Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh thời Nguyễn nhìn từ góc độ bố trí không gian nghi lễ (Phần 2)

Tác giả bài viết: PHAN THANH HẢI
(Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế)

3. Mối quan hệ giữa Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh

     3.1. Về chức năng

     Điện Thái Hòa là nơi cử hành các nghi lễ quan trọng nhất của triều đình và hoàng gia trong suốt 143 năm (1802-1945) tồn tại của vương triều Nguyễn. Tên gọi “Thái Hòa” có nghĩa là đạt đến cảnh giới cao nhất của sự hòa hợp giữa Âm và Dương; giữa Trời, Đất và Con Người(30). Điện Thái Hòa là ngôi điện trung tâm trên trục Dũng đạo của Kinh thành và Hoàng Cung Huế; đối với Hoàng cung, Điện Thái Hòa là ngôi điện quan trọng nhất trong 5 công trình trên trục trung tâm (Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Điện Càn Thành, Cung Khôn Thái và Điện Kiến Trung), là nơi đặt ngai vàng – biểu tượng quyền lực của triều đại. Vì vậy, đây cũng là công trình có quy mô thuộc hàng lớn nhất, được xây dựng, trang trí rất cầu kỳ và đặt trên một bệ đài cao vượt hẳn so với các công trình xung quanh.

     Các nghi lễ của triều Nguyễn vốn được phân ra làm 2 loại: các lễ triều hội và các lễ tế tự. Tại khu vực Ngoại triều thường tổ chức cả 2 loại nghi lễ này, nhưng các lễ triều hội thì tổ chức tại trục trung tâm, chủ yếu trong không gian từ Ngọ Môn đến Điện Thái Hòa, Điện Cần Chánh; nghi lễ tế tự thì tổ chức ở các miếu thờ tổ nằm ở trục bên tả (Triệu Miếu, Thái Miếu) và bên hữu (Hưng Miếu, Thế Miếu).

      Đối với các lễ triều hội, tùy theo quy mô lớn nhỏ mà triều đình thiết Đại triều hoặc Thường triều. Nghi lễ Đại triều được tổ chức tại Điện Thái Hòa và sân đại triều nghi ở phía trước nhưng đều xuất phát từ Điện Cần Chánh. Các loại lễ được xếp vào hàng Đại triều có loại không thường kỳ như: lễ Đăng quang, lễ Sách phong Hoàng Thái tử, lễ tiếp đón sứ thần các nước lớn; và loại thường kỳ như lễ Vạn Thọ, lễ Khánh Hạ hay lễ Chánh Đán (Tết Âm lịch), lễ Đoan Dương (tức Tết Đoan Ngọ, ngày 5/5 Âm lịch), lễ Đại triều thường kỳ hai lần mỗi tháng(31)… đều tổ chức tại đây.

      Còn Điện Cần Chánh vốn là nơi diễn ra các hoạt động có tính chất nội bộ giữa hoàng đế và Nội các, các đại thần cao cấp, là nơi tổ chức lễ Thường triều… Các nghi lễ và hoạt động chính tổ chức tại Điện Cần Chánh bao gồm:

     – Lễ Thường triều mỗi tháng 4 lần vào các ngày 5, 10, 20 và 25 Âm lịch.

     – Lễ Phất thức (lễ lau chùi ấn tín của vương triều) vào hạ tuần tháng Chạp Âm lịch hàng năm.

     – Lễ nghênh tiếp các sứ bộ ngoại quốc, các thân phiên, hoặc các quan chức ở Trung ương và địa phương đến chiêm bái, bái mạng, bệ kiến, bệ từ.

     – Các buổi yến tiệc và ca múa trong những dịp khánh hỷ của quốc gia và hoàng gia (thường là sau khi tổ chức lễ Đại triều)…

     Dưới thời vua Bảo Đại, nhà vua đã tổ chức lễ cưới của mình với Hoàng hậu Nam Phương tại Điện Cần Chánh. Tuy nhiên, đây là sự kiện đặc biệt và chỉ xảy ra một lần trong suốt 13 đời vua Nguyễn.

BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGHI LỄ
TẠI ĐIỆN THÁI HÒA VÀ ĐIỆN CẦN CHÁNH

STTTên gọiThời
gian
Địa điểmNội dung,
mục đích
Chủ trìĐối tượng
tham gia
(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)
1Ban sóc1/12 ÂLĐiện Cần
Chánh/ Thái Hòa/Ngọ Môn.
Ban lịch mới cho thân vương, đại thần, đại diện địa phương.Khâm Thiên giám-Bộ Lễ.Văn võ bá quan, kỳ lão và đại diện địa phương.
2Phất thức20/12 ÂLĐiện Cần
Chánh.
Lau chùi ấn tín,
nghỉ làm việc.
Nhà vua.Đại thần văn võ từ Nhị phẩm trở lên.
3Thướng tiêu (lễ Dựng Nêu)30/12 ÂLSân Điện
Thái Hòa.
Dựng Nêu, phòng chống ma quỷ.Bộ Lễ.Văn võ bá quan
4Mừng vua
năm mới (lễ Khánh Hạ, hay lễ Chánh Đán)
1/1 ÂLTừ Ngọ Môn đến Điện Cần
Chánh.
Chúc mừng vua năm mới.Bộ Lễ.Văn võ bá quan, họ hàng nội ngoại vua, đại diện địa phương.
5Tế kỳ đạo11/1 và
12/1 ÂL
Điện Cần
Chánh, bên
ngoài KT,
phía nam.
Lễ xuất quân
đầu năm, cầu
may mắn.
Đại thần võ ban hàm Nhất phẩm.Văn võ quan lại và binh lính.
6Lễ Khánh
niệm Hưng
quốc
2/5 ÂLĐiện Cần
Chánh.
Kỷ niệm thành lập triều đại (tức lễ Quốc khánh).Bộ Lễ.Văn võ bá quan, họ hàng nội ngoại vua, đại diện địa phương.
7Lễ Đoan Dương
(Đoan Ngọ)
5/5 ÂLĐiện Cần
Chánh/Thái
Hòa.
Mừng tết Đoan
Ngọ.
Bộ Lễ.Văn võ bá quan,
họ hàng nội
ngoại vua, đại
diện địa phương.
8Lễ Vạn ThọTùy ngày
sinh nhật của các đời vua
Điện Thái
Hòa/ Điện
Cần Chánh.
Mừng sinh nhật nhà vua.Bộ Lễ.Văn võ bá quan, họ hàng nội
ngoại vua, đại diện địa phương.
9Lễ Truyền lôTùy thời
gian
Điện Cần
Chánh/ Điện
Thái Hòa/
Ngọ Môn.
Xướng danh các vị Tiến sĩ tân khoa.Bộ Lễ.Văn võ bá quan,
và các vị Tiến sĩ
tân khoa.
10Lễ tiếp sứ giả các nước lớnTùy thời
gian
Điện Cần
Chánh/ Điện
Thái Hòa/
Ngọ Môn.
Đón tiếp sứ giả nước ngoài.Bộ Lễ.Văn võ bá quan.

     3.2. Mối liên hệ giữa hai điện khi tổ chức nghi lễ

     Có thể thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa hai ngôi điện này thể hiện qua một nghi lễ Đại triều tiêu biểu là lễ Khánh Hạ hay lễ Chánh Đán, tổ chức vào ngày Mồng Một Tết hàng năm qua sự mô tả của Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, với diễn trình như sau:

     Theo định lệ từ đời Gia Long (1802-1820), vào ngày Mồng Một Tết vua ngự ở Điện Thái Hòa, đặt lễ Đại triều, bá quan tham dự làm lễ Khánh Hạ (chúc mừng nhà vua nhân dịp năm mới).

     Vào rạng sáng Mồng Một, chiếc cờ rồng khổ lớn và các loại cờ khánh hỷ nhiều màu sắc đã được kéo lên và dựng ở Kỳ đài. Bá quan văn võ từ hai tòa nhà chờ ở hai bên (Tả – Hữu Đãi Lậu Viện) kéo ra tập hợp xếp hàng theo phẩm trật trên hai tầng sân đại triều. Đội nhạc lễ và các đơn vị nghi trượng, bảo vệ cũng tề tựu đầy đủ.

     Sau khi viên quan ở Khâm Thiên Giám báo giờ tốt, vua mặc triều phục từ Điện Càn Thành ra Điện Cần Chánh chuẩn bị. Đúng giờ hành lễ, ngự đạo rước nhà vua bằng kiệu đi từ Điện Cần Chánh ra Điện Thái Hòa (đi trên trục chính xuyên qua Đại Cung Môn) để làm lễ. Từ Ngọ Môn, chuông được gióng lên để đón chào, vua xuống kiệu và tiến vào điện bằng cửa sau trong tiếng nhạc mừng do đội đại nhạc cử. Chín phát đại bác báo hiệu, vua lên ngự ở ngai vàng. Tiếp đó, lễ Khánh Hạ được diễn ra với nhiều nghi tiết như các quan làm lễ bái, dâng biểu mừng năm mới, tuyên biểu đáp tạ của nhà vua(32)…

     Sau khi xong phần lễ, nhà vua lên kiệu về Điện Cần Chánh để thực hiện phần tiếp theo có tính chất nội bộ. Lúc này hoàng thân quốc thích và quan văn võ từ Tứ phẩm trở lên được ban đứng hầu hai bên tả hữu sân điện. Các quan thái giám, quan Bộ Lễ đưa các hoàng đệ, hoàng tử, công tử nhỏ tuổi đến mừng vua năm lạy. Sau đó, vua truyền chỉ ban yến tiệc(33) và tiền thưởng xuân.

