Một số sinh hoạt NGHI LỄ và PHONG TỤC trong LỄ HỘI CỔ TRUYỀN của NGƯỜI KHMER NAM BỘ

NGUYỄN KHẮC CẢNH
(Tiến sĩ, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHỌG TP HCM)

     Người Khmer Nam Bộ có nền văn hoá phát triển khá sớm, tồn tại và được chắt lọc qua thời gian, chứa đựng nhiều giá trị tinh hoa đặc sắc về vật chất và tinh thần. Một trong những thành tố không thể không nói tới của nền văn hoá đó là lễ hội cộng đồng.

     Là cư dân nông nghiệp chuyên canh lúa nước, người Khmer Nam Bộ có rất nhiều lễ hội cộng đồng mang đậm chất dân gian. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập khía cạnh sinh hoạt nghi lễ và phong tục, hầu khắc hoạ thêm chất dân gian đậm nét trong các lễ hội cổ truyền của người Khmer Nam Bộ.

     Có thể xem các lễ hội cộng đồng của người Khmer Nam Bộ như một hình thức diễn xướng dân gian. Diễn xướng là một sự tổng hợp gồm diễn là hành động (nhảy, múa, tế lạy…) và xướng là nói (hát, âm thanh). Diễn xướng là một hình thức truyền đạt thông tin, một tổ hợp mà trong đó mỗi hành động, lời nói, hình khối, màu sắc… là để truyền đạt một thông tin nào đó. Các thông tin này thường được biểu hiện ước lệ dưới dạng biểu tượng, biểu trưng, nửa như phô bày, nửa như ẩn giấu cái mà nó muốn truyền đạt, cả trong phần lễ và phần hội, làm cho tính thiêng liêng, huyền bí của lễ hội được tăng thêm [Ngô Đức Thịnh, 2014: 63]. Như thế, những hình thức sinh hoạt nghi lễ, phong tục trong lễ hội như dâng cúng, tế rước, hội thi… là những biểu hiện của diễn xướng. Mỗi lễ hội cộng đồng là một cuộc đại diễn xướng và trong đó mỗi nghi lễ phong tục là một màn trình diễn.

     Dâng cúng: Đối với người Việt trong các lễ luôn có nghi thức cúng tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh được phân thành các tuần lễ khác nhau, như tuần dâng hương, tuần dâng hoa, tuần dâng rượu, tuần dâng trà… với ngôn ngữ, ăn mặc, đi đứng, điểu bộ khác thường mà về hình thức là mô phỏng phong cách cung đình Huế thế kỷ XVIII – XIX [Ngô Đức Thịnh, 2014: 63]. Người Khmer Nam Bộ sống theo triết lý của Phật giáo Theravada (Phật giáo Nguyên thuỷ hay Phật giáo Nam tông), coi cuộc sống hiện tại chỉ là khổ đau và tạm bợ, cứu cánh của cuộc sống này không phải để làm giàu hay đạt được những danh vọng trần tục mà là để tích phước cho cuộc sống vĩnh hằng, sau khi chết. Trong đó, một trong những hình thức tích phước quan trọng là dâng cúng cho nhà chùa và sư sãi. Những của cải vật chất dâng cúng, theo quan niệm của người Khmer, cũng sẽ nương theo nhang khói và những lời đọc kinh của sư sãi mà đến được với ông bà, cha mẹ và những người đã khuất để thoả lòng hiếu thảo, biết ơn của những người đang sống. Vì thế, dâng cúng là một nghi thức quan trọng hàng đầu trong các lễ hội cộng đồng của người Khmer Nam Bộ.

