Các hình thái của tín ngưỡng thờ Mẫu – Hệ thống thánh thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Tác giả: Tiến sĩ VŨ HỒNG VẬN, Tiến sĩ PHẠM DUY HOÀNG

     Ở giai đoạn đầu của quá trình du nhập văn hóa ngoại lai, đặc biệt là Nho giáo, những hình tượng phụ nữ được coi là có sức mạnh huyền bí đó chưa có mối dây liên hệ, ràng buộc nhau. Hay nói khác đi, các Mẫu Việt Nam chưa tạo thành một phả hệ, hệ thống chính quyền như cuộc sống thế tục. Khi Đạo giáo vào Việt Nam, đặc biệt cả một phả hệ thần tiên được quảng bá, gặp ngay nhu cầu cần thiết thể chế hóa, cấu trúc lại “thiên đình” của Mẫu, tín ngưỡng thờ Mẫu đã nhanh chóng tiếp thu để hình thành nên một “thiên đình” riêng của mình.

     Như vậy, “việc thờ Mẫu chính là nơi Đạo giáo biểu lộ ảnh hưởng nhiều nhất. Có thể nói đây là biểu hiện của Đạo giáo Việt Nam, thành một tôn giáo với học thuyết, một tăng đoàn và một quần chúng(1).” Nhưng, tục thờ Mẫu của người Việt vẫn không thể là một tôn giáo, bởi vì, trên thực tế hệ thống thờ Mẫu Việt Nam vẫn phân tán, thiếu một giáo chủ và giáo hội. Người ta chỉ có thể coi tục thờ Mẫu của người Việt là một tín ngưỡng dân gian mà thôi.

     Thiên đình Mẫu Việt Nam thể hiện đúng một đặc điểm trong tâm thức người Việt là tính bao dung, sự ấm áp, che chở của bà mẹ với những người con thân yêu của mình. Nó chấp nhận mọi tôn giáo, mọi xu hướng, mọi huyền thoại, miễn sao không đi trái lại với tâm thức đó của người Việt.

     Xét về hệ thống Phật trong Phật giáo, có đủ các Đức Phật: Đức Thích Ca (Đức Phật Mười Phương), Quan Âm Bồ Tát, các vị La Hán…

     Trong số các vị thần của Đạo giáo Trung Hoa có Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đế Thích, Thiên binh, Thiên tướng, trong đó Ngọc Hoàng Thượng Đế đứng đầu cai quản miền trời. Nhạc ngũ thần vương là năm ông vua cai quản năm ngọn núi nổi tiếng nhất Trung Quốc (Nga My, Hoa Sơn, Ly Sơn, Thái Sơn, Côn Lôn).

     Trong thực tế, các vị thần cai quản thiên đình của Mẫu lại hoàn toàn khác. Nếu như thiên đình Đạo giáo chỉ thấy toàn là đàn ông, từ người đứng đầu đến những người thực hiện những chức trách khác nhau cũng chỉ là đàn ông, thì thiên đình của Mẫu Việt Nam lại do người phụ nữ làm chủ. Nếu Đạo giáo Trung Hoa là thế giới của triều đình quân chủ, thì thiên đình của Mẫu Việt Nam là thế giới của gia đình. Cái nhìn của nhân dân đối với thiên đình đó là cái nhìn của con cái đối với những người mẹ của mình, họ là các bà mẹ – các Thánh Mẫu. Ở đây, những người con đã tìm thấy sự che chở của những bà mẹ.

     Các vị thần trong thiên đình Mẫu phản ánh các phẩm chất khác nhau của một người mẹ, vừa thần thánh lại vừa con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết, nó quan tâm đến cuộc sống hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ trên trần gian.

     Có thể nói, đối với người Việt: “Họ đã khái niệm hóa thành công một tín ngưỡng hết sức đa dạng, đồng thời lại tích hợp được nhiều tín ngưỡng khác theo bốn yêu cầu của tâm thức dân tộc trong tình thương của người mẹ. Nó là sự Trung Hoa hóa về hình thức việc thờ nữ thần, là sự nhân cách hóa bốn lực lượng tự nhiên quyết định đời sống của cư dân nông nghiệp: trời, nước, cây, đất. Người ta gọi là thờ “Tứ phủ”, tức “bốn cung” dù lúc đầu chỉ có “Tam phủ”.

