Khai sinh chữ Quốc ngữ (từ 1620 đến 1659) – Phần 2: Xét lại công lao của Alexandre de Rhodes

Năm 1950, về quá trình phát triển chữ Quốc ngữ, sách Việt Nam Văn học Sử yếu của Dương Quảng Hàm có đoạn: “Các giáo sĩ người Âu khi đến nước ta truyền giáo vào thế kỷ thứ XVII, thấy ở xứ ta chỉ có chữ Nôm là thứ chữ dùng để viết tiếng Nam nhưng chưa có chuẩn đích và học lại mất rất nhiều công phu, nên mới mượn các mẫu tự La Mã đặt ra chữ Quốc ngữ để tiện việc dịch sách, soạn sách cho con chiên xem…

Xem chi tiết

Khai sinh chữ Quốc ngữ (từ 1620 đến 1659) – Phần 1

Sử dụng các mẫu tự Latinh để ký âm tiếng Việt với mục đích truyền đạo Công giáo vào xứ Đàng Trong ở tiền bán thế kỷ XVII, các giáo sĩ Dòng Tên không bao giờ ngờ rằng họ đã để lại một món quà vô giá cho dân tộc Việt Nam, đó là chữ Quốc ngữ. Ngày nay, chẳng ai hoài nghi về sự tiện ích tuyệt đối của chữ Quốc ngữ đối với nền quốc học và sự nghiệp phát triển văn hóa nước nhà, nhưng mấy ai biết chữ Quốc ngữ đã được khai sinh bởi một giáo sĩ người Bồ Đào Nha, tên là Francisco de Pina, tại một làng quê dân dã ở tỉnh Quảng Nam, đó là làng Thanh Chiêm…

Xem chi tiết

Tìm hiểu lại danh xưng “Lạc” vương và “Hùng” vương

Theo truyền thống người Việt Nam, danh xưng “Hùng vương” bao đời nay đã được lưu truyền qua truyền khẩu và thư tịch, tuy nhiên vào đầu thế kỷ XX, Henri Maspéro [6] đã lần đầu tiên phủ nhận danh xưng này và cho là tiền nhân Việt đã nối tiếp sự lầm lẫn văn tự giữa chữ “Lạc” 雒 thành chữ “Hùng” 雄  trong thư tịch Hán để tự nhận là “Hùng” vương, nhưng thật ra  phải là “Lạc” vương mới đúng. Sau đó, giới học giả Việt Nam từ Bắc đến Nam đã mở ra những cuộc bút chiến sôi nổi về “Lạc” vương và “Hùng” vương…

Xem chi tiết

Tích hợp ngôn ngữ học và văn hóa học trong phân tích văn bản nghệ thuật

Trong lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại, văn bản nghệ thuật là một diễn ngôn và được đặc trưng bằng các yếu tố kí hiệu và mã hoá kí hiệu, hoàn cảnh giao tiếp và ngữ vực của cuộc giao tiếp. Các yếu tố đó bị chế định bởi các quy tắc của ngôn ngữ và các phạm trù văn hoá. Từ mô thức đó của hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn chương, bài viết trình bày về các khả năng tích hợp kiến thức ngôn ngữ học vào việc phân tích tác phẩm văn chương: (1) Tìm tiêu điểm thông tin, tìm các dấu hiệu tu từ, tìm nghĩa từ điển và nghĩa văn bản của yếu tố ngôn ngữ; (2) phân tích nghĩa sự tình và nghĩa tình thái, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của phát ngôn; (3) phân tích vai trò của các câu trong đoạn và gánh nặng ngữ nghĩa của chúng…

Xem chi tiết

Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ của Miền Tây Nam Bộ

 Là một tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Khmer đã sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp. Chính trong đời sống cộng cư ấy, sự ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Khmer và tiếng Việt diễn ra như một quy luật tất yếu của ngôn ngữ…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 2)

Chữ Nôm là loại văn tự mượn chữ Hán để ghi âm tiết của tiếng Việt, đây là văn tự biểu âm kiêm biểu ý24. Trước nay đã có khá nhiều cách phân loại cấu trúc chữ Nôm khác nhau. Nhưng đặc điểm dễ nhận thấy rằng, phần lớn các cách phân loại ấy (tiêu biểu như mô hình của Gs Nguyễn Tài Cẩn, chia chữ Nôm làm 10 loại khác nhau) chỉ là những nghiên cứu mang tính thao tác, và phần nào bị chi phối với mục đích đại chúng hóa khoa học…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 1)

