TẬP QUÁN SINH ĐẺ và NUÔI TRẺ SƠ SINH của NGƯỜI THÁI (Nghiên cứu trường hợp Bản Yên, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá)

1. Đôi nét về địa bàn nghiên cứu

     Quan Sơn là huyện miền núi cao ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, có 64km đường biên giới giáp với hai huyện Viêng Xay và Sầm Tớ của tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào. Trên địa bàn huyện hiện có 4 dân tộc anh em Thái, Mường, Hmông và Kinh chung sống. Trong đó, người Thái có lịch sử cư trú lâu đời nhất và có dân số đông nhất gồm 29.446 người, chiếm 81,14% tổng dân số của toàn huyện. Bản Yên thuộc xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tính đến ngày 30/12/2012, dân cư trong bản gồm 110 hộ, 562 người, có 3 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái có 101 hộ, 523 người chiếm 94%, còn lại là dân tộc Mường và dân tộc Kinh.

     Xét về mặt lịch sử, người Thái ở Thanh Hoá nói chung và người Thái ở Bản Yên – Mường Mìn nói riêng được hình thành và bổ sung từ các nguồn khác nhau (Lê Sĩ Giáo, 1995). Trong lời bài cúng thần ruộng của bản có đoạn: “Tạo Mường Mộc mà tóng cộc phách tấp tó lạu ệt nà. Tạo Mường Xo, Mường Lò mà tắm pến tạng, pục pến khằn, khụt pến hới…” (Tạm dịch: Ông Mường Mộc về đào bụi lách to như chòi lúa làm ruộng. Ông Mường Xo, Mường Lò về móc thành rãnh, đắp thành bờ, đào thành thửa,…) (Mai Hồng Hải, 2012, tr. 5). Như vậy, những người khai khẩn ruộng nước Bản Yên xưa là từ Mường Mộc, Mường Xo, Mường Lò các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lai Châu. Người Thái ở Bản Yên có nền văn hoá dân gian rất phong phú và đa dạng, trong đó tập quán sinh đẻ và nuôi con hàm chứa tri thức tộc người, giá trị giáo dục nhân văn sâu sắc.

2. Tri thức dân gian trong sinh đẻ và nuôi trẻ sơ sinh

     2.1. Tập quán kiêng kị trong thời gian mang thai và khi sinh

     Cũng như các tộc người khác, người Thái coi thời kì thai nghén của phụ nữ là hết sức quan trọng. Vui mừng nhưng cũng rất lo lắng, họ ví người phụ nữ đến kì sinh đẻ giống như ống máu treo cổ (bẳng lượt khen có). Vì vậy cần phải được quan tâm chăm sóc đặc biệt để dưỡng thai. Ngoài ra còn phải kiêng kị những việc sau:

     –  Kiêng đào hầm, đào hố, mương rãnh, vì sợ nếu không may hầm, hố, mương rãnh sụt lở,… như thế đứa trẻ sinh ra sẽ bị dị dạng, quái thai, sứt môi,…

     –  Kiêng sát sinh (bấu khả xắt khả xính), như không cắt tiết gà, chọc tiết lợn,… Nhất là kiêng giết rắn vì sợ đứa trẻ sinh ra sẽ bị tật thè lưỡi, hoặc bị thọt chân.

     –  Trong thời kì mang thai không được đến thăm người đẻ chưa được đầy tháng vì sợ dẫm phải “dây tia sữa của bà đẻ”, v.v.

    Theo tập quán, phụ nữ chuẩn bị đẻ (trở dạ) sẽ được gia đình chuyển đến ở gian bếp, việc sinh đẻ được thực hiện ngay ở gian bếp này. Người Thái ở đây giải thích rằng, họ kiêng đẻ ở nhà trên vì sợ máu bẩn làm ô uế bàn thờ tổ tiên, sẽ gây điều xấu cho gia đình. Mặt khác, việc sinh ngay cạnh bếp lửa sẽ giúp cho sản phụ cũng như đứa trẻ được sưởi ấm ngay sau cuộc vượt cạn. Nhưng quan trọng nhất, theo quan niệm của người Thái, lửa sẽ xua đuổi ma quỷ đến làm hại sinh linh bé nhỏ vừa ra đời và tẩy khử uế khí.