     Kết thúc lễ, nhà vua lui vào Điện Càn Thành.

     Ở tất cả các lễ Đại triều khác, lộ trình di chuyển và trình tự các nghi thức chính của nhà vua cùng đoàn ngự đạo cũng tương tự, tức là lộ trình sẽ từ Điện Cần Chánh đi đến Điện Thái Hòa làm các nghi lễ chính với sự tham dự của bá quan văn võ, sau đó lại từ Điện Thái Hòa quay về Điện Cần Chánh làm các nghi lễ nội bộ trong phạm vi hoàng gia, hoặc có sự tham dự của các đại thần từ Tam, Tứ phẩm trở lên.

     Như vậy, thông qua cách thức tổ chức lễ Khánh Hạ và tất cả các lễ Đại triều khác, chúng ta có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ và sự phân công về chức năng giữa Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh, trong đó:

     – Các nghi thức thuộc lễ Đại triều đều xuất phát từ Điện Cần Chánh, sau đó mới qua Điện Thái Hòa và kết thúc tại Điện Cần Chánh. Trong quan hệ trên, Điện Cần Chánh đóng vai trò là phần “Nội” – là nơi chuẩn bị chính, trong quan hệ với phần “Ngoại” – nơi trình diễn các nghi lễ tại Điện Thái Hòa. Quan hệ này cũng là sự thể hiện rất đặc trưng mối quan hệ cân bằng trong – ngoài, Âm – Dương trong quan niệm và truyền thống của người Việt.

     – Tại Điện Cần Chánh, cũng thực hiện một số nghi lễ, nhưng đều thuộc các nghi lễ trong nội bộ hoàng gia, hoặc các nghi lễ mà nhà vua dành cho các vị quan lại cao cấp (tương đương như thành viên Nội Các), kể cả tổ chức yến tiệc.

4. So sánh với một số nước Đông Á

     Ở một số nước Đông Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, tuy văn hóa nghi lễ có nhiều điểm tương đồng nhưng cách bố trí cung điện và tổ chức nghi lễ so với thời Nguyễn ở Việt Nam đều có sự khác biệt khá lớn, đặc biệt là hầu như không thấy mối quan hệ bộ đôi kiểu âm-dương giữa điện chính của phần Ngoại triều và điện chính của phần Nội đình.

     Ở Trung Quốc, thời Minh Thanh, tại Kinh đô Bắc Kinh (1420-1911), toàn bộ phần Ngoại triều và Nội đình đều nằm trong khuôn viên của Tử Cấm Thành, nhưng chia thành hai phần rất rõ ràng. Phần Ngoại triều ở phía trước gồm 3 ngôi điện lớn bố trí sát nhau trên trục trung tâm (tiền tam đại điện), là các Điện Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa. Đây cũng là nơi tổ chức các nghi lễ quan trọng nhất như lễ Đăng quang của Hoàng đế, lễ Sách lập Hoàng hậu, lễ Truyền Lô (công bố danh sách Tiến sĩ tân khoa, lễ sinh nhật Hoàng đế, gia phong thêm huy hiệu cho Thái hậu, Hoàng hậu… Phần nghi thức và công tác chuẩn bị cho nghi lễ đều thực hiện trong khu vực này chứ không liên quan đến khu vực Nội đình, trong đó Điện Thái Hòa và sân đại triều là nơi tổ chức nghi lễ; Điện Trung Hòa là nơi chuẩn bị nghi thức và dành cho hoàng đế tạm nghỉ ngơi trong thời gian làm lễ; Điện Bảo Hòa là nơi tổ chức yến tiệc dành cho thân vương, thân phiên.

     Từ thời Thanh, các nghi lễ Thường triều được đưa hẳn vào Cung Càn Thanh, nằm trong khu Nội đình, toàn bộ các nghi thức và công tác chuẩn bị lại không liên quan gì đến khu vực Ngoại triều(34).

     Ở Hàn Quốc, các nghi lễ quan trọng của vương triều Choseon (Triều Tiên, 1392-1910) đều tổ chức tại Cung Cảnh Phúc, cung điện chính của Kinh đô Hán thành (Seoul). Trong cung điện này không có Điện Thái Hòa; Điện Cần Chánh (Chính) đóng vai trò là điện chủ của phần Ngoại triều, cũng là nơi tổ chức các nghi lễ quan trọng nhất của vương triều như lễ Đăng quang, phong Hoàng hậu, lễ Chính Đán (đón năm mới)… Toàn bộ công tác chuẩn bị cho nghi lễ được thực hiện trong các công trình kiến trúc phụ ở hai bên và phía sau (hành lang, các tòa nhà nhỏ phía sau).

     Phần Nội đình hoàn toàn là tẩm cung của vua và hoàng hậu, trong đó trung tâm là Điện Khang Ninh (dành cho nhà vua nghỉ ngơi) và Điện Giao Thái (dành cho hoàng hậu nghỉ ngơi).

     Còn các buổi yến tiệc do triều đình tổ chức thì được thực hiện tại lầu Khánh Hội, nằm bên hữu (phía tây) Điện Cần Chánh(35).

     Tại Bình An Kinh ở Kinh đô Kyoto trong thời kỳ ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Trung Quốc (từ 794-1868), Hoàng Cung (Đại Nội Lý) cũng chủ yếu chia thành hai phần theo cấu trúc Tiền triều và Nội đình. Các nghi lễ lớn của triều đình do Thiên Hoàng chủ trì như lễ Chính Đán, lễ Sách phong Hoàng hậu, Sách phong Thái tử… đều tổ chức tại khu Ngoại triều mà trung tâm là khu vực từ Triều Đường Viện đến Điện Đại Cực; công tác chuẩn bị được thực hiện trong các tòa nhà phụ xung quanh; yến tiệc thì được tổ chức tại Phong Lạc Viện nằm ở phía tây (bố trí song song với khu vực tổ chức nghi lễ). Khu vực Nội đình (Nội Lý) nằm ở phía bắc khu Ngoại triều chỉ dùng để tổ chức các buổi thường triều, các nghi thức nhỏ và chủ yếu là không gian sinh hoạt riêng của Thiên hoàng cùng nội bộ hoàng gia(36).

     Như vậy, cách quy hoạch và bố trí không gian nghi lễ tại Hoàng Cung triều Minh Thanh cũng như của vương triều Choseon Triều Tiên và Thiên hoàng Nhật Bản (thời kỳ đầu của Bình An Kinh – Kyoto), xét về bản chất là khá giống nhau. Các nghi lễ chính của triều đình đều tổ chức trong không gian của khu Ngoại triều, hầu như không có mối liên hệ với khu vực Nội đình kiểu “trong-ngoài” như tại Hoàng Cung triều Nguyễn ở Huế.

5. Kết luận

     Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh là hai ngôi điện quan trọng nhất ở khu vực Ngoại triều và Nội đình của Hoàng Cung thời Nguyễn, và dù có chức năng riêng, chúng vẫn có mối quan hệ đặc biệt với nhau trên phương diện quy hoạch không gian và tổ chức các nghi lễ của triều đại này. Có thể nói mối quan hệ giữa Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh là sự thể hiện rất đặc trưng mối quan hệ trong – ngoài, âm – dương theo quan niệm và truyền thống văn hóa của người Việt.

     Như vậy, việc nghiên cứu quy mô, cấu trúc, và đặc biệt là cách bố trí không gian để tổ chức các nghi lễ của Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh thời Nguyễn sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề về phương pháp quy hoạch và mối liên hệ giữa các cung điện chính của Kinh đô Việt Nam dưới thời quân chủ. Ở các nước Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu cách thức bố trí và tổ chức các nghi lễ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu tư tưởng quy hoạch của người xưa. Đây cũng là một hướng nghiên cứu rất được quan tâm ở Nhật Bản và Hàn Quốc hiện nay.

__________
(30) Tên gọi Thái Hòa thời cổ đại vốn chỉ cho sự hòa hợp âm dương, trong quẻ Càn của Kinh Dịch có câu: “Bảo hợp thái hòa nãi lợi trinh” (giữ được sự hòa hợp thì có lợi cho điều chính). Thái Hòa cũng là tên của ngôi điện chính trong Hoàng Cung Bắc Kinh thời Minh Thanh. Trong khối các nước đồng văn, chỉ Việt Nam và Trung Quốc gọi điện chính của Hoàng Cung là Điện Thái Hòa. Cũng có khi người ta dùng tên gọi Kim Loan để chỉ ngôi điện này.

(31) Từ năm Gia Long thứ 5 (1806), triều Nguyễn đã có quy định các ngày Mồng 1 và ngày 15 hàng tháng là những ngày thiết đại triều ở Điện Thái Hòa.

(32) Trong những nghi tiết này còn có sự chen lẫn của những tiết mục múa hát cung đình. Buổi lễ kết thúc bằng khúc Hòa bình chi chương và âm thanh rộn rã của ban Đại nhạc. Trong những buổi đại lễ như thế này, ban Múa hát cung đình đều phải tấu năm bài dùng chữ “Bình” như Lý bình, Túc bình, Khánh bình, Di bình, và Hòa bình.

(33) Yến tiệc Tết, thường được tổ chức ở Điện Cần Chánh và Tả Vu, Hữu Vu vào hai ngày (Mồng Một và 2 Âm lịch). Hoàng thân quốc thích cùng các quan từ Tứ phẩm trở lên dự vào ngày Mồng 1; các quan từ Ngũ phẩm trở xuống dự vào ngày Mồng 2. Các quan Phủ doãn, quan tỉnh trì dự tiệc yến ở tả, hữu Ðãi Lâu Viện (ở hai bên, trước Điện Thái Hòa).

(34) Tham khảo: Cố Cung/Tử Cấm Thành từ https://vi.m.wikimedia.org.

(35) Tham khảo: Gyeongbokgung (Cảnh Phúc Cung) từ https://vi.m.wikimedia.org.

(36) Tham khảo: Kyoto/Kinh Đô từ https://vi.m.wikimedia.org.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Đắc Đàm (2002). “Nhật ký An Nam”, in trong: Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, B.A.V.H. (1925). Tập XII. Bản dịch của Hà Xuân Liêm. Nxb Thuận Hóa. Huế.

2. Léopold Cadière (1914). La Porte Dorée du Palais de Hué les palais adjacents, notice historique. Bulletin des Amis du Vieux Hué.

3. Lê Thị An Hòa (2018). Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Khoa học Huế.

4. Nguyễn Bá Trác (1963). Hoàng Việt giáp tý niên biểu. Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản.

5. Nội Các triều Nguyễn (1960). Mục lục châu bản triều Nguyễn, triều Gia Long. UB Phiên dịch Sử liệu Việt Nam. Viện Đại học Huế.

6. Nội Các triều Nguyễn (1993). Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Bản dịch Viện Sử học. Tập 13. Nxb Thuận Hóa.

7. Phan Thuận An (2001). “Điện Cần Chánh bao giờ mới được phục hồi”. Tạp chí Thông tin Khoa học Công nghệ. Số 2.

8. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1960). Đại Nam nhất thống chí. Tập Kinh sư. Bản dịch của Tu trai Nguyễn Tạo. Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản. Sài Gòn.

9. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1963). Đại Nam thực lục. Tập II,III, IV. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb Sử học. Hà Nội.

10. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1965). Đại Nam thực lục. Tập XII. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb Khoa học. Hà Nội.

11. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1969). Đại Nam thực lục. Tập XXI. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH. Hà Nội.

12. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1977). Đại Nam thực lục. Tập XXXVII. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH. Hà Nội.

13. Thái Văn Kiểm (1960). Cố Đô Huế. Nha văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản. Sài Gòn.

TÓM TẮT

     Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh là hai công trình quy mô và có vai trò quan trọng bậc nhất trong khu vực Hoàng Thành và Tử Cấm Thành tại Kinh đô Huế thời Nguyễn (1802-1945). Xét dưới góc độ bố trí không gian và nghi lễ, hai ngôi điện này có mối quan hệ mật thiết với nhau và là biểu hiện tiêu biểu nhất của mối quan hệ giữa điện chính (chủ điện) của hai khu vực Ngoại triều và Nội đình. Bài viết dưới đây, thông qua việc tìm hiểu quy mô, cấu trúc và cách thức tổ chức không gian nghi lễ tại hai ngôi điện trên để làm rõ mối quan hệ giữa chúng.

ABSTRACT

     Thái Hòa Palace and Cần Chánh Palace are two scale works and play the most important role in the area of the Imperial Citadel and the Forbidden Purple City in the Huế Ancient Capital during the Nguyễn Dynasty (1802-1945). From the perspective of spatial and rituals arrangement, they have a close relationship with each other and are the most typical expression of the relationship between the main hall of the two areas with the Outer and Inner Dynasties. Through understanding their scale, structure and organization of the ritual space, article clarifies the relationship between them.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (167), 2021

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh thời Nguyễn nhìn từ góc độ bố trí không gian nghi lễ (Tác giả: Phan Thanh Hải)