Giá trị của từ láy trong văn tế Nguyễn Đình Chiểu

Giáo sư Đỗ Hữu Châu có lần nhận xét từ láy được xem là một “nốt nhạc” về âm thanh, chứa đựng trong mình một “bức tranh” cụ thể của các giác quan, kèm theo những ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan, những đánh giá thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng, tác động mạnh mẽ tới người nghe. Có thể nói sự hiện diện của từ láy có giá trị đặc biệt quan trọng trong các sáng tác văn chương bởi giá trị tượng thanh, tượng hình và biểu cảm mà nó chứa đựng…

Xem chi tiết

Tiếng Việt trong bối cảnh thống nhất đất nước, hội nhập và phát triển

40 năm, lượng thời gian để nhìn nhận sự biến động của một ngôn ngữ xét về mặt ngôn ngữ học không phải là dài, nhưng, với sự kiện trọng đại là thống nhất đất nước và tiếp đó là đổi mới và hội nhập có thể coi là tác nhân xã hội đặc biệt quan trọng tác động đến tiếng Việt nói riêng và các ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung.

Xem chi tiết

Ẩn dụ dùng từ ngữ chỉ các bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Anh

… Theo các nhà ngôn ngữ học, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ. Đó là phép sử dụng từ ngữ được chuyển nghĩa dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói. Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng. Ẩn dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ ngày càng đa dạng, tinh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương, và trong cả lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta.

Xem chi tiết

Ẩn dụ ý niệm “Xanh” trong tiếng Việt

Dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được xem là một trong những hình thức tư duy ý niệm, phản ánh lối tư duy và ý niệm hóa của con người về thế giới xung quanh thông qua các biểu thức ngôn ngữ, một cơ chế nhận thức mà thông qua nó, logic của những khái niệm có tính trừu tượng được thay thế bằng logic của những khái niệm có tính cụ thể hơn. Trong phạm vi bài báo khoa học này, chúng tôi hướng sự quan tâm vào ẩn dụ ý niệm màu sắc, trong đó màu xanh là một ý niệm nguồn ánh xạ sang miền đích khác nhau được người Việt tri nhận.

Xem chi tiết

Khám phá Khái niệm Thể diện trong Tiếng Việt: Bằng chứng từ Kết hợp Từ

Ghi nhận vai trò quan trọng của khái niệm Thể diện trong giao tiếp và những tranh luận chưa ngã ngũ về các cấu thành của khái niệm này, bài viết khám phá nội hàm khái niệm Thể diện trong văn hóa Việt dựa trên việc phân tích những diễn đạt phổ biến của “mặt/thể diện” trong tiếng Việt. Bài viết chỉ ra rằng nội hàm khái niệm Thể diện trong văn hóa Việt không đồng nhất với khái niệm này trong học thuyết lịch sự lấy thể diện làm trung tâm vốn được xem là mang tính phổ quát của Brown và Levinson (1987)…

Xem chi tiết

Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa của “Nước” và “Lửa” trong tiếng Việt

Trong bài viết này, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa của “nước” và “lửa” trong tiếng Việt trên phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Qua đó, bài viết sẽ làm rõ vai trò, ý nghĩa của trường từ vựng – ngữ nghĩa này trong việc giúp con người diễn đạt các khái niệm quan trọng liên quan đến đời sống con người và xã hội cũng như những đặc trưng văn hóa độc đáo của dân tộc thể hiện qua hệ thống từ ngữ này.

Xem chi tiết

Lồng ghép yếu tố văn hóa Huế trong giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài đến học tại Huế

Huế là một tiểu vùng văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Vì vậy, khi chọn Huế là điểm đến để học tiếng Việt, sinh viên nước ngoài không chỉ mong muốn nâng cao kỹ năng ngôn ngữ mà còn muốn tìm hiểu về bản sắc văn hóa của vùng đất này. Nắm bắt được điều đó, nhiều giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại Huế đã chú trọng đến việc lồng ghép các yếu tố văn hóa Huế vào quá trình dạy học…

Xem chi tiết

Nghiên cứu cấu trúc trộn mã ngôn ngữ Việt- Anh trong giao tiếp trao đổi mua bán của tiểu thương chợ Bến Thành, Tp. Hồ Chí Minh