     Khi đẻ, sản phụ quỳ gối xuống sàn, hai tay vịn dây được buộc từ xà nhà bếp hoặc ôm cột nhà bếp để giữ thăng bằng và làm điểm tựa để rặn đẻ cho đỡ mất sức. Chồng đứng đằng sau vợ, hai tay xốc nách ôm đỡ lấy vợ cho đến khi vợ đẻ xong. Cùng với người chồng và người nhà trong gia đình họ tộc, lúc đẻ còn có bà đỡ đẻ và bà đón trẻ. Bà đỡ là người có kinh nghiệm, uy tín trong việc đỡ đẻ. Bà đón trẻ (me hặp) là người hoạt bát, thông minh, có lòng hiếu thảo, tính tình vui vẻ, chăm chỉ,… để mong muốn đứa trẻ sau này lớn lên cũng có những đức tính tốt đẹp như vậy.

     2.2. Tập quán chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh

     2.2.1. Tập quán chăm sóc sản phụ

     Mỗi dịp trong nhà có người sắp đẻ, người nhà kê sạp trải đệm, chuẩn bị gối kê đầu, chăn đắp và những đồ dùng cá nhân khác. Chồng không phải làm gì ngoài việc chăm lo củi lửa, đồ ăn thức uống, đun nước thuốc cho vợ tắm. Sau khi đẻ xong, sản phụ được dìu đến ngồi cạnh bếp lửa và uống nước lá thuốc “phang” để chóng lại sức. Việc ngồi hơ lửa sẽ có tác dụng làm cho máu bẩn dồn xuống và ra hết, như thế mới mau “sạch người”. Người Thái cho rằng, nếu để sản phụ vào nằm ngay thì máu sẽ dồn lên phía đầu, sẽ đau đầu, máu bẩn sẽ lâu sạch và có hại cho sức khoẻ.

     Sản phụ chủ yếu ngồi ghế mây (tắng căm bươn), trên mặt ghế lót váy cũ, dưới gầm ghế ủ than nóng, lá thuốc phủ lên trên than để hơi thuốc bốc lên tỏa vào người sản phụ. Ngồi mỏi lại vào nằm, nhưng dù nằm hay ngồi vẫn phải quay lưng để hơ lửa, sưởi cho ấm đều khắp người, kết hợp xông lá thuốc và uống nước lá thuốc để khí huyết lưu thông, nhanh chóng bình phục sức khoẻ. Trong vòng một tháng kể từ ngày đẻ, sản phụ phải quấn khăn lên đầu cho ấm và lấy khăn thắt bụng, bởi vì trong quá trình mang thai bụng bị giãn ra hết mức, do vậy lấy khăn thắt bụng có tác dụng làm cho da bụng nhanh chóng co lại trạng thái ban đầu. Chính vì vậy mà sau kì sinh nở, thân hình phụ nữ Thái vẫn thon thả, ít xồ xề.

      Trong một vài ngày đầu sau khi đẻ sản phụ chủ yếu ăn cơm lam với muối và uống thuốc lá nam. Đến ngày thứ ba sản phụ mới được ăn thêm xôi nếp (khẩu nửng). Thức ăn của sản phụ chủ yếu là rau rừng, vả, sung, rau ngót, rau mần trầu và tất cả các loại rau có hoa màu trắng, vì những loại rau này có tác dụng giải nhiệt, không hại bụng, lại cho nhiều sữa.

