bánh không thể thiếu được, đó là Bánh thần rồng (Sìn Lồng). Loại bánh này khi cho bột vào nồi phải kiêng không được cho người lạ, phụ nữ mang thai, người đang ở cữ, người có tang nhìn thấy. Nếu bột không chín (giống như cơm bị khê), phải dùng một chiếc đinh được nung nóng cắm vào nồi bột, để thêm miếng gừng rồi dùng giấm rẩy lên, đậy vung, hấp lại. Nếu bột vẫn không chín, người Ngái cho rằng đó là dấu hiệu của gia đình sắp có tang, phải mời “Nam Vu lão”về cúng và quăng nồi bột xuống biển hoặc thuê người chôn trên đất liền, một cách thay cho sinh mạng người trong nhà. Trong khi bánh Sìn Lồng nấu bị cháy thì phải vất ngay xuống biển, vì người Ngái tin rằng đó là điềm báo năm đó trong thuyền sẽ có người chết.

4. Mỗi cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử đã hình thành nên những phong tục tập quán và nghi lễ với dấu ấn văn hoá tộc người đậm nét. Phong tục, tập quán, tín ngưỡng,… của các tộc người nói chung và của người Ngái nói riêng là sự thể hiện triết lí nhân sinh quan, vũ trụ quan trong nhận thức của tộc người đó, xuất phát từ môi trường tự nhiên nơi họ cư trú. Mỗi tộc người triển khai tập tục, nghi lễ ở các mức độ khác nhau nhưng đều tạo nên những giá trị văn hoá mang tính hệ thống sâu sắc.

     Về bản chất, văn hoá Việt Nam thuộc loại liên văn hoá, nó là sản phẩm của quá trình giao lưu ảnh hưởng qua lại lâu dài giữa các tộc người, các nhóm cư dân trong một quốc gia. Chính vì vậy, việc lưu giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá tộc người (phong tục, tập quán, tín ngưỡng,…) cũng chính là góp phần xây dựng một nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại mới, trước quy luật của toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Đồng thời, giải quyết tốt câu chuyện về “Chiếc Lexus và cây Ôliu” khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng cùng thế giới, định hình riêng cho mình một “thương hiệu” trên bản đồ văn hoá thế giới.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Báo cáo điều tra dân số và nhà ở năm 1999, Tổng cục Thống kê Việt Nam, Hà Nội, 2009.

2. Báo cáo điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam, Hà Nội, 2009.

3. Việt Bằng, Người Hoa, Ngái ở Việt Nam và âm mưu của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, Dân tộc học, Hà Nội, 1979.

4. Nguyễn Trúc Bình, Về tộc danh Đản và Sín trong nhóm Hoa ở vùng ven biển Quảng Ninh, Thông báo Dân tộc học, số 1, Hà Nội, 1998.

5. Bức tranh Văn hoá các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001.

6. Phạm Thị Cảnh, Tư liệu điền dã tộc người Ngái tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên, 2014.

7. Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

8. Mai Ngọc Chừ, Văn hoá Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999.

9. Châu Thị Hải, Khách Gia – Cộng đồng Khách Gia bước đầu nhận diện, Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội, 2007.

10. Phan Đăng Nhật, Quan hệ tương tác về văn hoá phi vật thể giữa văn hoá các tộc người anh em và văn hoá người Việt, Di sản Văn hoá, số 4, Hà Nội, 2005.

11. Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001.

12. Đặng Nghiêm Vạn, Cộng đồng quốc gia Dân tộc Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2003.

PHẠM THỊ CẢNH 1

_________
1. Đại học Đông Hoa, Đài Loan.