Cốt truyện tự thuật trong truyện thơ Nôm của Phạm Thái và Nguyễn Đình Chiểu (Qua hai tác phẩm Sơ kính tân trang và Lục Vân Tiên)

Bài viết tập trung đối chiếu các chi tiết, sự kiện chính trong tác phẩm với tiểu sử bản thân của nhà thơ để làm rõ các chi tiết tự thuật và nghệ thuật xây dựng cốt truyện tự thuật. Từ đó, khẳng định việc hai tác giả sử dụng tiểu sử bản thân để xây dựng tuyến nhân vật trong truyện thơ Nôm chính là sự tiếp nối, mở rộng đường biên thể loại, phát triển khả năng khai thác hiện thực và vị thế con người cá nhân tác giả.

Xem chi tiết

Yếu tố thần kỳ trong truyện Nôm tự thuật: Nghiên cứu qua trường hợp Sơ kính tân trang và tác phẩm Lục Vân Tiên

Sơ kính tân trang của Phạm Thái và Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là những thước phim bằng thơ bắt nguồn từ những sự kiện thuộc về tiểu sử bản thân của chính chủ nhân sáng tạo ra nó song lại được bao bọc bởi màn sương kỳ ảo, của đầy dẫy những yếu tố huyễn hoặc, hoang đường. Yếu tố thần kỳ trong hai tác phẩm tự thuật này không phải là sự tùy tiện, quen tay đơn thuần muốn chiều lòng người đọc đã quen tiếp nhận mà đó là một dụ ý nghệ thuật được tác giả ý thức, kế thừa và phát triển từ văn hóa dân gian, giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tự sự, phản ánh đời sống đa chiều, thấm đẫm giá trị thẩm mỹ ngàn đời của nhân dân…

Xem chi tiết

Để góp phần nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học

Theo cách nói thông thường, từ “huyền thoại” (myth trong thiếng Anh, mythe trong thiếng Pháp,  миф trong tiếng Nga…) thường được dùng như một từ đồng nghĩa với từ “sai lầm”, “sai lạc” hoặc “ảo tưởng” (niềm tin sai lạc). Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Platon cũng đã từng có thái độ phủ nhận huyền thoại vì cho rằng huyền thoại làm cho con người lạc lối, lầm đường. Theo cách hiểu như thế về huyền thoại thì để mô tả, để chỉ rõ một nhận định, một điều hiểu biết, một sự khẳng định nào đó là sai, là không đúng như sự thật, người ta thường phát biểu: “Đó chỉ là một huyền thoại!”….

Xem chi tiết

Tiếp cận văn hoá các tộc người Việt Nam bằng con đường nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian

Sự cần thiết của việc nghiên cứu so sánh văn hoá của 54 tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, nhất là giữa văn hoá của người Kinh (Việt) và văn hoá các tộc người khác đã từ lâu được giới nghiên cứu văn hoá Việt Nam đề cập đến. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, nghiên cứu so sánh văn hoá người Kinh với văn hoá các tộc người khác cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực chất là đặt văn hoá Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á để phân tích, nhận diện…

Xem chi tiết

Tính ngữ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt – những hướng tiếp cận

Khảo sát cho thấy có 2.388 câu ca dao của người Việt xuất hiện tính ngữ chỉ màu sắc. Trong đó, xuất hiện nhiều nhất là màu xanh, màu vàng, màu hồng, màu trắng, màu đỏ,… Bài viết sẽ đề xuất một số hướng tiếp cận về tính ngữ chỉ màu sắc như hướng tiếp cận liên văn hóa, hướng tiếp cận theo thi pháp học, hướng tiếp cận trong tương quan với nghệ thuật khác. Từ thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng: muốn hiểu được các “thông điệp” từ tính ngữ chỉ màu sắc cần phải đặt nó trong môi trường văn hóa, xã hội và điều kiện địa lý tự nhiên đã sản sinh ra nó.

Xem chi tiết

Phân định giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích thế tục

Trên đây, là hai lí do nhằm giải thích sự gần gũi và khác biệt giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích nói chung, truyện cổ tích thế tục nói riêng. Việc giải thích ấy cũng để phân định giữa chúng. Thật ra, chúng thuộc vào hai bình diện khác nhau, một bên thuộc văn học viết, một đằng thuộc văn học dân gian. Mà mỗi khi đã xác định như vậy, thì điều cần chú ý trước tiên, sở dĩ giữa chúng có những điểm gần gũi là do một số tác phẩm của chúng có cùng một đối tượng (một cốt truyện lưu truyền trong dân gian) để thể hiện.

