Một số di tích thờ tự Dương Vân Nga, hoàng hậu hai triều Đinh – Lê

Dương Vân Nga (Dương hậu thời Đinh – Lê) là một nhân vật lịch sử đặc biệt bởi hành trạng gây tranh cãi của bà: bà vốn là hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, sau khi vua Đinh bị sát hại, triều đình rối loạn, bà đã trao ngai vàng của con trai mình cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn rồi tái giá với vị tướng tiền triều này…

Xem chi tiết

Nghĩa vụ của quan lại đối với nhà vua dưới triều Gia Long và Minh Mệnh: Một số giá trị kế thừa

Quan lại thời quân chủ nói chung và thời Gia Long, Minh Mệnh nói riêng, bên cạnh những đãi ngộ nhận được đều có bổn phận thực hiện những nghĩa vụ đối với nhà vua và dân. Quan trọng trên nhất đó là nghĩa vụ đối với nhà vua, người đứng đầu đất nước. Những yêu cầu mà hai vua đầu triều Nguyễn đặt ra đối với quan lại đó là tận trung, tận tụy và tuân theo quy tắc, pháp luật của Nhà nước. Những quy định trên có ý nghĩa lớn đối với việc đặt ra nghĩa vụ đối với cán bộ, công chức hiện nay.

Xem chi tiết

Tìm thấy đạo sắc phong cho Thiên hộ Võ Duy Dương Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều

Hòa vào cuộc chiến chống Pháp của cả nước, Thiên hộ Võ Duy Dương (1827 – 1866) và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (? – 1866) là hai trong những vị tướng làm nên trang sử hào hùng của mảnh đất Đồng Tháp nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lòng trung can nghĩa đảm của hai ông đã được triều đình Nguyễn vinh danh qua các đạo sắc phong, với các mỹ tự: Hộ quốc Hàm phu Hoằng tế Thiện trợ Dũng liệt Quảng uy Trung trực Anh đoán, Đoan túc Tôn thần…

Xem chi tiết

Một số nghiên cứu mới về những di tích đất đắp dạng tròn trên địa bàn tỉnh Bình Phước

…Các nghiên cứu gần đây đã làm rõ nét hơn về không gian phân bố, loại hình, đặc điểm cư trú và niên đại của những “ngôi làng tròn” thời tiền sử ở vùng này. Bài viết giới thiệu một số kết quả khảo sát thực địa nhằm xác định lại các di tích đã được phát hiện bởi Louis Malleret vào năm 1959 và cập nhật các kết quả nghiên cứu mới trong năm 2019 liên quan đến phạm vi phân bố và niên đại của một số di tích đất đắp dạng tròn ở Bình Phước.

Xem chi tiết

Biến động địa giới thành phố Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử

Trải qua hơn 2000 năm, ranh giới thành phố Hà Nội có nhiều biến động, phản ánh quy luật phân bố không gian của một thành phố trong “tứ giác nước” với những thăng trầm theo các triều đại trong lịch sử. Từ một khu kinh thành Cổ Loa nhỏ hẹp thời An Dương Vương, vùng Thăng Long được mở rộng hơn bên tả ngạn sông Hồng từ sông Tô Lịch (gần Dâm Đàm – Hồ Tây đến Đại Hồ (Hồ Bảy Mẫu) vào thời Lý – Trần. Đến thời Lê, Thăng Long – Bắc Thành mở rộng về phía Bắc bao trọn cả Hồ Tây…

Xem chi tiết

Thành Hồ ở Phú Yên và mối liên hệ với các di tích Champa

Thành Hồ ở Phú Yên được biết đến đầu tiên trong cuốn “Đại Nam nhất thống chí” với cái tên thành cổ An Nghiệp. Thành Hồ đóng một vai trò như là trung tâm quyền lực về kinh tế, văn hóa – xã hội, tôn giáo, chính trị trong khu vực. Cùng với thành Hồ, các di tích văn hóa Champa trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn khá nhiều, phần lớn đều là phế tích. Những năm gần đây nhiều tác giả nghiên cứu về thành Hồ nhưng chưa xem xét vị thế, mối quan hệ thành Hồ với văn hóa Champa, và khu vực lân cận (tiểu quốc Kauthara)…

Xem chi tiết

Giới thiệu Đông Sơn huyện Thiều Thốn Từ Bi

Văn bia này xưa kia thờ Đại vương Thiều Thốn. Theo gia phả, họ Thiều sống Triệu Hạ, Thiệu Đông (nay thuộc Đông Tiến, Đông Sơn, Thanh Hóa) Thủy tổ là Cụ Thiều Kim Tinh đến đời cụ Thiều Thốn thuộc hệ thứ 3, là khai quốc công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng tể kiêm Kim ngô vệ, Phò mã Đô úy, Thượng trụ quốc. Đời sau, gia phong mỹ tự là Phù vận, Tế thế, An dân, Hộ quốc, Dực thánh, Hoằng hưu, Trung lộc Hiển hựu, Phổ trạch, Chí nhân, Hậu đức, Dũng cảm, Khoát đạt, Đại độ, Khoan nhân, Trung chính, Long ân, Hiển túc, Công cao, Đức mậu, Diên ứng, Hiển linh Đại Vương…