Việt Nam cũng như các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hoá Hán, đã sử dụng chữ Hán và tiếng Hán trong một thời gian rất dài. Ở Việt Nam, chữ Hán có mặt từ sớm, có thể kể từ những thế kỷ trước Công nguyên. Từ năm 939 trở về sau, khi Việt Nam giành được độc lập, chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt. Chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để nâng cao dân trí, thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XX…

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 3)

 Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học xã hội, mà nhóm nghiên cứu Langage et Travail (Hoạt động ngôn ngữ và Lao động), đứng đầu là B. Gardin. Như M. Lacoste đã chỉ, nó lấy đối tượng nghiên cứu là các cách thức mà những hoạt động xã hội được hình thành thông qua lời nói hằng ngày và dựa trên dữ liệu phân tích chủ yếu là những tương tác lời nói.

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 2)

 “Vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay là phải xây dựng một ngành ngôn ngữ học mới. Nói như thế không có nghĩa là phải vượt lên trên ngôn ngữ học, mà là giúp ngôn ngữ học tự vượt lên trên chính mình, nghĩa là phải vừa mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của nó, vừa duy trì yêu cầu kiểm tra nghiêm ngặt những thao tác ấy. Dấu hiệu của một sự biến đổi trong lĩnh vực này ngày càng rõ nét. Bây giờ chỉ còn việc là tạo ra những công cụ cho phép mở rộng quyền lực của ngôn ngữ học mà không làm mất đi tính chất nghiêm ngặt của tiến trình” (dẫn lại từ Kerbrat-Orecchioni, 1980: 5).

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 1)

   Bài viết này trình bày tóm tắt quá trình hình thành của ngôn ngữ học xã hội, những quan niệm khác nhau về đặc điểm và đối tượng nghiên cứu của nó, và những trào lưu chủ yếu của ngành học mới mẻ này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trường phái của Đại học Rouen (Pháp), nơi đã đào tạo cho Việt Nam nhiều tiến sĩ về khoa học ngôn ngữ.

Xem chi tiết

Hai cuộc cải cách văn ngôn lớn trong lịch sử văn ngôn Trung Quốc

Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến hai cuộc cải cách văn ngôn tiến hành vào hai thời điểm rất xa nhau do Hàn Dũ (768-625) và Lương Khải Siêu (1873-1929) đề xướng. Đó là hai cuộc vận động cải cách lớn nhất có ảnh hưởng sâu đậm đến văn ngôn về cả cấu trúc lẫn chức năng, vừa có tác động đến đương thời, vừa có tác động đến hậu thế, vừa có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, đồng thời lại ảnh hưởng đến văn ngôn ở ngoài biên giới Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.

Xem chi tiết

Nguyên lý đối thoại trong thi pháp học của Mikhail Bakhtin

Mikhail Bakhtin (1895 – 1975) là người có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử thi pháp học hiện đại trên thế giới. Từ thập niên 80 của thế kỷ trước, trong sự phát triển của thi pháp học ở nước ta, việc tiếp nhận ngày càng đầy đủ các quan điểm thi pháp học của Bakhtin có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hình diện mạo thi pháp học Việt Nam trong gần bốn thập kỷ. Một trong những nền tảng thiết yếu cho lý thuyết của ông là nguyên lý đối thoại…

Xem chi tiết

Phân tích câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm trong tiếng Đức và tiếng Việt xét trên bình diện cấu trúc

Bài viết này muốn chỉ ra sự giống nhau và khác nhau của các câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm trong tiếng Đức và tiếng Việt xét từ góc độ cấu trúc hình thức. Để làm được điều đó, nghiên cứu khảo sát các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Đức và tiếng Việt cũng như một số dịch phẩm rồi tổng hợp câu hỏi có từ để hỏi về địa điểm, sau đó phân tích cấu trúc để từ đó đưa ra các khuôn hỏi. Theo kết quả nghiên cứu, khuôn hỏi trong tiếng Đức chỉ quy về một dạng điển hình với dạng thức đầy đủ là ĐTNV + ĐT + C (+ B)? và dạng tỉnh lược là ĐTNV? Trong khi đó, các khuôn hỏi trong tiếng Việt phong phú hơn rất nhiều.