     Thánh Mẫu Thượng Thiên, tức bà trời cai trị Thiên phủ (miền trời), làm chủ mây, mưa, sấm, chớp, mặc đồ đỏ.

     Thánh Mẫu Thoải, Thoải là thủy nghĩa là nước, cai trị Thủy phủ (miền sông nước) làm chủ sông, biển, rất quan trọng với nghề nông, mặc đồ trắng.

     Thánh Mẫu Thượng Ngàn cai trị rừng núi, cây cối, thực vật, mặc đồ lam.

     Sau này thêm vào Thánh Mẫu thứ tư là Thánh Mẫu Địa phủ (Miền đất), cai quản đất đai, sinh vật, mặc áo vàng(2).

     Ngoài Tam phủ và Tứ phú, chúng ta còn bắt gặp một hệ thống thánh thần của Mẫu, cụ thể:

     * Thập nhị Chầu Bà bao gồm:

1. Chầu đệ nhất hóa thân Thánh Mẫu Thượng Thiên.

2. Chầu đệ nhị hóa thân Thánh Mẫu Thượng Ngàn.

3. Chầu đệ tam hóa thân Thánh Mẫu Thoải.

4. Chầu đệ tứ khâm sai Tứ phủ.

5. Chầu ngũ thờ ở suối Lân, Lạng Sơn.

6. Chầu lục – còn gọi Tản Viên, báo mộng cho ông Lê Lợi vượt cạm bẫy của giặc.

7. Chầu bẩy thờ ở Thái Bình, mẹ nuôi ông Lê Lợi.

8. Chầu bát thờ ở Tiên La, Thái Bình.

9. Chầu cửu gọi là Cửu thiên huyền nữ ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa.

10. Chầu mười ở Mỏ Ba, Lạng Sơn.

11. Chầu ở Lào Cai.

12. Chầu ở Bắc Lệ Lạng Sơn.

     * Thập vị tôn ông bao gồm:

1. Ông Lê Lựu, diệt Liễu Thăng ở Chi Lăng.

2. Hoàng Đôi có hai có hai vị. Ông Đôi người Dao ở Cẩm Phả có công đánh giặc biển. Ông Đôi ở Lạch Trường Thanh Hóa có công khai phá đất đai.

3. Ông Hoàng Ba thờ ở đền Lềnh Hà Nam có công phò vua diệt giặc.

4. Ông Hoàng Tư ít được nhắc đến.

5. Ông Hoàng Năm ít được nhắc đến.

6. Ông Hoàng Lục cũng là tướng đánh giặc Minh ở Lạng Sơn.

7. Ông Hoàng Bẩy ở Bảo Hà, Lào Cai có công phò vua an dân.

8. Ông Hoàng Bát người Nùng ở Thái Nguyên, Bắc Cạn.

9. Ông Hoàng Chín, ông Lê Sát, một tướng của vua Lê Thái Tổ thờ ở Bến Củi Hà Tĩnh.

10. Ông Hoàng Mười, quan Tuần Tranh, là tướng Cao Lỗ của vua An Dương Vương.

     Bước vào thời kỳ phong kiến tự chủ, khi đất nước do hệ thống quan lại cai trị (chủ yếu là nam giới), thì người thừa hành mệnh lệnh các Mẫu là năm ông quan theo đúng thuyết ngũ hành, cụ thể:

1. Quan lớn đệ nhất, phái viên của Thánh Mẫu Thượng Thiên, uy tín, đẹp đẽ, áo đỏ, khăn đỏ.

2. Quan lớn đệ nhị, phái viên của Thánh Mẫu Thượng Ngàn, mặc áo lục, khăn lục.

3. Quan lớn đệ tam, phái viên của Thánh Mẫu Thoải hay cười, mặc đồ lam.

4. Quan lớn đệ tứ, phái viên của Thánh Mẫu Địa phủ, mặc đồ vàng.

5. Quan lớn đệ ngũ, gọi là quan Tuần Tranh…

     Ngoài ra, chúng ta còn bắt gặp rất nhiều sự khác nhau trong hệ thống thần tiên của Mẫu. Có thể giải thích cho sự khác nhau này rằng, trong quá trình thay đổi địa bàn cư trú, dựa vào hoàn cảnh xã hội cũng như điều kiện tự nhiên mà con người đặt chân đến, trên cơ sở ngưỡng vọng về Mẫu kết hợp với với hoàn cảnh mà người dân đặt ra hệ thống thánh thần đa dạng hơn, phù hợp với điều kiện sống mới của mình. Cụ thể, chúng ta bắt gặp các hệ thống thánh thần khác của Mẫu như:

     * Chầu Bà Ngũ hành:

Đệ nhất Chầu Bà Kim Tinh Thần Nữ.