     Hầu như trong tất cả các lễ hội, nhất là các lễ hội lớn, quan trọng nhất trong năm, như các lễ Chol chnam thmay, Dolta và Ok om bok, người Khmer Nam bộ đều tổ chức nghi lễ dâng cơm (Vên choong han) lên chùa cho các sư sãi rất chu đáo, thành kính. Lễ vật là cơm, canh, bánh trái… được tập trung bày biện trước bàn thờ Phật ở nhà Hội (trai đường). Mở đầu lễ dâng cơm, một vị Acha đọc lời tụng niệm và thuyết pháp, sau đó các vị sư tụng kinh tạ ơn những người đã làm ra vật thực và hồi hướng những vật thực này tới linh hồn của những người đã khuất. Sau đó các vị sư thọ hưởng vật thực do các con sóc dâng cúng. Tất cả các vật thực dâng cúng của con sóc, ngon hay dở, các vị sư đều dùng qua gọi là nhận lễ. Sau khi thọ hưởng vật thực, các sư tụng kinh chúc phúc cho thí chủ và cầu siêu cho những người đã khuất. Kết thúc lễ dâng cơm là lời thuyết pháp, tạ ơn của các vị Acha.

     Người Khmer vốn sống bằng nghề trồng lúa nước. Việc trồng lúa nước ngày xưa phụ thuộc vào thiên nhiên. Gặp thời tiết thuận lợi lúa tốt bụi to, tròn đều, no hạt, thì khi lúa bắt đầu lốm đốm chín, người ta cắt những bông lúa chín đầu mùa đem về giã cốm dẹp, tổ chức cúng trăng. Người Khmer tôn thờ trăng vì trăng tượng trưng cho ước mơ đẹp nhất và đem đến cho con người cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Hằng năm, vào đêm rằm tháng 10 âm lịch, thời tiết mát mẻ, lúc lúa đã no hạt, người Khmer tổ chức lễ cúng trăng gọi là lễ “Ok om bok”, mang ý nghĩa mừng cơm mới sau những ngày tháng lao động vất vả.

     Lễ cúng trăng diễn ra vào đầu ngày rằm. Khi trăng vừa ló dạng, người ta bày mâm cúng gồm cốm dẹp, chuối chín, dừa tươi, khoai môn, khoai mì, mía, … Ông bà gọi con cháu lại, trải chiếu quây quần hướng về mặt trăng, chắp tay vái lạy. Cúng xong, ông hoặc bà nắm một nắm cốm dẹp gọi từng đứa con, cháu lên, đút cốm dẹp vào miệng cho từng cháu và hỏi: “Cháu muốn gì?” Câu trà lời của trẻ nhỏ được coi là những điều ước muốn, may mắn sẽ tới trong năm. Sau khi cúng xong, cả nhà ra ngồi quây quần bên mâm cúng cùng nhau ăn uống vui vẻ.

     Hằng năm vào ngày rằm tháng 9 âm lịch Khmer, sau ngày Xuất hạ (Chênh vô sa) đồng bào Khmer Nam Bộ còn có lễ Đưa nước (Lôi protip) được tổ chức để tạ ơn Thần Đất (Pres Thôrni) và Thần Nước (Pres Kôông Kea). Theo quan niệm của người Khmer, qua một năm lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, con người đã làm ô uế thiên nhiên, nên phải làm lễ cúng để tạ lỗi. Mặt khác, thông qua lễ hội thả đèn nước, người ta muốn tạ ơn đấng thiên nhiên đã phù hộ con người làm ăn sinh sống bình yên, và mong muốn điều tốt lành hơn trong năm sau.

     Trong lễ này, lễ vật dâng cúng là đèn nước “protip”, thường là một chiếc bè làm từ cây chuối hoặc tre được lắp ghép thành hình chiếc thuyền theo mô hình chù tháp và các loại thú vật với nhiều hoa văn trang trí lộng lẫy. Thuyền thắp nhiều đèn cầy và chở gạo, muối, trái cây. Mở đầu lễ, các vị sư tụng kinh tưởng nhớ đến Đức Phật. Vị Acha chủ lễ đốt nhang, đèn cầy rồi nói lên lòng biết ơn của người dân đối với Thần Nước (Kôong Kea) đã đem lại mưa thuận gió hoà và cầu mong thần ban cho mọi người sức khoẻ dồi dào, thời tiết thuận lợi để có được một mùa bội thu trong năm tới. Sau đó người ta khiêng “protip” thả trôi theo dòng nước trong tiếng nhạc của dàn ngũ âm plêng pin peth và đội trống chhayăm.