Xem chi tiết

Chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy

   Bài viết này tập trung nghiên cứu biểu hiện của chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy, từ thơ viết về chiến tranh đến thơ nói về cuộc sống đời thường, thơ đề cập tới những vấn đề lớn lao đến thơ về những chuyện đời thường, nhỏ nhặt. Mặt khác, bài viết cũng tìm hiểu nghệ thuật thể hiện chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy thông qua một số phương tiện nghệ thuật như thể thơ, từ ngữ, phép điệp và giọng điệu.

Xem chi tiết

Về một câu tục ngữ liên quan đến bốn làng quê xứ Huế có cùng mô hình cấu trúc với nhiều câu tục ngữ ở các nơi khác

Ở Thừa Thiên Huế có câu tục ngữ “Bất thú Dạ Lê thê, bất thực Lương Quán kê, bất giao Nguyệt Biều hữu, bất ẩm Thạch Hàn thủy” (không cưới vợ ở Dạ Lê, không ăn gà ở Lương Quán, không kết bạn ở Nguyệt Biều, không uống nước ở Thạch Hàn)

Xem chi tiết

Bản chất của lối nối vòng trong đồng dao

Năm 2008, người viết có bài “Tìm hiểu lối nối vòng trong đồng dao”, đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (số 7, tr. 31-33). Bài viết này đã dựa vào tài liệu Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt (Nguyễn Thúy Loan và tgk. (1998), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, các tr. 115, 140, 88, 145, 94), để chép lại năm bài đồng dao có cùng kiểu cấu tạo văn bản theo lối nối vòng…

Xem chi tiết

Về khái niệm văn học trào phúng

Có lịch sử tồn tại không hề ngắn ngủi và đóng góp cho kho tàng văn học thế giới không ít kiệt tác, nhưng cho đến nay, văn học trào phúng nói chung và những tác phẩm trào phúng nói riêng dường như vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá một cách thỏa đáng và thấu đáo. Không phải lúc nào, giá trị của bộ phận văn học độc đáo này cũng được đánh giá cao, đôi khi còn bị gạt ra ngoài các công trình mang tính lý luận về thể loại văn học, hoặc bị coi như một thứ văn chương thứ cấp bên cạnh các bộ phận văn học được coi là chính thống.

Xem chi tiết

Tiếp cận một phương diện của lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ tiền đề thực tiễn và lý thuyết mới (I)

Chúng tôi đã trình bày những gợi ý lý thuyết từ một số trường phái nghiên cứu văn học, mỹ học lớn trên thế giới. Hiển nhiên, không một trường phái nào là không có giới hạn. Trên một phương diện, chính nhờ chấp nhận tính giới hạn, tính “chủ biệt” đó mà khoa học phương Tây đã đạt được những bước đột phá trên nhiều lĩnh vực chuyên biệt. Vấn đề là người nghiên cứu phải có khả năng liên kết nhiều lý thuyết để xử lý đối tượng…

Xem chi tiết

Tiếp cận một phương diện của lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ tiền đề thực tiễn và lý thuyết mới (II)

Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, ba mươi năm đầu thế kỷ XX là giai đoạn có tính chất bản lề trong bước chuyển giữa hai thời đại lớn của văn học dân tộc, là thời điểm diễn ra cuộc tái cấu trúc toàn bộ nền văn học trên cơ sở sự va chạm giữa hai hệ thống văn học, truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế nghiên cứu, bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận đó, việc tiếp cận giai đoạn văn học đầy phức tạp này cũng đang tồn tại những bế tắc chưa được giải quyết triệt để…

Xem chi tiết

Từ chân dung Thị Nở bàn về tính hiện đại trong ý thức trào phúng Nam Cao

Bài viết này khảo sát hai đặc trưng hài hước đen và nghịch dị, vốn được Nam Cao sử dụng nhiều nhất trong các chân dung trào phúng của mình, cụ thể qua trường hợp chân dung Thị Nở, để làm rõ những vấn đề nói trên của ý thức trào phúng Nam Cao trong tương quan với văn xuôi trào phúng 30-45 nói riêng và với nghệ thuật trào phúng Việt Nam nói chung.

Xem chi tiết

Đổi mới về lối viết của các tác giả nữ trong văn xuôi đương đại

Một trong những đổi mới mạnh mẽ nhất của văn xuôi Việt Nam từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay được thể hiện ở lối viết của một số cây bút tiêu biểu. Kiểu tự sự “bất khả tín” được định hình từ tư duy trò chơi, phương thức nhại và kết cấu cắt dán – lắp ghép là sự đổi mới nổi bật nhất trong lối viết của họ. Sự thay đổi cách thức tổ chức văn bản trong một số nhà văn nữ hiện đại đã góp phần đáng kể vào một chặng đường phát triển mới của văn xuôi Việt Nam.

