Những đặc trưng ngôn ngữ-văn hóa của địa danh Nam Bộ

Sau khi sưu tập được hơn 70.000 địa danh của 19 tỉnh, thành Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát những đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa sau đây: tính hiện thực, tính dân dã, tính chệch chuẩn, tính bảo lưu, tính tỉ dụ và tính tiếp biến. Chúng tôi sẽ lần lượt triển khai từng đặc trưng…

Xem chi tiết

Jean-Louis Taberd và cuốn Dictionarium Anamitico-Latinum

Một trong những quyển tự vị tiếng Việt xa xưa có liên quan tới tiếng Đàng Trong (trong đó chủ yếu là tiếng Nam Bộ) là quyển “Dictionarium Anamitico-Latinum” của Jean-Louis Taberd, (tên Việt là Từ), còn có tên gọi khác là “Nam Việt Dương Hiệp tự vị”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1838. Quyển tự vị này có nhiều ngữ liệu liên quan đến phương ngữ Nam Bộ…

Xem chi tiết

Từ âm tiết trong tên riêng đến đặc điểm cấu tạo của tên riêng Việt Nam

Tên riêng là một đơn vị thuộc mảng từ vựng, có giá trị định danh, nhưng định danh đặc biệt. Tính đặc biệt trong việc định danh của tên riêng thể hiện ở chỗ: Khác với từ trong ngôn ngữ – dùng để chỉ một lớp sự vật có các đặc tính giống nhau, tên riêng có bản chất là dùng để chỉ một người, một sự vật riêng rẽ…

Xem chi tiết

Từ ĐÌNH LÀNG tới NHÀ VĂN HÓA: SỰ BIẾN ĐỔI của KHÔNG GIAN SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN

Không gian công cộng chính là không gian phục vụ chung cho nhiều người, cho tập thể, là nơi mà mọi người có thế đến giao lưu và gặp gỡ nhau. Các không gian công cộng là khu vực hiệu quả nhất trong việc tạo nên các giao tiếp xã hội…

Xem chi tiết

Vài chi tiết về cuốn Connaissance du Vietnam của hai đồng tác giả Pierre Huard và Maurice Durand thuộc trường Viễn Đông bác cổ

Sách này dày 385 trang có chứa đựng 132 minh họa tuyệt vời liên quan tới mọi lãnh vực hoạt động của người Việt Nam, và được chia ra làm 21 Chương, ví dụ như Chương 1 nói về địa lý Việt Nam, Chương 2 nói về Lược sử Việt Nam, Chương 3 nói về Cơ thể của người Việt Nam nghiên cứu về Dòng giống, Bộ xương, Gân cốt, Da, Răng v.v…

Xem chi tiết

Văn hóa sông nước Nam bộ nhìn từ Khảo cổ học (Phần 2)

Đồ gia dụng của cư dân Nam bộ từ thời tiền sử đến gần đây vẫn bảo lưu một số vật dụng đặc trưng cho lối sống sông nước (ghe xuồng, bếp cà ràng…). Trong các di tích khảo cổ học bên cạnh rất nhiều hiện vật bằng các chất liệu khác nhau, có thể nhận thấy đồ gốm là loại hình hiện vật thể hiện truyền thống bản địa nhất.

Xem chi tiết

Văn hóa sông nước Nam bộ nhìn từ Khảo cổ học (Phần 1)

Nam Bộ có địa hình tự nhiên khá đa dạng, có thể phân biệt ra ba dạng địa hình (hoặc ba vùng địa hình). Đông Nam bộ là vùng đất đỏ badan, vùng phù sa cũ. Miền Tây Nam bộ, cũng được gọi là Châu thổ hoặc đồng bằng sông Cửu Long, Vùng thứ ba nằm trong hải phận Nam bộ Việt Nam, gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ.

Xem chi tiết

Các loài GIA VỊ trong ẨM THỰC VIỆT

Đặc trưng của ẩm thực Việt chính là nhờ các gia vị . Gia vị đã là nét văn hóa. Thực vậy, món ngon của Hà Nội có bún chả, chạo tôm, xôi mặn thập cẩm, chả cá Lã Vọng, ốc… Món ngon của Huế thì có bánh bèo, bánh khoái, hến xúc bánh tráng hay món ăn vỉa hè như bánh tráng nướng, mì Quảng, bò nướng lá lốt…

Xem chi tiết

Phụ nữ Tây Phương nhìn phụ nữ Việt Nam 100 năm trước

Bài dịch dưới đây là Chương VIII, trong quyển On & Off Duty in Annam của Gabrielle M. Vassal, được xuất bản tại Luân Đôn năm 1910. Tác giả là một phụ nữ người Anh, theo chồng là một bác sĩ quân y người Pháp sang phục vụ tại Viện Pasteur ở Nha Trang hồi đầu thế kỷ thứ 20. Bài viết vì thế có giá trị như một cái nhìn hiếm có của một phụ nữ Tây Phương đối với phụ nữ Việt Nam gần 100 năm trước đây, với nhiều nhận xét thú vị.

Xem chi tiết

Nghiên cứu Việt Nam qua kho sách Nhật Bản hiện lưu trữ tại Hà Nội (Phần 2)

Trong số 33 bài viết liên quan đến lịch sử Việt Nam, tác giả có số lượng được tuyển chọn nhiều nhất 16 bài là Kubo Tokuji 久保徳二, nếu tính cả năm bài dưới đây: Hình thế nước An Nam; Loạn lạc ở Giao Chỉ; Cuộc xâm lược phương Nam của Hốt Tất Liệt; Tôn Sĩ Nghị thua trận (xếp ở mục Chiến tranh chống xâm lược và giải phóng) số bài của ông được tuyển chọn lên tới 21 bài.

Xem chi tiết

Nghiên cứu Việt Nam qua kho sách Nhật Bản hiện lưu trữ tại Hà Nội (Phần 1)

Năm 1901, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d’Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) được thành lập tại Hà Nội, cùng với việc nghiên cứu Thư viện EFEO cũng đã ra đời nhằm mục đích thu thập những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu sử học, khảo cổ học, xã hội học, bi ký học,… Bên cạnh việc sưu tầm thu mua sách, Thư viện còn nhận rất nhiều sách biếu tặng, hoặc sách trao đổi. Thư viện được chia làm bảy kho (bộ): gồm Âu văn bộ; Hán văn bộ; An Nam bộ; Nhật Bản bộ; Địa đồ bộ; Tả bản bộ và Thác bản bộ.

Xem chi tiết

Nghiên cứu LỊCH SỬ và VĂN HỌC VIỆT NAM ở NHẬT BẢN (Phần 2)

Những thành tựu các nhà nghiên cứu lịch sử và văn học Việt Nam ở Nhật Bản có đóng góp to lớn cho sự phát triển Việt Nam học, khích lệ các nhà nghiên cứu Việt Nam nghiên cứu về đất nước mình. Hơn nữa, bằng uy tín của mình, họ đã chủ động hợp tác với các nhà nghiên cứu Việt Nam nghiên cứu chung những mảng đề tài lớn, tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế, thúc đẩy nghiên cứu Việt Nam, đưa nghiên cứu Việt Nam hội nhập với nghiên cứu thế giới.

Xem chi tiết

Nghiên cứu LỊCH SỬ và VĂN HỌC VIỆT NAM ở NHẬT BẢN (Phần 1)

Theo GS Furuta Motoo thì, trong việc nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài (ngoài Việt Nam), xét về quy mô, tổ chức, số lượng báo cáo học thuật lẫn cơ quan nghiên cứu thì Nhật Bản chiếm một vị trí hàng đầu (Furuta Motoo, 2000, tr.227). Trong các Hội thảo Việt Nam học quốc tế, lần nào họ cũng tham dự một số lượng hùng hậu, chiếm giữ nhiều vị trí chủ đạo trong các diễn đàn.

Xem chi tiết

Nghiên cứu, giới thiệu Văn học Việt Nam ở Nhật Bản (Phần 2)

Việt Nam và Nhật Bản đều nằm trong khu vực văn hóa chữ Hán, mô hình văn hóa truyền thống rất nhiều điểm tương đồng, nên người Nhật không cảm thấy khó khăn khi tìm hiểu văn học Việt Nam. Ở châu Á, Nhật Bản là nước hiện đại hóa sớm nhất, nên giới nghiên cứu Nhật Bản cũng quan tâm nghiên cứu Việt Nam từ rất sớm.

Xem chi tiết

Nghiên cứu, giới thiệu Văn học Việt Nam ở Nhật Bản (Phần 1)

Việc nghiên cứu về Việt Nam ở Nhật Bản khá sớm, từ đầu thập niên 1930 đã có rải rác một số công trình. Đến thập niên 1940 thì số bài viết, sách du ký, sách dịch và nghiên cứu về Việt Nam tăng lên nhiều. Trong bối cảnh ấy, văn học Việt Nam cũng được nghiên cứu, giới thiệu và dịch thuật ở Nhật Bản với số lượng khá phong phú. Từ đầu thập niên 1960 đến nay, văn học Việt Nam được dịch, nghiên cứu, giới thiệu ở Nhật Bản với số lượng lớn và có hệ thống, đưa Nhật Bản trở thành một trong những quốc gia nghiên cứu văn học Việt Nam hàng đầu trên thế giới.

Xem chi tiết

CÁI NHÌN của HỌC GIẢ QUỐC TẾ về TÍNH LƯỠNG VỊ của NỮ GIỚI VIỆT NAM

Trong nhiều tài liệu, người nước ngoài, bao gồm cả các học giả, thường đưa ra nhận định nữ giới Việt Nam có địa vị đặc biệt, khác lạ so với các nước trong khu vực châu Á, có thể tạm gọi là trạng thái lưỡng vị (double-position). Đối sánh với người phụ nữ ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á, người nữ Việt Nam vừa ở địa vị phục tùng, lệ thuộc vào nam giới với vị trí bên dưới (tình trạng mang tính phổ quát của phụ nữ toàn cầu), lại vừa có địa vị ngang bằng, tương thuận với nam giới.

Xem chi tiết

Cách tiếp cận hỗn hợp trong nghiên cứu Việt Nam học

Ngành Việt Nam học chính thức xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2002 dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngành Việt Nam học đã có mặt trên 76 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc. Ngành Việt Nam học tuy là một ngành mới nhưng đã có nhiều thành công đáng kể; việc thành lập viện nghiên cứu của riêng mình hay những diễn đàn thảo luận về chuyên môn, các hội thảo quốc tế về Việt Nam học, các cuộc trao đổi học thuật thường niên là cơ sở ban đầu cho sự phát triển vững mạnh của ngành. Ở nước ngoài, ngành Việt Nam học và tiếng Việt xuất hiện ở nhiều trường đại học lớn.

Xem chi tiết

ĐẶC ĐIỂM XƯNG HÔ trong GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Khi khảo sát lời nói hằng ngày của người Việt ở miền Tây Nam Bộ chúng tôi thấy, ngoài cách xưng hô theo các cặp từ xưng hô theo quan hệ thứ bậc, dòng họ (nội, ngoại) trên, người miền Tây Nam Bộ còn thường xuyên sử dụng các từ xưng hô lâm thời trong giao tiếp hằng ngày, mang nét đặc trưng riêng của vùng văn hoá sông nước.

Xem chi tiết