Nghiên cứu Việt Nam qua kho sách Nhật Bản hiện lưu trữ tại Hà Nội (Phần 1)

LEARNING ABOUT VIETNAM FROM A HANOI-BASED COLLECTION OF BOOKS BY JAPANESE AUTHORS

NGUYỄN THỊ OANH
(Phó Giáo sư. Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long)
ĐINH HUYỀN PHƯƠNG
(Thạc sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long)

MỞ ĐẦU

     Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d’Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) là viện nghiên cứu về lịch sử học, khảo cổ và ngôn ngữ học liên quan đến bán đảo Ấn Độ – Trung Hoa và các nước thuộc vùng Viễn Đông (tức Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc quần đảo Nam Dương). Theo Kim Vĩnh Kiện 1, “Viện Viễn Đông Bác cổ được thành lập vào ngày 15 tháng 12 năm 1898. Trước khi Tổng thống Pháp là Paul Doumer bị ám sát ở Paris (vào ngày mồng 6 tháng 5 [1932]), ông là Tổng đốc Indo Chine của Pháp. Tên đầu tiên của học viện là Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Đông Dương (Mission Archéologique d’Indochine), đến ngày 20 tháng 01 năm 1900 đổi thành tên Viện Viễn Đông Bác cổ. Việc nghiên cứu của học viện mang tính hàn lâm và chiếm vị trị quan trọng trong giới Đông Dương học của thế giới.

     Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp đương thời bao gồm các chức danh: Danh dự viên (Membres d’honneur); Chính viên (Membres permanents) và Phó viên (Membres temporaires). Chẳng kể là người bản quốc, ngay cả người nước ngoài đều là những người sánh ngang với các “thạc học” (học giả nổi tiếng) của thế giới. Nghiên cứu viên người nước ngoài đến từ các nước Hà Lan, Anh Quốc, Đức, Hà Lan, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản,… hiện không thể nêu hết tên của các học giả quốc tế, nhưng có thể kể tên “thạc học” của Nhật Bản với tư cách là Danh dự viên bấy giờ là ông Takakusu Junjiro 高楠順次郎. Chính viên được gọi là Giáo thụ (Giáo sư); Phó viên được tuyển chọn bình thường. Phó viên đi du lịch nghiên cứu ở các nơi ở Indo Chine; Indo; Chine và các nơi khác Đông Dương. Phó viên còn được gọi là Cấp phí sinh (Ecole pensionnaires). Chức danh Phó viên được bổ sung bằng những người tốt nghiệp ở Học viên Cao đẳng Pháp (Ecole des Hautes Etudes); Học viên Đông Dương ngữ (Ecole des Langues orientales) và Khoa Kiến trúc của Học viện Mỹ thuật (Ecole des Beaux-arts). Chức danh này có thời hạn trong một năm. Ngoài ra còn có chức danh Thông tin viên (Menbres correspondants). Không chỉ có nhân viên của học viện những người nào có khả năng nghiên cứu về Đông Dương học đều được cung cấp các tiện nghi nghiên cứu.

     Ở Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp có Viện trưởng, Trưởng phòng Khảo cổ học, Bí thư, Thư ký, Thủ thư, Học viên Ấn Độ, Học viên Trung Quốc, Học viên Lịch sử nghệ thuật cùng nhân viên nghiên cứu cổ tích của Ankoru, Giản Phố Trại (Kâmpŭchéa), Tokyo, An Nam, Chiêm Bà (Chăm Pa), Laos (Lào). Lẽ đương nhiên họ là nhân viên chính thức. Viện trưởng theo sự tiến cử của của Viện Hàn lâm Pháp và do Tổng đốc Indo-Chine của Pháp quyết định. Viện trưởng trước đó là Louis Finot; Alfred Foucher; Cl.E. Maitre và ngài Lesonard Aurousseau. Viện trưởng hiện nay là ngài Georges Caedés”.