     Tháng sản phụ ở cữ còn gọi là “bươn pháy” (tháng lửa) hay “cắm bươn” (tháng kiêng). Theo tập quán, sản phụ phải kiêng một số việc như sau:

     –  Không được đi lại phía gian có bàn thờ, chỉ được đi lại và sinh hoạt từ phạm vi gian ở cữ hất về phía gian ngoài phơi phóng (chan).

     –  Sản phụ không đến nhà người khác, kể cả nhà bố mẹ đẻ, anh chị em ruột thịt; không được sinh hoạt chung với gia đình mà phải ăn uống riêng, dùng ghế riêng, chậu giặt riêng, sào phơi tã lót và váy áo riêng.

     –  Sản phụ đang ở cữ phải đứng ngồi và đi lại nhẹ nhàng vì cơ thể lúc mới đẻ còn rất yếu, không cẩn thận sẽ bị sa dạ con. Không được vận động mạnh vì dễ bị băng huyết, v.v.

     Những người ngoài gia đình khi đến nhà phải kiêng không được đi qua nơi sản phụ ngồi sưởi. Nếu ai không biết mà phạm phải điều kiêng kị này sẽ làm cho đứa trẻ khóc hờn không chịu bú.

    2.2.2. Tập quán chăm sóc trẻ sơ sinh

     Ngay sau khi đứa bé lọt lòng, bà đỡ phải nhanh tay cắt rốn cho bé. Cắt rốn xong, bà đỡ lấy nước ấm lau cho trẻ sạch sẽ rồi mới chuyền tay cho bà đón trẻ (me hặp) quấn tã cẩn thận rồi đặt bé nằm vào một cái mẹt để cạnh cửa phía “chán. Việc đặt cho trẻ nằm vào mẹt có ý nghĩa mong cho đứa trẻ sẽ mau khôn lớn, thọ mãi đến già, lưng cong như “cái mẹt” giống như các cụ ông, cụ bà. Lúc đặt bé, phải để đầu bé nằm quay ra hướng ngoài cửa, chân quay vào trong nhà. Đặt bé nằm như vậy với mục đích để đợi rau thai trong bụng mẹ ra hết. Mặt khác là để ma nhà (tổ tiên) nhận biết phù hộ cho người mẹ thoát khỏi mọi tai ương.

       Lúc đứa trẻ được đưa vào nằm cạnh mẹ bên bếp lửa, bà nội đọc to bài bùa mang tính chất giáo huấn, dạy bảo con cháu những điều hay lẽ phải và đạo đức làm người để sau này lớn lên trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với bé trai, bà đọc to bài bùa dạy cháu phải biết lo việc lớn, làm những việc của đàn ông và làm sao cho được bằng anh bằng em. Còn với bé gái thì bà đọc một bài bùa dạy cháu gái phải biết lo toan những công việc của người phụ nữ và yêu lao động.

      Người Thái thường sử dụng các loại lá thuốc nam có sẵn trong rừng đun sôi để nguội dùng để gội đầu cho trẻ. Trong lúc tắm gội cho con, bà mẹ bao giờ cũng đọc bài ca có nội dung gạt bỏ những điều xấu, mong cho con mau lớn khôn. Tắm gội xong, mẹ lấy tã lót quấn cho bé rồi lấy lược chải đầu, vừa chải vừa hát cho bé nghe những bài hát ru quen thuộc của dân tộc mình.

     Đánh dấu đỏ bằng nước trầu vào trán trẻ là một tập quán của người Thái ở Bản Yên. Việc đánh dấu đỏ vào trán đứa trẻ có ý nghĩa thể hiện cái phúc của hai vợ chồng, đồng thời để ghi nhớ ngày sinh con vất vả và một tháng ở cữ bên bếp lửa (bươn pháy). Ngoài ra, đánh dấu vào trán trẻ để ánh lên hào quang, hi vọng sau này lớn lên sẽ có nhiều người để ý đến (Mai Hồng Hải, 2014.)