Xem chi tiết

Văn miếu và Văn miếu phủ Tam Đới thời Lê

… Thời Lê – Trịnh, số Văn từ ở hàng phủ được dựng không thật nhiều, trong đó nổi bật là Văn từ phủ Tam Đới. Tuy dấu tích đã mai một, song bài văn bia của Văn từ này dựng năm Nhâm Ngọ niên hiệu Chính Hòa thứ 23 (1702) hiện còn đã cho biết khá cụ thể Văn từ phủ Tam Đới thời Lê – Trịnh…

Xem chi tiết

Miếu làng Quan Tử (Vĩnh Phúc) thờ thầy học Đỗ Khắc Chung

Đỗ Khắc Chung là một trong những công thần của nhà Trần, nên được mang quốc tính, đổi là Trần Khắc Chung. Năm 1289 ông là một danh nho, có nhiều công lao trong kháng chiến chống ngoại xâm. Tuy là người thuộc đất Hải Dương, nhưng ông lại có nhiều dấu tích ở Vĩnh Phúc. Qua điều tra thực tế, chúng tôi bước đầu liệt kê được các địa phương ở Vĩnh Phúc thờ cúng ông…

Xem chi tiết

Nguyễn Văn Thành -Tổng tài bộ Hoàng Việt luật lệ của vương triều Nguyễn

Bài viết này trước hết khái quát về các bộ luật ở Việt Nam và nét đặc sắc nội dung bộ Hoàng Việt luật lệ, cũng như quá trình biên soạn bộ luật này và ý nghĩa, giá trị nổi bật của bộ luật. Qua đó góp phần đánh giá về sự đóng góp quan trọng của vị Tổng tài biên soạn bộ luật này – Nguyễn Văn Thành.

Xem chi tiết

Mấy vấn đề về vua Gia Long

Tôi không phải là một chuyên gia về lịch sử, đặc biệt là về nhà Nguyễn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng có những nghĩ suy và thực ra là từ những năm giữa thập kỷ 70 cho đến gần đây, đầu xuân Bính Tý 1996. Tôi vẫn thường qua lại xứ Huế và viết dăm bẩy bài về vị thế địa – văn hóa của xứ Huế và vai trò của các chúa Nguyễn, bắt đầu từ chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến các vua đầu nhà Nguyễn, mở đầu là vua Gia Long (1802- 1820) và kết thúc là vua Bảo Đại (1925-1945)….

Xem chi tiết

Các chuyến vượt biển đến khu vực Đông Nam Á dưới thời Minh Mệnh – Qua tư liệu Châu bản triều Nguyễn

 Giao thông hàng hải nói chung và thương mại đường biển nói riêng là việc không thể thiếu tại các quốc gia có biển. Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ. Từ thế kỷ thứ XI dưới triều Lý, các nước lân bang có thế mạnh về hàng hải đã bắt đầu đặt mối quan hệ bang giao thông qua đường biển với Đại Việt. Năm 1149, với việc thành lập cảng Vân Đồn, hàng hóa theo các tàu nước ngoài đã tấp nập đến và đi từ thương cảng này…..

Xem chi tiết

Về mối quan hệ giữa “Hoàng Việt luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ”

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu thêm mối quan hệ giữa “Hoàng Việt luật lệ” của nhà Nguyễn với “Đại Thanh luật lệ” của nhà Thanh, trên cơ sở khảo cứu một cách cụ thể văn bản của “Hoàng Việt luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ” (từ cấu trúc bộ luật đến số lượng, tên gọi điều luật, nội dung các điều luật, điều lệ) để hy vọng có được cái nhìn khách quan hơn đối với “Hoàng Việt luật lệ”.

Xem chi tiết

Diện mạo đô thị Huế thế kỷ XVII-XVIII qua sự mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài (Phần 2)

….Mùa Hạ năm 1738, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát sau khi kế thừa ngôi chúa đã quyết định bỏ dinh phủ bên bờ sông Bồ (tức phủ Bác Vọng) để quay trở lại đất Phú Xuân xây dựng thủ phủ mới. Đây cũng là địa điểm cuối cùng trong 8 lần dời dựng thủ phủ ở Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Phủ Phú Xuân lần thứ hai này nhanh chóng được kiến thiết trở thành một đô thị trung tâm của vương quốc. Năm 1754, Võ vương nâng cấp Phú Xuân từ “phủ” trở thành “Đô thành” và mở rộng quy mô xây cất đô thị đầu não này…