Xem chi tiết

Đặc điểm nghĩa của nhóm chữ Hán có chứa “竹” (Trúc) trong hệ thống văn tự Hán

Nhóm chữ Hán có chứa “竹” (trúc) làm bộ thủ biểu nghĩa là một thí dụ tiêu biểu. Bài viết chủ yếu sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như thống kê, miêu tả, phân tích, tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa chữ và nghĩa của nhóm chữ Hán có chứa “竹” (trúc), làm sáng tỏ quá trình phát triển nghĩa cũng như hàm ý văn hóa của chúng, nhằm góp một tài liệu tham khảo về nghiên cứu chữ Hán cũng như công tác dạy học tiếng Hán ở Việt Nam.

Xem chi tiết

Phép quy chiếu trong tiếng Việt và tiếng Anh

 Bài viết bàn về một số điểm giống và khác nhau của phép quy chiếu trong đoạn văn giải thích tiếng Anh và tiếng Việt. Tất cả các phép quy chiếu được phân tích và thảo luận cả về lý thuyết và thực tiễn nhằm giúp người Việt học tiếng Anh có một lượng kiến thức nhất định về phép quy chiếu, một phép liên kết đã được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày và góp phần làm cho những đoạn văn thêm phần chính xác và hiệu quả.

Xem chi tiết

Những yếu tố cách tân trong Văn Học Quốc Ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, văn học Nam Bộ Việt Nam đã thực hiện một cuộc cách tân. Văn học viết bằng chữ quốc ngữ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt tinh thần của một bộ phận công chúng độc giả. Để lí giải tại sao văn học quốc ngữ Nam Bộ có những đóng góp mang ý nghĩa khai phá, phải tìm về những yếu tố nội tại. Theo đó, bài viết triển khai ba yếu tố: Sự tiên phong của đội ngũ nhà văn Nam Bộ; Chữ quốc ngữ và văn hóa phương Tây; Văn học hướng về công chúng độc giả.

Xem chi tiết

Tiếng Hà Nội trong quan hệ với ngôn ngữ chung của dân tộc

Theo các nhà nghiên cứu, tiếng Hà Nội có diện mạo như ngày nay – là kết quả của sự lựa chọn, thanh lọc tự nhiên ngôn ngữ cộng đồng dân cư Hà Nội bao gồm cư dân bản địa và những người thợ thủ công, nhà buôn, kẻ sĩ, nghệ nhân, binh lính… từ khắp các miền đất nước đến sinh cơ lập nghiệp ở đây qua nhiều đời, chủ yếu là từ mấy tỉnh lân cận thuộc đồng bằng Bắc Bộ như Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam…

Xem chi tiết

Nghiên cứu tiếng Hà Nội trên phương diện Vật lý – Âm học

Trong sự phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, quá khứ cũng như hiện tại, “tiếng Hà Nội” ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hoạt động giao tiếp của xã hội: sáng tác văn học; hoạt động biểu diễn nghệ thuật; dạy học trong nhà trường hay trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xét về phương diện cấu trúc cũng như chức năng, nhìn chung “tiếng Hà Nội” đã hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết, xứng đáng là cách phát âm chuẩn hay còn gọi là chuẩn chính âm của tiếng Việt.

Xem chi tiết

Trạng thái ngôn ngữ các dân tộc thuộc nhóm Khơ-Mú ở Việt Nam

Mục đích của bài viết này là chỉ ra những điểm chung và riêng trong trạng thái ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ-mú (Khmuic) gồm: Khơ-mú, Xinh Mun, Kháng, Ơ Đu. Những điểm chung: Đây là những ngôn ngữ rất gần gũi về cội nguồn, hiện giữ lại được trạng thái “cổ” của các ngôn ngữ đơn lập. Hiện tượng đa ngữ (phổ biến là song ngữ) phổ biến ở tất cả các dân tộc thiểu số nhóm Khơ-mú: Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ các dân tộc này – tiếng Thái, tiếng Lào…

Xem chi tiết