Đệ nhị Chầu Bà Mộc Tinh Thần Nữ.

Đệ tam Chầu Bà Thủy Tinh Thần Nữ.

Đệ tứ Chầu Bà Hỏa Phong Thần Nữ.

Đệ ngũ Chầu Bà Thổ Đức Thần Nữ.

     * Thập vị Thủy Tề:

Ông Hoàng Cả (Thiên phủ). Danh hiệu: Ông Hoàng Quận/Lê Lợi.

Ông Hoàng Đôi (Nhạc phủ).

Ông Hoàng Bơ (Thoải phủ).

Ông Hoàng Đệ Tứ (Địa phủ). Danh hiệu: Ông Hoàng Khâm Sai.

Ông Hoàng Năm.

Ông Hoàng Sáu.

Ông Hoàng Bảy (Nhạc phủ). Danh hiệu: Ông Bảo Hà.

Ông Hoàng Bát (Nhạc phủ). Danh hiệu: Ông Bát Quốc, là một ông quan gốc người Hán đóng quân ở Lào Cai.

Ông Hoàng Chín (Thiên phủ). Danh hiệu: Ông Cờn Môn.

Ông Chín Thượng (Nhạc phủ).

Ông Hoàng Mười (Địa phủ). Danh hiệu: Ông Nghệ An, có công chống giặc Thanh từ bên Trung Quốc.

      * Tứ phủ Tiên Cô:

* Thiên phủ:

Cô đệ nhất Thượng Thiên (Thiên phủ).

Cô Chín Sòng Sơn (Thiên phủ).

* Nhạc phủ:

Cô đệ nhất Thượng Ngàn (Nhạc phủ).

Cô Đôi Thượng (Nhạc phủ).

Cô Đôi Cam Đường (Nhạc phủ) quê ở Đình Bảng Bắc Ninh nhưng cô hiển thánh ở Cam Đường Lào Cai.

Cô Năm Suối Lân (Nhạc phủ).

Cô Sáu Sơn Trang (Nhạc phủ).

Cô Bảy Tiên La (Nhạc phủ).

Cô Tám Đồi Chè (Nhạc phủ) ở đền Phong Mục.

Cô Chín Thượng (Nhạc phủ).

Cô Mười Đồng Mỏ (Nhạc phủ).

Cô Bé Đông Cuông (Nhạc phủ).

Cô Bé Suối Ngang (Nhạc phủ).

Cô Bé Đen (Nhạc phủ) tức là Cô Bé Sóc.

* Thoải phủ:

Cô Bơ Hàn Sơn (Thoải phủ) tức là Cô Ba Bông và Cô Ba Tây Hồ.

Cô Chín Thoải (Thoải phủ).

Cô Bé Thác Bờ (Thoải phủ).

Cô Bé Thoải (Thoải phủ).

* Địa phủ:

 Cô Tư (Địa phủ).

     * Thập Vị Triều Cậu:

Cậu Hoàng Cả (Thiên phủ).

Cậu Hoàng Đôi (Nhạc phủ).

Cậu Hoàng Bơ (Thoải phủ).

Cậu Hoàng Bé (Nhạc phủ)…

     * Quan Ngũ Hổ:

Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan.

Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan.

Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan.

Tây Phương Canh Thân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan.

Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan.

     Đề giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong hệ thống thánh thần của đạo Mẫu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng: do xã hội Việt Nam cổ xưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn, do đó, nam giới cũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờ cúng.

     Tất nhiên, có sự khác biệt trong hệ thống quan lại trong thiên đình của Mẫu, ngay cả nguồn gốc xuất thân của họ, theo các học giả cũng có sự khác nhau.

     Còn về hiện tượng Mẫu Liễu Hạnh, sự tích Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện đã hoàn thiện triết lý thờ Mẫu trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ thần của người Việt. Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân ta tôn thờ là mẫu nghi thiên hạ, được xếp vào hạng “Tứ bất tử”, sánh ngang cùng với Thánh Gióng, Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử – những nhân vật được người dân gán cho những quyền lực bất phàm, nhưng vẫn chứa đựng những yếu tố trần tục, rất Việt Nam. Cũng như nhiều tôn giáo khác, thể hiện mối quan hệ thiên – địa – nhân, như đã trình bày ở trên. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, hình ảnh “Tam tòa Thánh Mẫu” được đưa lên ngự cao nhất trong điện thờ Mẫu.

     Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu có quyền uy lớn nhất trong tín ngưỡng Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, là một nhân vật nửa có thật, nửa được nhân dân xây dựng thêm bằng những truyền thuyết gắn liền với những thời kỳ lịch sử của dân tộc. Mẫu Liễu Hạnh đã góp phần hoàn thiện tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Khác với những truyền thuyết về nữ thần và các Mẫu khác, cuộc đời trần thế của giáng tiên quá ngắn. Lúc sống nơi trần thế, là một người phụ nữ bình thường, không có công lao gì to lớn, nhưng khi chết lại trở thành thánh uy linh, làm được tất cả mọi thứ…

     Mặt khác, Mẫu Liễu Hạnh đã có được sự kết hợp ở những mức độ khác nhau với Đạo giáo, Phật giáo…

     Chúng ta biết rằng, vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong đời sống tâm linh của người dân rất đặc biệt. Không phải các Mẫu khác trong tín ngưỡng thờ Mẫu không linh ứng và cứu giúp, phù hộ cho người dân, tuy nhiên, Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân tôn thờ, ngưỡng vọng hơn bất cứ vị Thánh Mẫu nào khác và việc tôn thờ ấy từ lâu đã trở thành một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa của cả cộng đồng. Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã hội tụ đủ yếu tố thần thánh và con người, rất lý tưởng nhưng lại rất hiện thực, rất cao xa nhưng cũng rất gần gũi với con người và là hiện thân của một người phụ nữ bình thường, dân dã. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã đưa thêm Đức Thánh Trần vào hệ thống thờ thần. Đức Thánh Trần nghiễm nhiên trở thành một thần chủ ngang hàng với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Liễu, Mẫu Thoải… Có đền phủ, lập bàn thờ riêng bên phải; nơi không lập thì cầu cúng, vẫn có văn khấn, ca trầu về người.

     Ngoài Đức Thánh Trần, để tăng thêm sự thiêng liêng cho Mẫu, người dân còn thần thánh hóa một số nhân vật lịch sử như: Chầu bát là tướng của Hai Bà Trưng có công đánh giặc Mã Viện, Ông Hoàng Thất Lê Lựu có công đánh giặc Minh, Ông Hoàng Đôi ở Lạch Trường có công khai phá đất đai. Đồng thời, theo thời gian và bên cạnh đó, do quan niệm tín ngưỡng dân gian không có sự quy chuẩn nên những biểu tượng thiêng liêng khác cũng được đưa vào điện thờ Mẫu như: Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu lo về việc sinh – tử cũng được đưa vào phủ. Hoặc ở phủ Tây Hồ có cả bàn thờ Phật Bà Quan Âm. Hoặc như Bà Chúa Kho thời Lý – Trần cũng được tôn vinh là Linh Từ Thánh Mẫu thờ ở đền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh.

     Từ nguyên lý thờ Mẫu như nêu trên, huyền tích mẹ xứ sở Pô Inư Nagar của người Chăm có nhiều điểm tương đồng với Thánh Mẫu của người Việt, nên người Việt ở miền Trung đã Việt hóa mẹ xứ sở Chăm thành Thánh Mẫu Thiên Yana. Do vậy, điện Hòn Chén ở Huế được coi là tâm điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung, và có hệ thống thờ Mẫu như ở Miền Bắc. Tuy vậy, có điểm khác biệt đó là trong nội cung chánh điện, Thiên Yana được đặt ở ngôi vị trung tâm, hai bên tả – hữu là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn, còn Mẫu Liễu Hạnh lại được đặt ở hàng dưới. Từ huyền tích đến cách bài trí thờ cúng và nghi lễ cho thấy Thiên Yana là đại diện cho hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung.

     Cũng theo nguyên lý đó, khi vào đến miền Nam, trên cơ sở huyền tích, ngôi thứ và nghi lễ thì Bà Chúa Xứ ở An Giang và Bà Đen ở Tây Ninh được coi là Thánh Mẫu chủ yếu trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu ở các địa phương này.

