Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ của Miền Tây Nam Bộ

 Là một tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Khmer đã sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp. Chính trong đời sống cộng cư ấy, sự ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Khmer và tiếng Việt diễn ra như một quy luật tất yếu của ngôn ngữ…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 2)

Chữ Nôm là loại văn tự mượn chữ Hán để ghi âm tiết của tiếng Việt, đây là văn tự biểu âm kiêm biểu ý24. Trước nay đã có khá nhiều cách phân loại cấu trúc chữ Nôm khác nhau. Nhưng đặc điểm dễ nhận thấy rằng, phần lớn các cách phân loại ấy (tiêu biểu như mô hình của Gs Nguyễn Tài Cẩn, chia chữ Nôm làm 10 loại khác nhau) chỉ là những nghiên cứu mang tính thao tác, và phần nào bị chi phối với mục đích đại chúng hóa khoa học…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 1)

Việt Nam cũng như các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hoá Hán, đã sử dụng chữ Hán và tiếng Hán trong một thời gian rất dài. Ở Việt Nam, chữ Hán có mặt từ sớm, có thể kể từ những thế kỷ trước Công nguyên. Từ năm 939 trở về sau, khi Việt Nam giành được độc lập, chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt. Chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để nâng cao dân trí, thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XX…

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 3)

 Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học xã hội, mà nhóm nghiên cứu Langage et Travail (Hoạt động ngôn ngữ và Lao động), đứng đầu là B. Gardin. Như M. Lacoste đã chỉ, nó lấy đối tượng nghiên cứu là các cách thức mà những hoạt động xã hội được hình thành thông qua lời nói hằng ngày và dựa trên dữ liệu phân tích chủ yếu là những tương tác lời nói.

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 2)

 “Vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay là phải xây dựng một ngành ngôn ngữ học mới. Nói như thế không có nghĩa là phải vượt lên trên ngôn ngữ học, mà là giúp ngôn ngữ học tự vượt lên trên chính mình, nghĩa là phải vừa mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của nó, vừa duy trì yêu cầu kiểm tra nghiêm ngặt những thao tác ấy. Dấu hiệu của một sự biến đổi trong lĩnh vực này ngày càng rõ nét. Bây giờ chỉ còn việc là tạo ra những công cụ cho phép mở rộng quyền lực của ngôn ngữ học mà không làm mất đi tính chất nghiêm ngặt của tiến trình” (dẫn lại từ Kerbrat-Orecchioni, 1980: 5).

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 1)

   Bài viết này trình bày tóm tắt quá trình hình thành của ngôn ngữ học xã hội, những quan niệm khác nhau về đặc điểm và đối tượng nghiên cứu của nó, và những trào lưu chủ yếu của ngành học mới mẻ này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trường phái của Đại học Rouen (Pháp), nơi đã đào tạo cho Việt Nam nhiều tiến sĩ về khoa học ngôn ngữ.

Xem chi tiết

Hai cuộc cải cách văn ngôn lớn trong lịch sử văn ngôn Trung Quốc

Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến hai cuộc cải cách văn ngôn tiến hành vào hai thời điểm rất xa nhau do Hàn Dũ (768-625) và Lương Khải Siêu (1873-1929) đề xướng. Đó là hai cuộc vận động cải cách lớn nhất có ảnh hưởng sâu đậm đến văn ngôn về cả cấu trúc lẫn chức năng, vừa có tác động đến đương thời, vừa có tác động đến hậu thế, vừa có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, đồng thời lại ảnh hưởng đến văn ngôn ở ngoài biên giới Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.

Xem chi tiết

Nguyên lý đối thoại trong thi pháp học của Mikhail Bakhtin

Mikhail Bakhtin (1895 – 1975) là người có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử thi pháp học hiện đại trên thế giới. Từ thập niên 80 của thế kỷ trước, trong sự phát triển của thi pháp học ở nước ta, việc tiếp nhận ngày càng đầy đủ các quan điểm thi pháp học của Bakhtin có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hình diện mạo thi pháp học Việt Nam trong gần bốn thập kỷ. Một trong những nền tảng thiết yếu cho lý thuyết của ông là nguyên lý đối thoại…

Xem chi tiết

Phân tích câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm trong tiếng Đức và tiếng Việt xét trên bình diện cấu trúc

Bài viết này muốn chỉ ra sự giống nhau và khác nhau của các câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm trong tiếng Đức và tiếng Việt xét từ góc độ cấu trúc hình thức. Để làm được điều đó, nghiên cứu khảo sát các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Đức và tiếng Việt cũng như một số dịch phẩm rồi tổng hợp câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm, sau đó phân tích cấu trúc để từ đó đưa ra các khuôn hỏi. Theo kết quả nghiên cứu, khuôn hỏi trong tiếng Đức chỉ quy về một dạng điển hình với dạng thức đầy đủ là ĐTNV + ĐT + C (+ B)? và dạng tỉnh lược là ĐTNV? Trong khi đó, các khuôn hỏi trong tiếng Việt phong phú hơn rất nhiều.

Xem chi tiết

Đặc điểm nghĩa của nhóm chữ Hán có chứa “竹” (Trúc) trong hệ thống văn tự Hán

Nhóm chữ Hán có chứa “竹” (trúc) làm bộ thủ biểu nghĩa là một thí dụ tiêu biểu. Bài viết chủ yếu sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như thống kê, miêu tả, phân tích, tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa chữ và nghĩa của nhóm chữ Hán có chứa “竹” (trúc), làm sáng tỏ quá trình phát triển nghĩa cũng như hàm ý văn hóa của chúng, nhằm góp một tài liệu tham khảo về nghiên cứu chữ Hán cũng như công tác dạy học tiếng Hán ở Việt Nam.

Xem chi tiết

Phép quy chiếu trong tiếng Việt và tiếng Anh

 Bài viết bàn về một số điểm giống và khác nhau của phép quy chiếu trong đoạn văn giải thích tiếng Anh và tiếng Việt. Tất cả các phép quy chiếu được phân tích và thảo luận cả về lý thuyết và thực tiễn nhằm giúp người Việt học tiếng Anh có một lượng kiến thức nhất định về phép quy chiếu, một phép liên kết đã được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày và góp phần làm cho những đoạn văn thêm phần chính xác và hiệu quả.

Xem chi tiết

Những yếu tố cách tân trong Văn Học Quốc Ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, văn học Nam Bộ Việt Nam đã thực hiện một cuộc cách tân. Văn học viết bằng chữ quốc ngữ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt tinh thần của một bộ phận công chúng độc giả. Để lí giải tại sao văn học quốc ngữ Nam Bộ có những đóng góp mang ý nghĩa khai phá, phải tìm về những yếu tố nội tại. Theo đó, bài viết triển khai ba yếu tố: Sự tiên phong của đội ngũ nhà văn Nam Bộ; Chữ quốc ngữ và văn hóa phương Tây; Văn học hướng về công chúng độc giả.

Xem chi tiết

Tiếng Hà Nội trong quan hệ với ngôn ngữ chung của dân tộc

Theo các nhà nghiên cứu, tiếng Hà Nội có diện mạo như ngày nay – là kết quả của sự lựa chọn, thanh lọc tự nhiên ngôn ngữ cộng đồng dân cư Hà Nội bao gồm cư dân bản địa và những người thợ thủ công, nhà buôn, kẻ sĩ, nghệ nhân, binh lính… từ khắp các miền đất nước đến sinh cơ lập nghiệp ở đây qua nhiều đời, chủ yếu là từ mấy tỉnh lân cận thuộc đồng bằng Bắc Bộ như Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam…

Xem chi tiết

Nghiên cứu tiếng Hà Nội trên phương diện Vật lý – Âm học

Trong sự phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, quá khứ cũng như hiện tại, “tiếng Hà Nội” ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hoạt động giao tiếp của xã hội: sáng tác văn học; hoạt động biểu diễn nghệ thuật; dạy học trong nhà trường hay trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xét về phương diện cấu trúc cũng như chức năng, nhìn chung “tiếng Hà Nội” đã hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết, xứng đáng là cách phát âm chuẩn hay còn gọi là chuẩn chính âm của tiếng Việt.

Xem chi tiết

Trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thuộc nhóm Khơ-Mú ở Việt Nam

Mục đích của bài viết này là chỉ ra những điểm chung và riêng trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic) gồm: Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Những điểm chung: Đây là những ngôn ngữ rất gần gũi về cội nguồn, hiện giữ lại được trạng thái “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào…

Xem chi tiết

Vai trò của yếu tố xã hội trong phát triển năng lực tiếng Pháp của học sinh

Ở Việt Nam, trong nhiều năm tiếng Pháp là ngoại ngữ được dạy nhiều thứ hai trong chương trình giáo dục của các trường học, sau tiếng Anh. Việc dạy và học ngoại ngữ này đặc biệt thuận lợi từ khi ra đời Chương trình song ngữ và tăng cường tiếng Pháp. Tuy nhiên, năng lực tiếng Pháp của học sinh nói chung và cấp trung học phổ thông (THPT) nói riêng còn chưa đồng đều. Việc đánh giá tác động của yếu tố xã hội đến quá trình học tiếng Pháp của học sinh sẽ góp phần vào việc phát triển năng lực tiếng Pháp của học sinh hiện nay.

Xem chi tiết

NGÔN NGỮ XÃ HỘI trong phóng sự VŨ TRỌNG PHỤNG

Trong phạm vi tư liệu khảo sát, chúng tôi xin được giới hạn rằng: ngôn ngữ xã hội – thuộc đối tượng nghiên cứu của bài báo khoa học này – là một hệ thống bao gồm tiếng lóng, khẩu ngữ, từ ngữ giao tiếp trong các hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể. Ngôn ngữ xã hội là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các lĩnh vực ngôn ngữ, tâm lí xã hội, tính cách, ngôn ngữ cá nhân và bản chất văn hoá của một dân tộc cụ thể…

Xem chi tiết

Một số suy nghĩ về CƠ SỞ LÀM TIÊU CHÍ cho SỰ PHÂN KỲ HÁN VĂN VIỆT NAM

Thực tế sử dụng chữ Hán từ khi nước nhà độc lập (thế kỷ X), cho đến những năm đầu thế kỷ XX, kéo dài gần chục thế kỷ. Trong thời gian đó, chữ Hán được dùng như một ngôn ngữ viết với những đặc điểm chuyên biệt của mình về chức năng và cấu trúc. Sản phẩm cụ thể cho quá trình sử dụng hình thái ngôn ngữ viết này là thực thể Hán văn Việt Nam…

Xem chi tiết

TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ của TẠP CHÍ KHOA HỌC và việc áp dụng tại Việt Nam

Hiện nay, các tạp chí khoa học xã hội ở Việt Nam đang từng bước đổi mới và nâng cấp theo tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là theo tiêu chuẩn các tạp chí được xếp hạng bởi Viện Thông tin khoa học Mỹ (ISI) và Cơ sở dữ liệu (Scopus) của Nhà xuất bản Elsevier Hà Lan.

Xem chi tiết