     Với lòng sùng đạo, người Khmer Nam bộ còn có hẳn một lễ Dâng y (Kathina) cho các sư sãi trong chùa vào dịp ra hạ. Lễ Kathina là niềm vinh hạnh, tự hào và nguyện ước của mỗi gia đình người Khmer để tỏ lòng thành kính của Phật tử đối với Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Vì thế, hằng năm, ngoài lễ chung của cả cộng đồng, một số gia đình dòng họ còn tổ chức riêng một lễ rước và dâng cúng. Thường họ phải lên kế hoạch và trình với nhà chùa từ nhiều năm trước và phải được sư cả đồng ý. Ngoài ra, họ cũng phải nhận được sự chấp thuận của phum sóc thông qua một buổi họp tại chùa.

     Trong lễ này, vật phẩm dâng lên cho sư sãi là những lễ vật truyền thống như áo cà sa, bình bát, nhu yếu phẩm hay có khi là giường, tủ, bàn ghế… là những vật phẩm để sư sãi dùng trong những tháng kiết hạ học tập và trong sinh hoạt hằng ngày.

     Rước: Đây cũng là một hoạt động diễn xướng vừa mang tính thành kính, trang nghiêm (lễ), vừa rất sôi động với các nghi trượng, cờ phướn, kiệu, dàn nhạc, các linh vật do con người hoá trang thành, cùng các lễ vật dâng cúng… thu hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng (hội). Rước cũng là nghi lễ có ở nhiều lễ hội cùa người Khmer Nam Bộ, chủ yếu vào ngày chính lễ, vừa là để bày tỏ lòng thành kính lên Phật, Pháp, nghênh tiếp thần linh, vừa là sự phô diễn sức mạnh, sự đoàn kết của cộng đồng.

     Trong ngày thứ hai của lễ Dâng y, đồng bào Phật tử trong phum sóc tổ chức một đám rước quanh phum, sóc và xung quanh chánh điện. Người ta chọn những cô gái đẹp bưng những cây bông rực rỡ, lung linh sắc màu được trang trí bằng những sợi tua rua đong đưa theo bước chân người, lấp lánh bởi những chiếc gương tròn nhỏ, xinh xinh, cùng những đồng tiền giấy được xếp gọn và cột lại. Đoàn rước đủ cả già trẻ, gái trai, ăn mặc đẹp, có khi còn có cả chú khỉ Hanuman nhảy múa trong tiếng nhạc rộn ràng… Đám rước đi quanh phum sóc rồi vào chùa đi xung quanh chánh điện đủ 3 lần, tượng trưng cho kính Tam bảo, sau đó mới vào chánh điện làm lễ dâng cà sa và các lễ vật lên sư sãi.

     Trong lễ Chol chnam thmay, một nghi lễ quan trọng là rước Đại lịch (Maha sangkran) để tống tiễn năm cũ và chào đón năm mới, có ý nghĩa tương tự như lễ đón giao thừa trong Tết Nguyên đán của người Việt. Điều khiển đoàn rước là một vị Acha. Dẫn đầu đoàn rước là người mang mặt nạ chằn, tay cầm gậy múa mở đường. Kế đó là đội trống Chhayam, dàn nhạc ngũ âm rồi đến vị Acha đội mâm lễ vật gồm quyển đại lịch, nhang, đèn cầy, hoa…

     Sau cùng là con sóc cầm nhang, đèn cầy. Đoàn rước đi trong tiếng nhạc ngũ âm, tiếng trống rộn rã. Đoàn rước từ chùa đi đến cuối sóc rồi trở về chùa, đi đủ ba vòng xung quanh ngôi chánh điện, sau đó vào trong chánh điện. Vị sư cả tiếp nhận đại lịch đặt lên bàn thờ Phật, tụng kinh để đón vị thần Tevoda trong năm mới và cầu an cho tất cả mọi người [Nguyễn Thanh Luận, Phú Văn Hẳn, 2014: 391].

     Các hình thức diễn xướng thi tài: Có thể coi đây là một nghi thức độc đáo của lễ hội. Các hình thức thi tài này nhằm tái hiện một sự tích nào đó mang tính đặc trưng nhất của từng lễ hội. Trong các lễ hội của người Khmer Nam Bộ có nhiều hình thức thi tài, nhiều hình thức vui chơi giải trí (hội), nhưng trong đó độc đáo nhất phải kể đến là cuộc thi đua ghe ngo và cuộc thi đua bò.