     Những tập quán trên cho thấy, người Thái ở Bản Yên tích luỹ được vốn tri thức dân gian phong phú trong việc dưỡng thai cũng như bảo vệ sức khoẻ sinh sản cho bà mẹ và trẻ em. Ngoài ra còn có một số tín ngưỡng, kiêng kị,… với mong muốn bảo vệ và giáo dục con trẻ làm người có ích cho gia đình và xã hội. Đây là tư tưởng giáo dục truyền thống có giá trị nhân văn sâu sắc.

3. Một số lễ tục chính liên quan đến sinh đẻ và nuôi trẻ sơ sinh

     3.1. Tục cắm ta leo

     Từ lúc gia đình có người sinh nở, người Thái cắm ta leo. Thường có 2 loại ta leo. Loại thứ nhất là ta leo một lớp cài thêm lá từ bi. Sở dĩ dùng cây từ bi để buộc vào ta leo vì đồng bào quan niệm cây từ bi khiến các ma (phi) rất nể sợ. Ta leo được cắm vào cầu thang phía “chán” nhằm xua đuổi, ngăn chặn không cho ma quỷ và vía khách lạ vào quấy rối và làm hại đến sản phụ và đứa trẻ. Loại ta leo thứ hai là ta leo cẩu chặn (9 lớp) cài lá từ bi buộc thêm tờ giấy, cái bút, vải vụn xanh đỏ, kim chỉ thành một chùm rồi cắm vào phía trên chỗ sản phụ ngồi hơ lửa. Ta leo này dùng để chặn ma quỷ, còn sách bút, kim chỉ, vải vụn xanh đỏ để cầu mong cho con cái thông minh, giỏi giang mọi công việc: “Là con gái phải thông thạo dệt cửi thêu thùa; Là con trai viết chữ vào bàn tay nắm chặt”.

     3.2. Lễ rời bếp lửa (nhá pháy)

     Sau khi sinh 4, 5 ngày sản phụ mới được rời bếp lửa (nhá pháy). Người Thái quan niệm chỗ nào cũng có thần linh cai quản và phù trợ cho mình, do vậy trước khi rời bếp lửa, phải làm mâm lễ nhỏ để tạ ơn nơi mình vừa ở. Gia đình mời thầy mo đến làm lễ. Lễ vật gồm có một đĩa rau, một ống nước thuốc, một ống cơm lam cho vào mâm đặt xuống góc bếp làm lễ. Nội dung bài khấn có đoạn: Bây giờ ta không kiêng được nữa. Bốn năm ngày ta sẽ lên ngủ trên gác trên sạp. Bây giờ ta có mâm lễ nhỏ đến biếu. Ăn xong hãy phù hộ cho bé luôn ngủ ngon nơi gối, luôn ngủ say nơi đệm, đừng phật ý giận hờn. Làm lễ xong thì đổ cả mâm xuống sàn bếp, quét dọn bếp lửa sạch sẽ, phơi đệm, giặt chăn, chuyển chỗ cho sản phụ lên nằm ở gian buồng cũ.

     3.3. Lễ cúng vía võng, vía địu

     Võng và địu gắn liền với tuổi thơ của mỗi người Thái. Song, trước lúc cho bé tiếp xúc với võng, với địu (nơi mới lạ chưa quen), người Thái thường cúng vía võng, vía địu nhằm cầu mong sự tốt lành để bé khoẻ, bé ngoan, không khóc, không hờn, không giật mình. Khi làm lễ người ta đặt cái địu và em bé nằm vào trong võng. Lễ vật gồm một nắm xôi, một quả trứng gà luộc bóc vỏ, một con cá nướng, tất cả cho vào một cái mâm con đặt cạnh võng làm lễ. Bài ca xướng lễ có nội dung: Bé nhỏ mới sinh, trai nhỏ mới lọt. Bé vừa được ngày cữ qua đi đưa bé vào nằm võng. Dây võng chắc đu đưa cho bé ngủ đừng để bé rơi rừng gianh rừng già. Để người ở mường ở bản cùng biết cùng hay.