Tiếp xúc ngôn ngữ là một trong những hiện tượng phổ biến trong lịch sử phát triển của các ngôn ngữ trên thế giới. Kết quả của quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ là sự nảy sinh các hiện tượng giao thoa ngôn ngữ và lai tạp ngôn ngữ. Hiện tượng pha trộn ngôn ngữ (hay còn gọi là hiện tượng lai tạp ngôn ngữ) là một trong những vấn đề thú vị được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ xã hội học quan tâm…

Xem chi tiết

Một cách hiểu biết về từ địa phương

Từ địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ dân tộc. Nhiều nhà Việt ngữ học đã xem giữa từ địa phương và từ toàn dân có đường ranh giới khá rõ ràng.Tuy nhiên, trên thực tế, việc nhận diện hai hệ thống từ vựng này là không dễ. Chúng tôi cho rằng giữa chúng có một đường ranh giới mờ. Sự phân biệt từ địa phương và từ toàn dân trở nên khó khăn khi chúng ta đang có sự nhầm lẫn giữa từ toàn dân bị biến âm với từ địa phương, chưa phân định rạch ròi giữa từ cổ (từ toàn dân xưa) và từ địa phương…

Xem chi tiết

Giá trị biểu hiện của từ “Chầu” trong phương ngữ Quảng Bình và Quảng Trị

Trong tiếng Việt phổ thông, từ chầu được dùng để biểu đạt các nghĩa chỉ tên gọi sự vật và chỉ hoạt động. Tùy theo ngữ cảnh giao tiếp và đối tượng được biểu hiện, nó được người
Việt ở các địa phương sử dụng không phổ biến nhưng khá đồng đều giữa các nghĩa trên. Tuy nhiên, trong phương ngữ Quảng Bình và Quảng Trị, từ chầu thường được hiểu, được dùng với nghĩa chỉ điểm thời gian “hồi”, “lúc”, “dạo”, “ngày” và chỉ sự chờ đợi với các nghĩa biểu đạt và các sắc thái cảm xúc khác nhau.

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học lịch sử và đóng góp trong nghiên cứu nhân chủng học

…Như vậy, những năm gần đây, xu hướng vận dụng cách tiếp cận liên ngành để nghiên cứu các vấn đề văn hoá tiếp tục được lưu tâm. Tuy nhiên, việc đặt vấn đề vận dụng các phương pháp cơ bản của ngôn ngữ học để tiếp cận các vấn đề của nhân chủng học một cách hệ thống và nâng nó lên thành một phương pháp liên ngành trong nghiên cứu nhân chủng học thì vẫn đang còn nhiều điều cần thảo luận. Bài viết này phân tích khả năng vận dụng phương pháp so sánh – lịch sử, một trong ba phương pháp cơ bản của ngôn ngữ học, vào việc tìm hiểu lịch sử, văn hoá của một cộng đồng người (với trường hợp cụ thể là tiếng Việt và những hiện tượng văn hóa của người Việt)…

Xem chi tiết

Khai sinh chữ Quốc ngữ (từ 1620 đến 1659) – Phần 2: Xét lại công lao của Alexandre de Rhodes

Năm 1950, về quá trình phát triển chữ Quốc ngữ, sách Việt Nam Văn học Sử yếu của Dương Quảng Hàm có đoạn: “Các giáo sĩ người Âu khi đến nước ta truyền giáo vào thế kỷ thứ XVII, thấy ở xứ ta chỉ có chữ Nôm là thứ chữ dùng để viết tiếng Nam nhưng chưa có chuẩn đích và học lại mất rất nhiều công phu, nên mới mượn các mẫu tự La Mã đặt ra chữ Quốc ngữ để tiện việc dịch sách, soạn sách cho con chiên xem…

Xem chi tiết

Khai sinh chữ Quốc ngữ (từ 1620 đến 1659) – Phần 1

Sử dụng các mẫu tự Latinh để ký âm tiếng Việt với mục đích truyền đạo Công giáo vào xứ Đàng Trong ở tiền bán thế kỷ XVII, các giáo sĩ Dòng Tên không bao giờ ngờ rằng họ đã để lại một món quà vô giá cho dân tộc Việt Nam, đó là chữ Quốc ngữ. Ngày nay, chẳng ai hoài nghi về sự tiện ích tuyệt đối của chữ Quốc ngữ đối với nền quốc học và sự nghiệp phát triển văn hóa nước nhà, nhưng mấy ai biết chữ Quốc ngữ đã được khai sinh bởi một giáo sĩ người Bồ Đào Nha, tên là Francisco de Pina, tại một làng quê dân dã ở tỉnh Quảng Nam, đó là làng Thanh Chiêm…