     Đối với người Khmer, ghe ngo được xem là vật thiêng. Yếu tố tâm linh trong ghe ngo thể hiện qua việc tìm biểu tượng cho ghe ngo, thường là linh vật, và quan niệm mỗi ghe ngo có một vị thần giữ ghe. Chính vị thần này và những linh vật biểu tượng sẽ quy định sức mạnh của ghe cũng như đảm bảo sự an toàn cho vận động viên tham dự đua ghe. Ghe ngo chỉ được sử dụng vào việc thi đấu. Vì được xem là vật linh thiêng nên nhất cử nhất động đều phải cử hành lễ cầu xin, như: lễ cửa rừng xin cây làm ghe, lễ khởi công làm ghe ngo, lễ khánh thành ghe ngo, lễ đưa ghe lên nhà ghe,… Trước khi thi khoảng một tuần, các chùa Khmer thường tổ chức lễ mặc áo cho ghe ngo (còn gọi là lễ hạ thủy ghe ngo) thể hiện niềm tin của người Khmer vào lực lượng thần bí, vào vị thần nắm giữ vận mệnh, quyết định sự thành bại của ghe đua.

     Ghe không phải là của một cá nhân hay dòng họ nào mà là sở hữu của một ngôi chùa, đại diện cho một hay nhiều phum, sóc người Khmer. Nó được chế tạo để tham gia tranh tài trong Hội đua ghe. Do đó, thành tích của cuộc đua là niềm vinh dự của chùa, của địa phương tham gia thi đấu.

     Cũng thi đua ghe ngo, hội thi đua bò của người Khmer ở vùng Bảy Núi – An Giang cũng không đơn thuần chỉ là cuộc đua như một môn thể thao, mà nó hội tụ nhiều giá trị văn hoá, tâm linh. Người Khmer An Giang sử dụng sức kéo động vật – chủ yếu là bò – để kéo cày, nên người Khmer rất chú trọng việc thuần dưỡng bò. Nghề nuôi bò tồn tại gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của cộng đồng. Do địa hình thổ nhưỡng, nghề trồng lúa của người Khmer Bảy Núi chỉ diễn ra vào thời điểm giao mùa nắng – mưa, ở những khoảnh đất cát pha dưới chân núi. Thời điểm đó, nhu cầu cày bừa trong phum, sóc rất cao, mong kịp thời vụ. Nhằm tạo ra một cảm hứng kích thích việc “cày bừa”, để chứng tỏ đôi bò của mình là nhanh, khoẻ nhất trong mùa vụ, người dân chuyển sang “thi”. Ban đầu, việc tranh tài “cày đua” trên cùng mảnh ruộng chỉ xuất hiện ở vài người, sau lan ra nhiều người, nhiều phum, sóc. Mỗi chủ bò, chủ cày thấy đây là cách chứng minh được kết quả của quá trình lao động và vị trí của công cụ sản xuất trong gia đình, phum, sóc mình so với các phum, sóc khác. Đến thời điểm giao mùa, bắt đầu làm đất gieo sạ, họ thường dẫn bò đến mảnh ruộng để “cày đua”. Lâu dần thành lệ, từ hoạt động tự phát, qua nhiều năm, hoạt động dần có tổ chức, luật lệ rõ ràng hơn, trở thành một kiểu thức hội thi văn hoá hoà trộn với nhu cầu tín ngưỡng. Phần thưởng chiến thắng là dây “cà tha – lục lạc” treo cổ bò, do trụ trì cuộc thi ban tặng, đem lại niềm tin về một vụ cày cấy thuận lợi, mùa màng tốt tươi trong.