     Tóm lại, các Mẫu trong Tam phủ, Tứ phủ là những thần linh thượng đẳng trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, có quyền năng và nhiều biến hóa. Các Mẫu ở mỗi miền, mỗi địa phương như là hóa thân của các Thánh Mẫu, đại diện của các Thánh Mẫu để giúp dân, cứu nước, phù hộ cho người dân và xua đuổi tà ma. Do sự xâm nhập và ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cho nên trong hệ thống thánh thần của tín ngưỡng thờ Mẫu có sự hiện diện của Phật Bà Quan Âm, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu… những vị được thờ cúng phù hợp với tín ngưỡng đa thần của người Việt Nam.

     Ngoài mục đích là phù hộ, cứu nhân, độ thế, tín ngưỡng thờ Mẫu còn hướng đến cái thiêng liêng cao cả, cái tốt đẹp, hạnh phúc ở cuộc sống trần gian. Xét về cả quá khứ và hiện tại, những giá trị vĩnh hằng, có tính nhân loại phổ quát đó vẫn luôn là đích hướng đến của con người. Đặc biệt, khi con người bị vướng vào những bất hạnh của trần thế, thì những giá trị tốt đẹp của cái “phi trần thế” lại là cứu cánh giúp con người vực dậy sau những khổ đau.

III. Tổ chức và Tín đồ

     Hầu hết các tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới đều có tổ chức, tín đồ và các thành phần tham gia. Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng vậy, nhưng bên cạnh những điểm tương đồng thì tín ngưỡng này cũng có những điểm dị biệt.

     * Về tổ chức

     Tín ngưỡng thờ Mẫu đã tồn tại và phát triển từ rất lâu trên đất nước ta, nhưng về tổ chức lại lỏng lẻo, không chặt chẽ. Ở đây, chỉ có niềm tin về Mẫu ở ngôi vị thượng đẳng và chư vị thánh thần mà không có kinh sách, giáo lý, giáo điều như các tôn giáo khác.

     Như vậy, rất khó để chấp nhận thờ Mẫu là một tôn giáo như rất nhiều quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra. Về người đứng đầu (giáo chủ) của tín ngưỡng này lại càng mơ hồ, không có ở tầm vĩ mô (toàn bộ hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu). Nhưng ở tầm vi mô thì chủ của phủ, điện… lại là người đứng đầu và được xem như có vai trò tương đương. Ví dụ như ở phủ Tây Hồ (Hà Nội), thờ Mẫu Thượng Ngàn, thì Mẫu Thượng Ngàn được xem là có địa vị cao nhất của phủ này; ở phủ Dầy (Nam Định), đứng đầu phủ là Mẫu Liễu Hạnh; ở điện Hòn Chén (Huế) là Thiên Yana; ở miếu Bà Chúa Xứ (An Giang) là Bà Chúa Xứ…

     Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng không có giáo hội, chỉ có ban trị sự ở những địa điểm thờ phụng lớn của một tỉnh hay một miền. Mãi đến năm 1953, Tổng hội Tiên thiên Thánh giáo ra đời tại Huế, trụ sở 223 đường Gia Hội, Huế. Đến năm 1965 dời về trụ sở mới, gọi là Thánh đường Tiên thiên Thánh giáo tại 252 đường Chi Lăng, thành phố Huế. Đứng đầu tổ chức này là Tổng Hội trưởng, được xem như là giáo chủ điều hành 28 chi hội về sau phát triển thành 48 chi hội, tập trung chủ yếu ở miền Trung và một phần miền Nam. Tổ chức này như là một cố gắng của người Việt nhằm đưa giáo hội thờ Mẫu ngang tầm với các tôn giáo khác. Nhưng giáo hội này đã ngừng hoạt động kể từ sau năm 1975. Đến nay, những điểm thờ Mẫu ở miền Trung, đặc biệt là ở Huế vẫn hoạt động, còn Thánh đường Tiên thiên Thánh giáo thì đã được tu bổ lại, nhưng chỉ là nơi hoạt động của các tín đồ chứ không còn giữ được vai trò là tổng hội nữa.

     * Về tín đồ

     Tín đồ được hiểu là những người có niềm tin về một đối tượng ở trong một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó. Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu phải có đến hàng triệu tín đồ, trong đó “đồng” được coi là tín đồ nòng cốt.