Xem chi tiết

Diện mạo đô thị Huế thế kỷ XVII-XVIII qua sự mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài (Phần 1)

…Có thể nói, tại khu vực Huế trong các thế kỷ XVII-XVIII, nếu nói về địa điểm xây dựng trung tâm đô thị thì chỉ có 2: Kim Long và Phú Xuân, nhưng trên thực tế lại có đến mấy lần quy hoạch và kiến thiết đô thị: Thời kỳ thủ phủ Kim Long (1636- 1687), thời kỳ thủ phủ Phú Xuân lần thứ nhất (1687-1712), thời kỳ Đô thành Phú Xuân (1738-1775) và thời kỳ Kinh đô Phú Xuân của triều Tây Sơn (1786-1801)….

Xem chi tiết

Thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê – Đôi lời bàn thêm về phạm vi, vị trí của hoàng thành và cung thành

Khu khai quật 18 Hoàng Diệu nằm trong Hoàng thành Thăng Long thời Lê thì có lẽ không cần phải nói thêm nữa, nhưng nó nằm ở trung tâm Hoàng thành hay chỉ là khu vực phía Tây Hoàng thành như nhiều văn bản công bố lâu nay?. Trong khu vực được coi là Hoàng thành Thăng Long, nói như PGS. TS Nguyễn Thừa Hỷ vào thời Lý – Trần không hề có khái niệm Hoàng thành, vậy thì toà thành hiện hữu ấy phải được gọi là thành gì?

Xem chi tiết

Hải cảng miền Đông Bắc và hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII (Qua các nguồn tư liệu phương Tây) – Phần 1

Bài viết này cố gắng tập trung phục dựng toàn cảnh bức tranh các hải cảng miền Đông Bắc nước ta nhằm làm sáng tỏ vai trò của một số địa điểm trong hệ thống thương mại liên hoàn của Đàng Ngoài ,thế kỷ XVII. Do giới hạn về thời gian và dung lượng, chuyên luận sẽ tập trung vào hai khu vực trọng yếu là vùng cửa sông Thái Bình và hải cảng Tinnam (4). Để thuận lợi cho những thảo luận về ngoại thương Đàng Ngoài thế kỷ XVII về sau, phần tiếp theo sẽ giới thiệu vắn tắt một số vấn đề về ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ trước đó.

Xem chi tiết

Súng thần công thời Nguyễn

Súng thần công là trọng pháo, loại vũ khí rất quan trọng tạo nên sức mạnh cho quân đội dưới thời quân chủ. Các triều đại phong kiến Việt Nam biết sử dụng trọng pháo vào thời điểm nào chưa có tư liệu chính xác cho biết, nhưng theo đại việt sử ký toàn thư thì khoảng thế kỷ XIV khi Chămpa tấn công Việt Nam, vua Chăm là Chế Bồng Nga đã chết vì đạn trọng pháo của Việt Nam (năm 1390). Đến thế kỷ XVII, dưới thời Nguyễn, hỏa lực của trọng pháo đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của quân đội, lúc này trọng pháo được người Việt gọi là súng thần công.

Xem chi tiết

Tước chế thời Lê sơ (Phần 1)

Thời Lê sơ nói riêng và vương triều Hậu Lê nói chung đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà sử học, chính trị, văn học, văn hóa… Các vấn đề như: khởi nghĩa Lam Sơn, “thể chế lưỡng đầu”, giáo dục – khoa cử, chính trị, hệ thống quan chức… các nhân vật như Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông… đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới nhiều góc độ. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu riêng về tước vị. Hệ thống tước vị thời Lê sơ mới chỉ được đề cập rải rác trong các bộ quốc sử, các công trình sử học và nghiên cứu sử học hiện đại, tiêu biểu là các công trình….

Xem chi tiết

Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: Về thời điểm xuất hiện của Phủ Tây Hồ từ góc nhìn Nhân loại học Lịch sử (Phần 3)

Tựu trung, qua những dẫn giải ở trên, đến đây, có thể nói rằng, cho đến khoảng thập niên 1940, các nơi thờ Mẫu Liễu được biết đến nhiều tại địa bàn Hà Nội là đạo quán Bích Câu, đền Văn Tân, chùa Ngọc Hồ (chùa bà Ngô), đền Sùng Sơn vọng từ. Cái tên “Phủ Tây Hồ” có lẽ chưa xuất hiện. Hệ thống đền phủ thờ Mẫu Liễu mang tính quốc gia lúc đó là hệ thống gồm ba trung tâm Phủ Giày – Phố Cát – Đền Sòng, chưa có PTH; nói khác đi, PTH chưa bước vào, hay chưa được thâu nạp vào, hệ thống đền phủ thờ Mẫu Liễu mang tính quốc gia..

Xem chi tiết