     Tóm lại, các sinh hoạt nghi lễ, phong tục trong các lễ hội, như điểm lại trên đây, là một hình thức diễn xướng dân gian. Nó được kế thừa, chắt lọc qua thời gian, được kết hợp theo một trình tự và cấu trúc chặt chẽ. Nó là nhu cầu văn hoá tinh thần, nhu cầu tâm linh, tiềm ẩn ý thức sáng tạo của người bình dân. Toàn bộ các cuộc diễn xướng, từ người sáng tạo, đạo diễn, hướng dẫn, diễn viên và khán giả đều là người dân trong làng, là con sóc của chùa, làm cho các lễ hội cộng đồng thấm đẫm tính chất dân gian, có giá trị cố kết cộng đồng rất lớn lao.

     Đây là yếu tố văn hoá cần được bảo tồn và phát huy một cách có chọn lọc. Việc gần đây, trong quản lý và tổ chức lễ hội, một số nơi đật ra “kịch bản lễ hội”, đưa các nghệ sĩ chuyên nghiệp vào dàn dựng, biểu diễn, tuỳ tiện đưa các yếu tố mới vào, phá vỡ các mô thức truyền thống… làm suy giảm tính chất dân gian cũng như tín ngưỡng của lễ và hội là điều cần phải được chấn chỉnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Đúc Thịnh (2014), “Lễ hội cổ truyền Thăng Long – Hà Nội”, Tạp chí Cộng sản, số 856 (2/2014).

2. Nguyễn Thanh Luận, TS.Phú Văn Hẳn (2014), “Đạo và đời trong lễ hội Choi Chnam Thmay của cộng đồng Khmer ở Nam Bộ”. Trong Kỷ yếu HTKH Phật giáo Nam tông Khmer đồng hành cùng dân tộc do Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer – Giáo hội Phật giáo VN đồng tổ chúc tại Kiên Giang 6/ 2014.

3. Nguyễn Đúc Dũng, Lê Thị Hồng Nhung (2014), “Một số biến đổi trong lễ hội Ook Om Boc của người Khmer (nghiên cứu trường hợp phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng”. Trong Kỷ yếu HTKH Phật giáo Nam tông Khmer đồng hành cùng dân tộc do Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer – Giáo hội Phật giáo VN đồng tổ chức tại Kiên Giang 6/2014.

4. Trịnh Thuý Quỳnh, Phú Văn Hẳn (2014), “Lễ Sen Dolta của cộng đồng Khmer Nam Bộ. Trong Kỷ yếu HTKH Phật giáo Nam tông Khmer đồng hành cùng dân tộc do Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer – Giáo hội Phật giáo VN đồng tổ chức tại Kiên Giang 6/2014.

Sự tích Chôl Chnăm Thmây được lưu truyền:

Ngày xưa có một cậu bé tên Thom Ma Bal, rất thông minh, biết đem sự hiểu biết của mình truyền bá cho mọi người. Dân chúng rất thán phục và rất thích nghe cậu thuyết giảng. Tài trí Thom Ma Bal ngày càng lan rộng đến tận thượng giới. Các vị thiên thần cũng xuống trần gian xin nghe Thom Ma Bal thuyết giảng. Do vậy, những buổi thuyết giảng của thần KaBưl Maha Brưm trên thượng giới ngày càng vắng vẻ.

    Thần Kabưl Maha Brưm rất có uy thế trên thượng giới lấy làm tức giận. Thần đã cho gọi hết các vị thiên thần trở về, cấm không cho xuống trần gian nghe thuyết giảng. Đồng thời thần tìm cách hảm hại Thom Ma Bal. Một hôm, lúc Thom Ma Bal đang thuyết giảng cho dân chúng nghe, thần Kabưl Maha Brưm xuất hiện và phán rằng: “Ta nghe đồn nhà ngươi thông minh xuất chúng, nhưng ta chưa tin điều ấy. Nay ta đặt cho ngươi ba câu đố, nếu ngươi giải đáp đúng ta sẽ cắt đầu của ta cho ngươi. Còn nếu không giải đáp được, thì ngươi phải dâng mạng sống của ngươi cho ta”.

    Không thể từ chối, Thom Ma Bal đành phải chấp nhận trả lời câu hỏi. Thần KaBưl Maha Brưm liền đặt câu hỏi:

    – Ngươi hãy cho ta biết: “Buổi sáng, duyên của con người nằm ở đâu? Buổi trưa, duyên con người nằm ở đâu? Buổi tối, duyên của con người nằm ở đâu?”.