Xem chi tiết

Tìm hiểu lại danh xưng “Lạc” vương và “Hùng” vương

Theo truyền thống người Việt Nam, danh xưng “Hùng vương” bao đời nay đã được lưu truyền qua truyền khẩu và thư tịch, tuy nhiên vào đầu thế kỷ XX, Henri Maspéro [6] đã lần đầu tiên phủ nhận danh xưng này và cho là tiền nhân Việt đã nối tiếp sự lầm lẫn văn tự giữa chữ “Lạc” 雒 thành chữ “Hùng” 雄  trong thư tịch Hán để tự nhận là “Hùng” vương, nhưng thật ra  phải là “Lạc” vương mới đúng. Sau đó, giới học giả Việt Nam từ Bắc đến Nam đã mở ra những cuộc bút chiến sôi nổi về “Lạc” vương và “Hùng” vương…

Xem chi tiết

Tích hợp ngôn ngữ học và văn hóa học trong phân tích văn bản nghệ thuật

Trong lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại, văn bản nghệ thuật là một diễn ngôn và được đặc trưng bằng các yếu tố kí hiệu và mã hoá kí hiệu, hoàn cảnh giao tiếp và ngữ vực của cuộc giao tiếp. Các yếu tố đó bị chế định bởi các quy tắc của ngôn ngữ và các phạm trù văn hoá. Từ mô thức đó của hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn chương, bài viết trình bày về các khả năng tích hợp kiến thức ngôn ngữ học vào việc phân tích tác phẩm văn chương: (1) Tìm tiêu điểm thông tin, tìm các dấu hiệu tu từ, tìm nghĩa từ điển và nghĩa văn bản của yếu tố ngôn ngữ; (2) phân tích nghĩa sự tình và nghĩa tình thái, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của phát ngôn; (3) phân tích vai trò của các câu trong đoạn và gánh nặng ngữ nghĩa của chúng…

Xem chi tiết

Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ của Miền Tây Nam Bộ

 Là một tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Khmer đã sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp. Chính trong đời sống cộng cư ấy, sự ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Khmer và tiếng Việt diễn ra như một quy luật tất yếu của ngôn ngữ…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 2)

Chữ Nôm là loại văn tự mượn chữ Hán để ghi âm tiết của tiếng Việt, đây là văn tự biểu âm kiêm biểu ý24. Trước nay đã có khá nhiều cách phân loại cấu trúc chữ Nôm khác nhau. Nhưng đặc điểm dễ nhận thấy rằng, phần lớn các cách phân loại ấy (tiêu biểu như mô hình của Gs Nguyễn Tài Cẩn, chia chữ Nôm làm 10 loại khác nhau) chỉ là những nghiên cứu mang tính thao tác, và phần nào bị chi phối với mục đích đại chúng hóa khoa học…

Xem chi tiết

Nguồn gốc, lịch sử và cấu trúc của chữ Nôm từ bối cảnh văn hóa Đông Á (Phần 1)

Việt Nam cũng như các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hoá Hán, đã sử dụng chữ Hán và tiếng Hán trong một thời gian rất dài. Ở Việt Nam, chữ Hán có mặt từ sớm, có thể kể từ những thế kỷ trước Công nguyên. Từ năm 939 trở về sau, khi Việt Nam giành được độc lập, chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt. Chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để nâng cao dân trí, thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XX…

Xem chi tiết

Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng (Phần 3)

 Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học xã hội, mà nhóm nghiên cứu Langage et Travail (Hoạt động ngôn ngữ và Lao động), đứng đầu là B. Gardin. Như M. Lacoste đã chỉ, nó lấy đối tượng nghiên cứu là các cách thức mà những hoạt động xã hội được hình thành thông qua lời nói hằng ngày và dựa trên dữ liệu phân tích chủ yếu là những tương tác lời nói.

Xem chi tiết