     Năm 1901, EFEO được thành lập tại Hà Nội 2, cùng với việc nghiên cứu Thư viện EFEO cũng đã ra đời nhằm mục đích thu thập những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu sử học, khảo cổ học, xã hội học, bi ký học,… Bên cạnh việc sưu tầm thu mua sách, Thư viện còn nhận rất nhiều sách biếu tặng, hoặc sách trao đổi. Thư viện được chia làm bảy kho (bộ): gồm Âu văn bộ; Hán văn bộ; An Nam bộ; Nhật Bản bộ; Địa đồ bộ; Tả bản bộ và Thác bản bộ.

     Theo Kim Vĩnh Kiện, “Kho sách Nhật Bản do các ông Cl.E. Maitre; Noel Péri; và Gaspardone sưu tầm. Kho sách Nhật Bản có ký hiệu N và J. Ký hiệu N tức tên gọi các thư tịch cũ của Nhật Bản Nihon hoặc Nippon; Ký hiệu J là tên mới Japon. Hiện nay, ký hiệu N có khoảng 600 bộ 5.000 quyển trở lên. Ký hiệu J có ngàn trăm bộ (hơn ngàn bộ), 5.000 quyển trở lên, vẫn còn một số sách chưa lên mục lục hiện đang trong quá trình chuẩn bị, dự định sang năm sẽ hoàn thành. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các học giả Nhật Bản mà kho sách Nhật Bản được sưu tầm khá đầy đủ” (tr.134).

     Thực tế, bộ Thư mục sách Nhật Bản hiện nay đang sử dụng là bộ Thư mục đánh máy in Roneo do Thư viện KHXH biên soạn vào năm 1970. Sau này, thư viện đã cho biên soạn lại bộ Thư mục để tra trên mạng nhưng hiện chưa được sử dụng. Ngoài kho sách Nhật Bản của Thư viện EFEO, Thư viện KHXH còn bổ sung thêm một số tài liệu được sưu tầm, trao đổi vào thời điểm trước năm 1970. Gần đây, nhân tìm hiểu kho sách Nhật Bản, chúng tôi cũng nhận ra một số điểm còn hạn chế của bộ Thư mục sách Nhật Bản hiện nay, hy vọng trong thời gian tới có thể hợp tác với Thư viện KHXH để biên soạn bộ Thư mục sách Nhật Bản đầy đủ hơn, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của các nhà nghiên cứu.

1. Vài nét về bộ Thư mục sách Nhật Bản do Viện Thông tin KHXH biên soạn

 1.1. Lời giới thiệu bộ Thư mục sách Nhật Bản

     Bộ Thư mục sách Nhật Bản được biên soạn (từ trước đó?3) đến năm 1970 thì hoàn thành. Bộ Thư mục gồm 148 trang chính văn và 14 trang mục lục, được đánh máy in Roneo. Lời giới thiệu ở trang đầu sách Nhật Bản viết: “Sách, báo chí trong kho chữ Nhật ở Thư viện Khoa học xã hội hiện nay rất phong phú, nhưng vì thiếu người nên chúng tôi chỉ mới sơ bộ khai thác các sách và các bài luận văn trong tạp chí có liên quan đến Việt Nam, Lào, Campuchia,… về mặt lịch sử, địa lý, văn hóa, dân tộc, khảo cổ,… xin giới thiệu để bạn đọc có một khái niệm chung về nội dung kho sách và, do đó, có thể gợi ý cho chúng tôi những hướng cần đi sâu khai thác sau này. Về mặt thời gian, các ấn phẩm được nêu lên ở trong thư mục này hầu hết được xuất bản trước năm 1954 4.

     Cũng theo Lời giới thiệu, Thư mục sách Nhật Bản được chia làm hai phần:

     1/ Sách Nhật nói chung (chỉ giới thiệu khái quát).

     2/ Sách Nhật viết về Việt Nam, Căm-pu-chia, Lào (giới thiệu kỹ hơn)5.

     Trong mỗi phần Thư viện “chia thành nhiều mục nhỏ và sắp xếp theo thứ tự chữ cái”.

     “Để phục vụ bạn đọc Việt Nam không biết chữ Nhật tiện tham khảo, dưới phần giới thiệu hình thức sách, Thư viện ghi tên sách hoặc đề mục bằng chữ Việt Nam đã dịch từ chữ Nhật sang, hoặc bằng nguyên văn Hán Việt cùng với nội dung tóm tắt”.

     Lời giới thiệu cũng giới thiệu cách ghi ký hiệu sách Nhật cũ là J và N và ký hiệu sách mới: NBb.I; NB.4;… (“chưa thống nhất vì nhiều nguồn khác nhau”).

     Cuối Lời giới thiệu có ghi: “Vì điều kiện sách còn phân tán, nên hiện nay chúng tôi chưa thể giới thiệu tập trung từng đề tài và trọn bộ. Chúng tôi sẽ bổ sung vào những quyển thư mục tiếp. Mong bạn đọc thông cảm và chỉ dẫn cho những thiếu sót để chúng tôi rút kinh nghiệm biên soạn về sau được tốt hơn”.

     1.2. Nội dung bộ Thư mục sách Nhật Bản

Bộ Thư mục sách Nhật Bản chia làm hai phần:

1/ Thư mục sách Nhật Bản viết về Việt Nam.

2/ Thư mục sách Nhật Bản

     Ở phần thứ nhất, Thư mục sách Nhật Bản viết về Việt Nam chia làm 23 mục (không đánh số thứ tự), gồm: 1. Lịch sử; 2. Lịch sử, Địa lý; 3. Văn hóa, Dân tộc; 4. Dân tộc Chàm; 5. Hồ Chí Minh; 6; Chiến tranh xâm lược và giải phóng; 7. Ngôn ngữ, văn tự; 8. Sách, chữ Hán Nôm; 9. Luật pháp; 10. Kinh thế, thổ sản; 11. Mậu dịch, địa lý; 12. Mậu dịch giữa Việt Nam và Nhật Bản; 13. Giao thông; 14. Kiến trúc; 15. Ngoại giao; 16; Quan hệ giữa Việt Nam và người nước ngoài; 17. Khảo cổ; 18. Châu Á; 19. Campuchia, Lào; 20. Chủ nghĩa thực dân, Đế quốc, Trung lập; 21. Học viện Viễn Đông Bác cổ; 22. Sách dẫn, Mục lục, Thư mục, Tư liệu; 23. Tranh ảnh địa đồ.

     Ở phần thứ hai, Thư mục sách Nhật Bản gồm các mục 16 mục (không đánh số thứ tự): 1. Thông sử, lịch sử các ngành Quân sự, Thương nghiệp, Nông nghiệp, Danh nhân, Giáo dục; 2. Địa lý; 3. Dân tộc; 4. Văn hóa, Phong tục; 5. Triết học, Tôn giáo; 6. Văn học; 7. Văn thư; 8. Ngôn ngữ, Văn phạm, Văn tự; 9. Pháp luật; 10. Thống kê; 11. Khảo cổ; 12. Lịch sử, Địa lý, Văn hóa nước ngoài; 13. Mục lục, Sách, Thư mục; 14. Sách tra cứu, Tự điển; 15. Tạp chí; 16. Tranh ảnh; Địa đồ;

     Do khuôn khổ bài viết chúng tôi xin giới thiệu danh mục các bài viết một số bài nghiên cứu và một số tác giả Nhật Bản tiêu biểu ở mục Lịch sử; Văn hóa dân tộc trong Bộ Thư mục sách Nhật Bản viết về Việt Nam.

     Thứ nhất: Mục Lịch sử

     Ở mục này Thư viện6 giới thiệu 33 bài viết liên quan đến lịch sử Việt Nam đăng tải trên các Tạp chí như Sử lâm; Hoằng Văn đường thư; Thông hạng nhất lãm; Thư viện lục quân Nhật Bản; Sử học; Đông Dương thông sử; Dục sinh xã; Lịch sử học nghiên cứu; Lịch sử bình luận; Đông Dương học báo,... xuất bản tại Tokyo, sớm nhất là năm 1880 và muộn nhất là năm 1968, trong đó nhiều nhất là các bài viết đăng trên Đông Dương thông sử (1904). Nội dung đề cập đến nhiều vấn đề (các mục dưới đây do chúng tôi phân loại):

      1) Các bài nghiên cứu liên quan đến lịch sử Việt Nam như: An Nam thông sử của Iwamura Narisuke (Jijiwara Riichiro 藤原利一郎); Bộ nhất nước An Nam (Hayakawa Junzaburo 早川純三郎); An Nam sử (Hikita Toshiaki 引田利彰); Sự chia cắt nước An Nam (Kubo Tokuji 久保徳二); Giao Chỉ (Kubo Takuji 久保徳二); Lịch sử nước An Nam (Mizutani Otokichi 水谷乙吉); Nam Việt (Morikiyo Taro 森清太郎); Chuyện dựng nước của nước Việt Nam (Wada Kiyoshi 和田清);…

     2) Các bài liên quan đến bang giao và chiến tranh giữa Việt Nam và các nước như: Sắc phong cho Nam Việt (Kubo Tokuji 久保徳二); An Nam Miến Điện thời Thế Tông (Kubo Tokuji 久保徳二); Nam chiếu xâm lược Giao chỉ (Kubo Tokuji 久保徳二); Việc chinh phục nước Lâm Ấp (Kubo Tokuji 久保徳二).

     3) Các bài khảo về dòng họ người Việt như Họ Nguyễn ở An Nam; Họ Lê của An Nam (đều của Kubo Tokuji 久保徳二).

     4) Các bài liên quan đến Pháp có: An Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp; Việc nước Pháp chiếm đóng hạ Giao chỉ (đều của Kubo Tokuji 久保徳二); Khảo cứu tên những người Pháp sang giúp nhà Nguyễn (Ito Takao 伊東隆夫).

     5) Các bài liên quan đến nhân vật lịch sử như: Sĩ Nhiếp, một chính quyền trong lịch sử Việt Nam của Yamauchi Hiroshikyo (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣); Lưu Vĩnh Phúc; Nam Việt vương và Thái hậu Cù thị (đều của Kubo Tokuji 久保徳二).

     6) Nghiên cứu sử liệu Việt Nam: Hai tư liệu nghiên cứu về lịch sử nước An Nam (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣); Việt sử lược và Đại Việt sử ký (Yamamoto Tasuro 山本達郎).

     7) Các bài viết được đăng tải từ năm 1954 đến 1970 gồm: Lịch sử hiện đại Việt Nam (sách mở đầu giới thiệu việc nghiên cứu Indo-China dưới chủ nghĩa đế quốc); Khoa học lịch sử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (cả hai bài đều của Shinbo Junichiro 真保潤一郎).

     Ở mục Lịch sử, trừ hai bài viết đăng tải từ năm 1954 đến 1970, số còn lại đều đăng trên các tạp chí của Nhật từ 1880 đến 1854 do Viện EFEO sưu tầm.

     Thứ hai: Mục Văn hóa, dân tộc

     Mục này gồm 27 bài.

     1) Liên quan đến thần thoại và truyền thuyết dân gian có các bài: Quan hệ giữa thiên văn và linh vật trong Truyện khác của An nam về truyền thuyết con của con Rái cá “Lão lại (thát) trĩ” (Akashi Sadayoshi 明石貞吉); Nơi phát sinh truyền thuyết con của con Rái cá “Lão lại (thát) trĩ” (Chung Kính Văn 鍾敬文 – người Trung Quốc); Việc nghiên cứu thần thoại ở vùng cực đông của Pháp; Bài của Nguyễn Văn Khoan về chuyện cứu vớt linh hồn người chết đuối, phụ ký về chuyện tin có linh hồn ở Đông Kinh; Dân tộc Ấn Độ Chi Na (trong đó có đề cập đến truyền thuyết ở Việt Nam (đều của Matsumoto Nobuhiro 松本信廣). Sông Hồng An Nam (Các truyện về truyền thuyết trị thủy ở Trung Quốc) (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣).

     2) Liên quan đến du ký: Kondo-Seisai toàn tập (Ichishima Kenkichi); Chuyện phiêu lưu đến nước An Nam; Nam phiêu ký; Ký sự người Áo Châu phiêu lưu đến nước An Nam (cùng của Ishii Kendo 石井研堂); Bút ký du lịch An Nam (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣); Đi đến nước An Nam; Nam chính ký (đều của Takakusu Junjiro 高楠順次郎); Nước An Nam (bộ 7, 8) (Hayakawa Junzaburo 早川純三郎).

     3) Liên quan đến văn hóa: Văn hóa ở vùng châu thổ Ton-kin Đông dương thuộc Pháp (Kobayashi Tomoo 小林知生); Văn hóa Tập (Tapa cloth – đồ mặc) thời cổ đại ở Đông Á (Kokubun Naoichi 国分直一); Văn hóa Ấn Độ Chi Na, Dân tộc Ấn Độ Chi Na (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣); Quê hương cỗi rễ, nơi mà giống người Ấn Độ Chi Na cùng ở đầu tiên trong thời tiền sử (Takakatsu Junjiro 高楠順次郎).

     4) Liên quan đến phong tục, tập quán: Răng đen của người An Nam (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣).

     5) Liên đến tôn giáo: Ảnh hưởng của việc truyền đạo (tác phẩm dịch của Takayama Yokichi 高山洋吉); Tế Khổng tử ở Hà Nội An Nam (Gaspardone Katsuko 嘉津子); Người An Nam với việc dẫm lên cây thánh giá hay tranh ảnh của đạo Cơ Đốc (Matsumoto Nobuhiro 松本信廣).

      6) Một số bài liên quan đến lịch sử: Về “Vài họ người An Nam” của Gourou (Makino Tatsumi 牧野巽); Nam Á (Watarase Masatada 渡瀬正忠).

___________
1. Kim Vĩnh Kiện: “Viện Viễn Đông Bác cổ và một số tình hình gần đây”, đăng trong Tạp chí Sử học Nghiên cứu, quyển 4, số 1, Tokyo, 1932, tr.126.

2. Dương Thái Minh: “Vài nét về quá trình hình thành khoa sách Hán Nôm hiện nay”, đăng trong Tạp chí Hán Nôm – 100 bài tuyển chọn, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Hà Nội, 2000, tr.22.

3. Theo chúng tôi được biết, Thư mục sách Nhật Bản đã được người đi trước biên soạn, nhưng không rõ vì sao trong Lời giới thiệu không ghi lịch sử biên soạn và tên người biên soạn đầu tiên.

4. Thực tế Thư mục sách Nhật Bản đăng tải cả bài viết biên soạn trước năm 1970. Như cuốn Lịch sử hiện đại của Việt Nam, Xuân Thu xuất bản, phát hành năm 1968 tại Tokyo.

5. Thực tế Thư mục sách Nhật Bản viết về Việt Nam được đặt trước Thư mục sách Nhật Bản.

6. Bộ Thư mục sách Nhật Bản do không ghi tên người biên soạn nên chúng tôi tạm gọi chung là “Thư viện” (tức Thư viện Thông tin KHXH).

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ IV với chủ đề Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay.
NXB: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – 2019 (từ  trang 173 đến trang 183)

Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)

     Mởi xem tiếp:

Nghiên cứu Việt Nam qua kho sách Nhật Bản hiện lưu trữ tại Hà Nội (Phần 2)