     3.4. Lễ cúng ma nhà (peng phi hướn)

     Người Thái ở Mường Mìn quan niệm đây là lễ tạ lỗi với tổ tiên, vì thời gian qua trong gia đình đã xảy ra những chuyện bất thường làm ồn ào ảnh hưởng đến tổ tiên, nay con cháu sắm mâm lễ tạ lỗi, sửa lại những gì gọi là mắc phải điều kiêng kị. Đây là nghi lễ có quy mô vừa phải và đơn giản, lễ vật gồm có một con lợn luộc (khoảng 7-10kg), một chai rượu, đĩa trầu cau, hai gói xôi và ít hoa quả. Mâm lễ được dâng lên nơi thờ tổ tiên “cọ lọ hoóng” và mời thầy mo xướng lễ. Đoạn đầu bài xướng nội dung như sau: Ba mươi đẳm nhà lớn cùng sáu mươi đẳm nhà chung, đẳm cụ kị, ông bà nhiều người. Chú thím, anh em cả những người bị liệt, bị què cũng xuống. Đi nương gọi nhau về, đi ruộng gọi nhau đến,…

   3.5. Lễ cúng vía cho trẻ nhỏ (tám khuân nọi)

     Khuân nọi là chỉ hồn của trẻ sơ sinh. Hồn trẻ sơ sinh chỉ được ăn trứng, chưa được hưởng lễ gà lợn. Lễ vật để cúng vía nhỏ cho trẻ đơn giản, chỉ một quả trứng gà luộc chín bóc vỏ, một gói xôi, một con cá nướng. Tất cả cho vào một cái mâm nhỏ đặt xuống cạnh đứa trẻ cho thầy mo cúng: Bé nhỏ mới sinh. Trai (gái) nhỏ mới được. Báo lên hồn chỏm đầu làm chủ. Hồn nhỏ tóp tép bú sữa, đã được đánh dấu giang dắt không phai.

     3.6. Lễ đặt tên

     Theo tập quán của người Thái ở Mường Mìn, tên của đứa trẻ thường do bố mẹ, ông bà, cô bác quyết định và đặt khi vừa sinh ra. Đối với những đứa trẻ khó nuôi thì thường được gọi với các tên thật xấu xí như: Khỏ, Khôm, Hít, Hây, Pê, Pa,… Tên này gọi là “Chư Nọi” (tên nhỏ) dùng để gọi hằng ngày trong gia đình. Ngoài ra, người Thái quan niệm rằng, mỗi một con người đều do các “me Bẩu me Náng” nặn ra và ban xuống, hơn nữa đứa trẻ tuy là con mình nhưng lại là cháu của các cụ, kị, tổ tiên. Để tỏ lòng biết ơn, kính trọng bề trên, cầu mong đứa trẻ lớn khôn khoẻ mạnh, gia đình mời thầy mo đến làm lễ xin me Bẩu me Náng, tổ tiên và các then trên trời ban cho đứa trẻ cái tên và tên đó gọi là “Chư Một. Tên này dùng khi cúng, cầu hồn, cầu phúc, cầu sức khoẻ, cầu cho con cái thành đạt hạnh phúc.

     Để mừng đứa cháu ngoại ra đời, nhân dịp lễ đặt tên, ông bà ngoại tặng quà cho cháu vòng vía, địu, vải trắng (làm tã cho trẻ). Thầy mo và mọi người trong gia đình lấy chỉ trắng thay vàng, chỉ đen thay ngọc buộc cổ tay chúc phúc cho bé, buộc hồn vía bé luôn gắn với thể xác và tên tuổi của mình (Mai Hồng Hải, 2014).

      Ngoài các nghi lễ trên, người Thái ở Bản Yên còn có một số nghi lễ khác liên quan đến sinh đẻ như Lễ tụ hồn cho sản phụ (xú khuân), Lễ nơi sản phụ đẻ,…

      Nhìn chung, kể từ khi đứa trẻ lọt lòng mẹ cho đến 1 tháng tuổi, người Thái tổ chức gần chục nghi lễ với mục đích cầu mong cho mẹ con sản phụ được bình an và mạnh khoẻ.

4. Kết luận

     Trong tập quán sinh đẻ và nuôi trẻ sơ sinh của người Thái ở Bản Yên – Mường Mìn lưu giữ những giá trị tri thức tộc người. Đó là những kinh nghiệm dân gian liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sản phụ và trẻ sơ sinh. Trong vốn tri thức này cũng có những phần đã lạc hậu và bị cuộc sống vượt qua, nhưng cũng có rất nhiều nội dung còn rất hữu ích cho cuộc sống hôm nay cần được khai thác và phát huy. Chẳng hạn như một số tập quán kiêng kị trong thời gian mang thai, tập quán chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh,… là có cơ sở khoa học. Bên cạnh đó, người Thái còn có những lễ tục và kiêng kị liên quan đến sinh đẻ. Những lễ tục và kiêng kị này chính là một phần quan trọng trong đời sống tôn giáo – tín ngưỡng, chứa đựng những yếu tố tâm linh. Thoáng qua tưởng là những điều mê tín, nhưng nếu đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử và văn hoá – xã hội nhất định sẽ thấy được cơ sở tồn tại. Có nhiều yếu tố thuộc về tâm linh ngoài những khía cạnh tiêu cực cũng có nhiều yếu tố tích cực, nhiều tư tưởng nhân văn tốt đẹp không chỉ có ý nghĩa trong xã hội truyền thống mà ngay cả trong đời sống xã hội hiện đại. Điều đó thể hiện rất rõ trong nội dung vấn đề này.

     Những lễ tục trong sinh đẻ và nuôi trẻ sơ sinh của người Thái ở Bản Yên – Mường Mìn còn thể hiện tính nhân văn và ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Đó là giáo dục lòng biết ơn đối với tổ tiên, với những người có công, thậm chí với cả những vật vô tri vô giác. Ngoài ra, những lễ tục này còn thể hiện trách nhiệm của gia đình và cộng đồng đối với thế hệ tương lai, đó là cầu mong cho mẹ con sản phụ mạnh khoẻ, mong mỏi và kì vọng mọi điều tốt đẹp sẽ đến với cuộc đời đứa trẻ, v.v. Những phong tục tập quán, những truyền thống văn hoá tốt đẹp này cần được gìn giữ và phát huy trong đời sống xã hội hiện đại nhằm phát triển cân đối, hài hoà nền văn hoá Thái nói riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Vương Anh, Tiếp cận với văn hoá bản Thái xứ Thanh, Sở Văn hoá – Thông tin Thanh Hoá, 2001.

2. Hoàng Thị Cành – Đoàn Lư, Tri thức dân gian trong một số phong tục tập quán chăm sóc trẻ sơ sinh và phụ nữ thời kì sinh nở của người Tày Cao Bằng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.

3. Lê Sỹ Giáo, Lần tìm nguồn gốc lịch sử người Thái Thanh Hoá, Dân tộc học, số 2, 1995, tr.13-16.

4. Vũ Trường Giang, Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hoá, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2009.

5. Mai Hồng Hải, Kiến trúc nhà cổ truyền của người Thái ở Thanh Hoá trong sự so sánh với người Thái ở Tây Bắc, Dân tộc học, số 1, 2012.

6. Mai Hồng Hải (chủ nhiệm đề tài), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài: Vai trò của tri thức bản địa trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh ở cộng đồng dân tộc các xã biên giới tỉnh Thanh Hoá, Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hoá, 2014.

MAI VĂN TÙNG 1

___________
1. TS, Đại học Hồng Đức, TP Thanh Hoá.