Xem chi tiết

Thể tài văn xuôi du ký chữ Hán thế kỷ XVIII-XIX và những đường biên thể loại

Bàn về thể tài du ký nói chung và sự phát triển của văn xuôi du ký chữ Hán thế kỷ XVIII-XIX, các nhà lí luận đã xác định: “DU KÝ- Một thể loại văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến. Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng, miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến…

Xem chi tiết

Kiểu tư duy và những biến đổi trong phương thức thể hiện của văn học trào phúng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

Nếu coi các nhà thơ trào phúng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX như một loại hình tác giả có sự khác biệt nhất định với các loại hình tác giả nhà nho khác trong văn học trung đại Việt Nam thì kiểu tư duy và phương thức sáng tác là những yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt này. Kiểu tư duy được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau, trong đó những tác động của đời sống xã hội, hoàn cảnh sống và đặc biệt là thói quen tư duy, thế giới quan, nhân sinh quan, môi trường giáo dục, sức ép của hệ tư tưởng chính thống… sẽ đưa nhà văn đến những sự lựa chọn phương thức sáng tác khác nhau, hay ít nhất là dẫn đến những biến đổi nhất định trong phương thức sáng tác đã được định hình.

Xem chi tiết

Con đường tìm kiếm ngôn ngữ và thể loại trong văn học trào phúng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

Văn học trào phúng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu một phần quan trọng là nhờ vào nền tảng phát triển của văn học Nôm. Ngôn ngữ văn học Nôm đã có một lịch sử phát triển lâu dài từ thế kỷ XII, XIII, có được bước ngoặt lớn với Nguyễn Trãi ở đầu thế kỷ XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm thế kỷ XVI và đặc biệt phát triển trong giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với các tác giả kiệt xuất như Đoàn Thị Điểm (Chinh phụ ngâm bản diễn Nôm ?), Nguyễn Gia Thiều (Cung oán ngâm khúc), Nguyễn Du (Truyện Kiều, Văn chiêu hồn), Hồ Xuân Hương (thơ Nôm truyền tụng), Nguyễn Công Trứ (hát nói),…

Xem chi tiết

So sánh trào lưu nhân văn trong văn học Hàn – Việt thế kỷ XVIII – XIX

Bài viết xác định những tương đồng và khác biệt của quá trình định hình và phát triển trào lưu nhân văn trong văn học Hàn – Việt thế kỷ XVIII – XIX. Chứng dẫn qua một số hiện tượng thể loại, cảm hứng sáng tác, hệ thống chủ đề, tác gia, tác phẩm và nhân vật tiêu biểu. Phân tích nền tảng xu thế ly tâm chính thống, khẳng định ý thức con người cá nhân, chủ đề tình yêu và vai trò người phụ nữ. Nhấn mạnh ý nghĩa “giải Hán hóa”, “giải thể thể loại văn học chữ Hán” và đối sánh qua một số tác gia, tác phẩm tiêu biểu ở Hàn Quốc và  Việt Nam…

Xem chi tiết

Biến thể miêu tả của tín hiệu thẩm mĩ (Nghiên cứu trường hợp các tín hiệu-sóng đôi trong ca dao)

Tín hiệu thẩm mỹ là loại tín hiệu biểu trưng, thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Trong tác phẩm văn chương, tín hiệu thẩm mĩ được biểu đạt bằng chất liệu ngôn ngữ. Phân tích tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương cần dựa vào: a) Những biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể; b) Những biến thể miêu tả – cụ thể hóa tín hiệu thẩm mĩ hằng thể; c) Những biến thể do kết hợp giữa tín hiệu với tín hiệu trong tác phẩm…

Xem chi tiết

Giọng điệu trong một số tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn (giai đoạn 1986-2010)

Giọng điệu (tone) trong tác phẩm văn học là “lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [3, tr.135]. Nó góp phần quan trọng thể hiện thái độ, lập trường, tư tưởng, đạo đức, tình cảm của nhà văn đối với sự vật và hiện tượng được miêu tả. Các tiểu thuyết tiêu biểu viết về nông thôn Việt Nam (giai đoạn 1986-2010) đã thể hiện nhiều giọng điệu: khi sôi nổi, lúc trầm lắng, khi xót thương, lúc trào tiếu, khi trầm tĩnh mà sâu sắc, lúc triết lí mà như tâm tình…

Xem chi tiết