     Theo tiếng Hán – Việt, “đồng” dùng để chỉ những người con trai khoảng 13 tuổi trở xuống, tâm hồn còn trong trắng, chưa nhiễm tội lỗi, là đối tượng nhập hồn của thần linh. Trong thực tế, ý nghĩa ấy đã bị biến đổi, con đồng gồm nhiều lứa tuổi khác nhau. Con đồng bao giờ cũng gắn với hiện tượng lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

     Con đồng có khả năng tiếp xúc với linh hồn người chết, với thần linh, báo trước được tương lai. Những người như vậy sau được gọi là đồng cốt. Theo họ, sau khi chết, linh hồn hoặc là xuống dưới suối vàng (hoàng tuyền hay cửu tuyền) hoặc được lên trên trời. Quan niệm dân gian cho rằng, ngày xưa người và trời không lẫn lộn với nhau. Con người sáng suốt không có sai lầm lại công bằng, tôn kính, thành thực, ngay thẳng, hiểu biết cả ở chuyện trên cao và chuyện dưới thấp… thì được thần linh giáng vào, đàn ông gọi là nghiễn, đàn bà gọi là vu…

     Các “nghiễn” và “vu” chính là những ông đồng, bà cốt, biết được ý muốn của thần linh nên có thể giao tiếp với thần linh. Trong “cửu ca” miêu tả cảnh các bà đồng cốt lên đồng để tiếp xúc với thần linh và các linh hồn. Họ mặc quần áo của vị thần nhập vào họ, họ múa theo tiếng sáo, tiếng trống với nhiều hành động rất lạ. Trong lễ bùn than, người ta lấy than bùn bôi lên đầu để tỏ lòng hối lỗi trước thần linh và xung quanh là tiếng chiêng, trống inh ỏi, hương trầm bay ngào ngạt, tiếng cầu kinh làm người ta mất tự chủ và mê đi. Đó chính là điều kiện để tiếp xúc với thần linh và với những linh hồn của người đã khuất.

     Khi họ ngất đi, đó là lúc vị thần đã nhập vào người, sau đó, những lời nói và hành động được xem là của vị thần hay linh hồn nhập “đồng” vào họ. Muốn vậy, các đồng cốt phải trai giới để cho thể xác sẵn sàng đón nhận thần linh.

     Con (chân) nhang đệ tử là tín đồ không trực tiếp như đồng, không có khả năng giao tiếp với thần linh, linh hồn. Con nhang thường là những người trong gia đình hay lối xóm, là những tín đồ, tức là những người có niềm tin về Mẫu lo hương khói, dâng cúng lễ vật để được chư vị thánh thần phù hộ, độ trì, giúp cho cuộc sống của gia đình. Đặc biệt, trong những dịp lên đồng, ngoài chủ chính là những con đồng, con nhang đệ tử là những người trực tiếp nghe thánh phán truyền, ban phát tài lộc hoặc chữa bệnh. Con nhang đệ tử nếu hạp căn mạng thì cũng có thể trở thành con đồng.

     Đặt trong mối tương quan so sánh với các tín ngưỡng, tôn giáo khác, về hình thức tổ chức, tín đồ cũng như huyền tích về Mẫu, hệ thống thánh thần thì thờ Mẫu chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian, khó có thể vươn tới để trở thành một tôn giáo độc lập. Cũng về các mặt nêu trên, mô hình tổ chức của tín ngưỡng thờ Mẫu tương đương với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, những hiện tượng phản ánh hiện thực về mối quan hệ xã hội trong gia đình, dòng tộc của người, xóm làng người dân Việt trong đời sống thường nhật. Ngoài những tương đồng ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu còn là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, trong đó âm nhạc, lời ca, điệu múa là một biểu hiện của một loại hình dân ca trong lĩnh vực văn hóa dân gian.

__________
(1) Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt nam, Nhà xuất bản Văn học, tr. 332.

(2) Phan Ngọc (2002), Sđd, tr. 334 – 335.

Nguồn: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt Nam,
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Các hình thái của tín ngưỡng thờ Mẫu – Hệ thống thánh thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu (Tác giả: Tiến sĩ Vũ Hồng Vận, Tiến sĩ Phạm Duy Hoàng)
BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN
1. Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu

2. Các hình thái của tín ngưỡng thờ Mẫu – Phần 1: Không gian thờ cúng

3. Các hình thái của tín ngưỡng thờ Mẫu – Phần 2: Hệ thống thánh thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu

4. Các hình thái của tín ngưỡng thờ Mẫu – Phần 3: Điểm tương đồng và dị biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ

5. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt Nam —— đang được cập nhật ——