    Hỏi xong thần hẹn bảy ngày sẽ trở lại nghe Thom MaBal giải đáp, rồi bay về trời. Thom Ma Bal suy nghĩ suốt ngày, đêm mà vẫn không tìm được câu giải đáp. Đến ngày thứ sáu rồi mà cậu bé vẫn chưa tìm được câu trả lời, cậu đi lang thang từ sáng đến trưa. Quá mệt mỏi và thất vọng, chàng nghỉ mệt dưới tàn cây cổ thụ.

    Lúc ấy, trên cây có hai con chim đại bàng đang nói chuyện với nhau. Chim mái hỏi chim trống:

    – Ngày mai ta sẽ đi ăn ở đâu?

    – Ngày mai ta sẽ ăn thịt Thom Mabal, chim trống đáp.

    Chim mái ngạc nhiên:

    – Tại sao ăn thịt Thom Ma Bal?

    Chim trống thuật lại chuyện thần Ka Bưl Maha Brưm yêu cầu Thom Ma Bal phải trả lời câu hỏi thách đố của thần. Nghe xong chim mái hỏi:

    – Vậy có ai giải đáp được không?

    Chim trống tự đắc đáp: Ta đã nghe thần Ka Bưl Maha Brưm nói là:

    – Buổi sáng, duyên của con người ở trên mặt, nên ngủ dậy người ta phải rửa mặt cho tươi tỉnh. Buổi trưa, duyên của con người ở trên ngực, nên người ta phải tắm cho mát. Buổi tối, duyên của con người ở dưới bàn chân, nên người ta thường rửa chân cho sạch trước khi đi ngủ.

    Thom Ma Bal ngồi dưới gốc cây, nghe được lời nói chuyện của đôi chim nên rất mừng rở và trở về nhà.

    Đúng hẹn, thần Ka Bưl Maha Brưm tay cầm gươm vàng, đáp xuống gặp Thom Ma Bal. Y lời chim trống nói hôm qua, Thom Ma Bal trả lời ba câu hỏi đó của thần Ka Bưl Maha Brưm.

    Điều mà Thom Ma Bal trả lời hoàn toàn chính xác. Thần Ka Bưl Maha Brưm thua cuộc ngửa mặt lên trời gọi bảy người con gái xuống trần gian bảo: “Cha đã thua trí Thom Ma Bal rồi. Theo lời hứa, cha phải chết. Các con hãy cất giữ đầu của cha trong tháp trên đỉnh núi Kaylas, nơi người trần không chạm đến được. Các con hãy cẩn thận, nếu để đầu cha rơi xuống biển, biển sẽ cạn, nếu để đầu cha tung lên không trung thì trời không có mưa và nếu để đầu cha trên mặt đất thì đất sẽ khô cằn, cỏ cây không mọc được”.

    Dặn các con xong, thần tự cắt cổ trao đầu mình cho con gái lớn và thân của thần biến thành một luồng ánh sáng bay vút lên không trung.

    Ngày nay, khi đến chùa của người Khmer bất kỳ, ta thường thấy đầu thần Ka Bbưl Maha Brưm (Thần Bốn Mặt) được thờ trong các tháp xây trong chùa. Nơi đặt đầu của thần là vị trí trung tâm, là bàn thờ chính trong các nghi lễ tôn giáo cũng như các nghi lễ truyền thống được tổ chức trong chùa.

    Cùng với Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Tết Chôl Chnăm Thmây của cộng đồng Khmer vẫn còn lưu giữ những phong tục lễ, Tết rất độc đáo. Với họ, tấm lòng kính Phật là một đức tin bất di bất dịch, bởi trong tư duy đơn giản của mọi người, đức Phật từ bi là trên hết.
(Theo Giáo Duc&Thời Đại)

Nguồn: Giảng dạy nghiên cứu Việt Nam học và tiếng Việt
– Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn
Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)

Hình đại diện: Quang cảnh ngày Tết Chôl Chnăm Thmây – Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com) thiết lập. Nguồn ảnh: Theo Giáo Duc&Thời Đại

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *