Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Các đặc điểm lịch sử xã hội Cù Lao Phố (Phần 1) - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Các đặc điểm lịch sử xã hội Cù Lao Phố (Phần 1)

Chủ nhiệm Đề tài: Đỗ Bá Nghiệp;
Chủ biên: Huỳnh Ngọc Trảng

     Cù Lao Phố là vùng đất có nhiều thôn làng được khai thác sớm và nhanh chóng đón nhận các luồng dân cư khác nhau để phát triển thành một trung tâm thương mại, một đại phố, để rồi trở thành một điểm nóng của những xung đột quyền lực và chiến tranh… Do vậy, đặc điểm lịch sử xã hội của Cù Lao Phố là sự biến đổi liên tục, trong đó có những đứt gãy đột xuất mà mọi nỗ lực nối kết lại để tìm hiểu tiến trình của từng vấn đề là điều nan giải. Đặc điểm này, biểu hiện trên hầu hết các vấn đề từ thân tộc đến thôn xã, từ các độ thuế khóa đến chế độ sở hữu ruộng đất.

I. Thân tộc và thôn xóm

     1. Ở Cù Lao Phố số kiếng họ chánh yếu của người Việt, qua kết quả điều tra, các họ Phan, Trần, Đặng, Võ, Đỗ… chỉ xuất hiện lối 200 năm nay. Nhiều kiếng họ có nhà có vườn, có mồ mả ông bà chôn chung trong đất ấy, hỏi ra đó là mộ ông nội, bà nội; còn ông cố, ông sơ hay mộ ông Tổ… thì chẳng có ai. Như vậy, vì có nhiều biến cố lịch sử nên nhiều kiếng họ phải ra đi tìm đất mới. Trên mảnh ñất này có nhiều biến chuyển lớn của lịch sử:

     * Năm 1747 có cuộc bạo loạn của thương gia người Hoa: Lý Văn Quang, nên nhiều gia đình phải bỏ đi vì có liên hệ hay liên quan – trong đó người Hoa nhiều nhất.

     * Năm 1776, khi nghĩa quân Tây Sơn vào xứ Gia Định lần đầu diệt chúa Nguyễn, chiến cuộc nổ ra ở dinh Trấn Biên và Cảng thị Cù Lao Phố. Người dân Cù Lao Phố phải di tản đi nơi khác.

     * Từ năm 1776 tới 1785 chiến sự diễn ra cả xứ Gia Định, Trấn Biên nhiều lần đổi chủ nên dinh Trấn Biên không còn nguyên vẹn, dân chúng xa lánh đi tứ tán.

     * Năm 1833-1834 cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, đất Biên Hòa hai lần đổichủ…

     * Năm 1861, quân Pháp và Tây Ban Nha đánh lên chiếm thành Biên Hòa. Nhân dân 13 làng xã ở Cù Lao Phố đi theo tiếng gọi của non sông, nhiều làng không còn người ở lại… đó là những nguyên nhân làm cho cộng đồng dân cư bị xáo trộn, đứt quãng.

     Ở ấp Bình Tự (xứ Xóm Chùa, thôn Bình Tự) có 4 kiếng họ lớn: Lê, Trương, Huỳnh và Nguyễn.

     …Họ Nguyễn truyền được 5 đời, thông gia với họ Lê, lúc gả con gái có hồi môn ruộng đất. Kiếng họ này còn mộ của ông bà: Mộ xây ô dước, đá ong, đặc biệt mộ có lợp ngói để che mưa nắng, mộ song hồn có bình phong có hình con nai… Trụ mộ có hoa văn của dây lá, bia không còn ñọc ñược vì khắc trên ô dước. Theo truyền thuyết có chôn bốn người Mọi ở bốn gốc. Niên ñại ước tính: sớm nhất là đời Gia Long. … Họ Lê truyền được 6 đời, chuyên sống về nghề nông. Ông Lê Văn Định làm xã trưởng (giai ñoạn ñầu Pháp thuộc), ông kêu gọi dân xã Nhứt Hòa đóng góp để trùng tu Đình Bình Tự và chùa Phước Hội. Ông cúng hậu cho đình 7 ha và chùa 6 ha.

     Ở ấp Hưng Phú (xứ chợ Chiếu, thôn Hưng Phú). Có kiếng họ Nguyễn truyền 6 đời. Ông cha sống nghề Đông y. Theo lời ông Nguyễn Duy Kỳ thì ông cố đã làm thầy thuốc, ông nội là lính nhà Nguyễn. Cha là Nguyễn Văn Có là thầy thuốc cuối cùng của kiếng họ, chết năm 1913, lúc 50 tuổi.

     Ở ấp Tân Mỹ (thôn Tân Mỹ). Tại đây còn con cháu người Hoa (Minh Hương) đã lai mấy đời. Chưa có cứ liệu chứng minh là lớp người Hoa thời Trần Thượng Xuyên (cuối thế kỷ XVII) còn tồn tại ở Cù Lao Phố đến ngày nay. Dưới đây các kiếng họ Minh Hương (có thể cha Tiều mẹ Việt, cha Quảng mẹ Việt).

     * Kiếng họ Bì: Bì Văn Lâu tự nhận ông cha là người Hoa lấy vợ Việt. Ông cố Bì Hữu Lành thời Tự Đức làm cai tổng (tổng Phước Vinh) có giấy khen việc đào kinh Vĩnh Tế (?) Ông nội là Bì Văn Nhu, cha là Bì Văn Quí là thương nhân đi buôn gạo ra Huế.

     * Kiếng họ Tống Đình cũng vậy. Họ này đến đời Tống Đình Dục thì tuyệt tự, vợ là người họ Nguyễn mới xin đứa cháu là Nguyễn Hữu Chí về làm con tức Tống Đình Huê. Đó là hai kiếng họ Minh Hương, ngoài ra ở đây còn kiếng họ Nguyễn Hữu:

      * Kiếng họ Nguyễn Hữu là kiếng họ lớn, nghề thầy đồ dạy học. Hai họ Nguyễn Hữu và Tống Đình là sui gia.

     Ở ấp Tân Giám (thôn Tân Giám):

     * Kiếng họ Trương, truyền 5 đời. Ông Trương Văn Sáu sống cùng thời với con ông Lê Văn Định là Lê Văn Ba, Lê Văn Lung.

     * Kiếng họ Huỳnh truyền 5 đời, thành phần nông dân, rồi chuyển thành thương nhân, có ghe đi khắp Lục tỉnh.

     Như vậy các kiếng họ xưa nhất ở Cù Lao Phố là gần đây, còn các kiếng họ cũ thời dinh Trấn Biên đều ly tán các nơi.

     Bên cạnh các kiếng họ vừa kể trên và các kiếng họ lớn (sẽ nói sau, cũng không còn con cháu) có thêm các kiếng họ mới, lúc giao thời Pháp thuộc, cuối thế kỷ XIX như họ đào ở ấp Tân Giám. Ông Đào Hạnh Thông gốc từ miệt trên Bình Sơn đến đây lập nghiệp, người có xe đò ñưa hành khách Sài Gòn – Biên Hòa sớm nhứt tỉnh. Con là Đào Hạnh Nhơn, kinh lý, nhân sĩ yêu nước chống Pháp, chống Mỹ…

     Nói chung, các giòng họ khác hiện ở Cù Lao phố chỉ hai ba đời là chiếm đa số. Các tộc họ thời khai hoang, thời Nông Nại Đại Phố đều không thấy.

     2. Người Hoa ở Cù Lao Phố ban sơ là gia ñình và binh của Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình tực lực lượng Cao – Lôi – Liêm là chánh. Lực lượng này có mặt từ năm 1679. Nhưng sau đó có thêm người Phước Kiến, trong đó có kiếng họ bên nội và bên ngoại Trịnh Hoài Đức. Và năm 1747 có thêm cánh họ Lý, nhưng cánh này sau cuộc nổi loạn năm 1747 thì không còn tồn tại, bị trục xuất hay trốn thoát khỏi Cù Lao Phố.

     Hiện ở Cù Lao Phố có một số Minh Hương (cha Quảng ðông, Phước Kiến, Triều Châu, mẹ người Việt) nhưng họ cũng là lớp sau, chớ chưa phải lớp đầu năm l679. Tại làng Bình Trước (tỉnh lỵ Biên Hòa) dưới thời Pháp thuộc có một số người Hoa, người Minh Hương cũng là lớp người Hoa nhập cư cuối thế kỷ XIX.

     Năm 1679 gia đình và binh sĩ thuộc lực lượng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình được chúa Nguyễn cho tị nạn chính trị và lập nghiệp ở Cù Lao – nơi đó đã có con cháu các vua Hùng dựng các xóm ít ra một thế hệ:

* Xóm Chùa, sau này thôn Bình Tự.

* Xóm Chợ Chiếu, sau này thôn Hưng Phú.

* Xóm rạch Lò Gốm, sau này thôn Hòa Quới và vùng lân cận xóm Rạch Cát (sau này thôn Phước Lư).

* Xóm Bà Lồi (tức Bà Lồ sau này là thôn Tân Vạn).

* Xóm Suối Cốc (sau này là phường Bình Trước).

* Xóm chợ Lò (sau này thôn Bình Tiên)…

     Họ ở nhiều nơi, bên cạnh người Kinh, nhưng nhiều nhất là khu vực quanh chùa ông / Miếu Quan Đế, nơi ñó có các Hội quán của họ: Hội quán Phúc Châu và Hội quán Quảng Đông.

     Từ năm 1679 ñến 1732 gia đình kiếng họ của Trần Thượng Xuyên, em Trần An Bình, con Trần Đại Định, cháu Trần Thạnh là gia tộc lớn.

     Từ năm 1684 đến 1776 là kiếng họ Trịnh và họ Lâm (tức bên nội và ngoại Trịnh Hoài Đức). Kiếng họ này đến sau:

     * Họ Trịnh từ xã Minh Hương, Thuận Hóa vào khoảng năm 1684, hay trước một ít. Năm này, điện Quan Đế mới cất, người đóng góp công của lập miếu có tên Trịnh Hội (ông nội Trịnh Hoài Đức).

     * Họ Lâm, Lâm Tổ Quan cũng là dân xã Minh Hương, Thuận Hóa. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) ông còn ở tại Huế. Nên mới vô Cù Lao Phố có lẽ sau cuộc nổi loạn của Lý Văn Quang.

     Hai kiếng họ này, ñến năm 1776 , không còn ở Cù Lao Phố, mà chạy về dinh Phiên Trấn làm dân xã Minh Hương. Trịnh Hoài Đức từ đó sinh sống và làm quan ở Phiên An, ở ðịnh Tường…

     Năm 1747, Lý Văn Quang cũng một “đại gia” có uy thế trong giới thương nhân và chánh quyền ở Trấn Biên… Không biết kiếng họ này như thế nào, khi bè đảng làm bạo loạn bị dẫn độ về Trung Quốc.

     Nói chung, qua tài liệu điều tra thực tế và tài liệu thư tịch về các dòng họ quan lại và giàu có ở Cù Lao Phố, rất dễ nhận thấy rằng khả năng các dòng họ cư trú ở đây từ thế kỷ XVII, XVIII phát triển thành một đại tộc đông đúc, cư trú ở đây nhiều đời là hầu như không thấy xảy ra. Điều này giải thích sự thiếu vắng các tộc họ 7, 8 đời ở Cù Lao Phố. Những biến động chính trị kéo theo sự di dời dân cư và hội nhập các nguồn dân cư mới khiến cho quan niệm về tông tộc, sự phân biệt đại tộc và tiểu tộc không rõ rệt. Một số các tộc họ được gọi là lớn ở Cù Lao Phố, đa phần đến trụ ở đây từ thế kỷ XIX.

     * Tộc họ Nguyễn (ông Tổng Thi): ông tổ (Nguyễn Thanh) là người được coi là người khai phá khu vực này thuộc Tam Hòa vào khoảng l810.

     * Tộc họ Tống Đình: khoảng 1855.

     * Tộc họ Nguyễn (Nhứt Hòa): khoảng 1859.

     * Tộc họ Trương (Bình Tự): khoảng 1868.

     * Tộc họ Lê (Bình Tự): khoảng 1865.

     * Tộc họ Đinh (Tam Hòa): khoảng 1861.

     Qua phỏng vấn các tộc trưởng hiện coi giữ các từ đường thì cây gia phả mới được lập trong những năm gần đây, tức sự ý thức về dòng họ cũng có phần nề nếp và cố kết dòng họ được hình thành như một nỗ lực phục hồi truyền thống.

     Trong thực tế, dòng họ không đảm bảo giá trị tinh thần có các thành viên của nó, tất nhiên, trong cảm thức thì coi anh A chị B là thuộc dòng họ này dòng họ nọ nên đáng hay không được coi trọng. Sự tôn trọng hay không tùy thuộc vào đạo đức, gia thế và địa vị xã hội của một người nổi bật nào đó trong dòng họ vào thời cận đại hơn là bắt nguồn từ một truyền thống gia phong lâu đời.

     Tập tục cúng giỗ, ngay cả các tộc ñược coi là lớn ở Cù lao phố cũng chỉ đến đời thứ ba. Việc tế tự không thấy rõ vai trò của trưởng nam mà có nhiều trường hợp lại là con, cháu gái. Dòng họ tụ tập ấm cúng chủ yếu vào giỗ ông nội của thế hệ Ego (tôi) đương thời và lễ tảo mộ, chạp mả (vào tháng chạp) và ngày Tết. Cơ sở kinh tế để duy trì các hình thức tụ hợp của cộng đồng dòng họ là ruộng hương hỏa hoặc người trong tộc học đóng góp.

     Cù Lao Phố, nay là xã Hiệp Hòa, hay trước kia là 3 xã Nhất Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa, thì đó là một xã nhiều thôn (sau này thành ấp, khóm) là một cố kết khá bền vững. Mặc dù các cấp hành chính thay ñổi, thôn ở Cù Lao Phố là một cộng đồng dân cư có lịch sử chung, có thiết chế văn hoá – tín ngưỡng riêng và cơ cấu xã hội là tập hợp các tộc họ. Ở đây có tộc họ lớn mà uy tín được coi trọng. Chính vì vậy, ở Cù Lao Phố có người giàu đã cúng vào đình một số ruộng như để mua hậu, nhưng trước hết tỏ rõ hằng tâm của mình với thôn làng (xem phần sau). Một số người góp công và tài năng của mình vào việc xây dựng đình, hay tạc tượng ở chùa làng (trường hợp Đình Bình Hòa và chùa Phước Long). Nói cách khác sự gắn bó của người dân, mà trước hết với tư cách là thành viên của một tộc họ, đối với thôn xóm biểu hiện rõ rệt hơn là đối với xã. Thôn bảo lưu tính chất tự trị đối với nhà nước cũng như lệ tục riêng của nó khá bền vững. Các tộc họ lớn có ảnh hưởng đến cơ cấu quyền lực là ở cấp này và sau đó mới đến xã. Là một xã ven thành thị, người dân Cù Lao Phố, ngoài nghề nông còn có một bộ phận đi làm các nghề thủ công, hay công nhân, viên chức ở Biên Hòa và vùng kế cận. Xưa ở đây có lò gạch, lò đúc đồng, xong chỉ là những xưởng thủ công mà số lượng công nhân ít ỏi nên không có tổ chức phường hội. Tổ chức bán chính thức là hội miễu (đình), ban trợ táng (hồi ấp): ban hộ niệm (chùa) là tổ chức tương tế và đồng đạo có tính chất văn hóa – xã hội. Họ liên kết lại vì yêu cầu thực tiễn của thôn xóm cũng như nhu cầu tình cảm và tín ngưỡng.

II. Sự hình thành và biến đổi chế độ hành chính

     1. Sự hình thành thôn xóm vào buổi đầu khẩu hoang:

     Từ 1698 về trước, xứ Cù lao phố là vùng ñất bỏ ngỏ của “xứ Bra Kanđa” thấy ghi trên minh văn của tấm bối quang trên tượng Visnu ở chùa Bửu Sơn, đang tàn lụi mà có lẽ đây đó là các tộc người Mạ, Châu-ro, Xtiêng, Tà Mun… rải rác và thưa thớt. Con cháu các vua Hùng trên đường đi khai hoang, đến xứ Rí – Rang rồi đến Nai – Rịa để lập nghiệp.

     Trên những cù lao trên sông Đồng Nai – nhứt là ở trung nguồn có 4 cù lao: tính từ trên trở xuống có cù lao Bạch Đằng, cù lao Thạnh Hội, cù lao Tân Triều và cù lao Phố, và các vùng đất liền, các thế hệ tiền phong đã đồn trú chân, khai hoang. Các xóm mà tên còn bảo lưu đến nay như xóm Chùa, xóm chợ Chiếu, xóm Rạch Lò Gốm có lẽ là những xóm tiền thân các thôn làng của huyện Phước Long thuộc phủ Gia Định, rồi dinh Trấn Biên.

     Những cư dân ấy lúc còn di dân tự do, hễ chọn chỗ nào đất lành chim đậu, đất không lành thì bỏ đi. Tại Cù lao Phố lúc ấy đã đông dân nên khi phủ Gia Định ra đời các xóm trên có điều kiện thành thôn mới, và cũng đã có ít đình, chùa, chợ, bến; nông nghiệp, tiểu – thủ công v.v… đã phát triển. Ngày nay đến các ấp: Bình Tự (xưa xóm Chùa, rồi thôn Bình Tự), Hưng Phú (xưa xóm Chợ Chiếu, rồi xã Hưng Phú) Hòa Quới (xưa xóm Rạch Lò Gốm rồi thôn Hòa Quới) có đủ những cái đã nói. Năm 1679, có thêm người Hoa, họ ở rải rác nơi nay gọi ấp Tân Giám, Tân Mĩ, Tân Hưng, Hòa Quới, Bình Kính… góp nhân lực tài lực tạo ra trung tâm thương mãi Cù Lao Phố.

     Rồi phủ Gia Định ra đời xứ Cù Lao Phố là lỵ sở của chánh quyền quân sự – kéo dài từ 1698 đến 1776 và bước tiếp ra đời trấn Biên Hòa; rồi đến 1832 mới thành tỉnh, có chế độ hành chính dân sự thực sự. Chế độ ruộng đất do cá nhân tự do phát triển lại có thêm lao động mới là những “người Mọi” mua trên nguồn… Ruộng đất tại Cù Lao Phố không nhiều thì lấn các chỗ lân cận.

     Trường hợp người Hoa, tài liệu cũ nói thành lập phủ Gia Định có hai huyện, riêng mỗi huyện có một xã của họ: Tại huyện Phước Long có xã Thanh Hà, ở huyện Tân Bình có xã Minh Hương.

     Hai xã ấy trên thực tế là “siêu xã”. Tức xã có tên nhưng không có lãnh thổ. Có thể là siêu xã hơn là xã như xã người Kinh! Ở tại Cù Lao Phố, người Hoa, năm 1679 không nhiều, phần chánh là lực lượng quân sự; năm 1688 thì cánh Trần Thượng Xuyên sáp nhập với cánh Long Môn và thường trực ở sông Tiền, chứ ở Cù Lao Phố không đông. Về sau, lần hồi đông vì lấy vợ Kinh hay các nơi khác đổ về: Minh Hương, Huế, Hội An, Hà Tiên… nhưng họ ở nhiều nơi, tại Cù Lao Phố có một ít, ở Tân Hưng lập tiệm buôn, vựa hàng hóa, ở Tân Giám, Tân Mĩ, Bình Kính và vùng lân cận: xứ Chợ Đồn (tên cũ Bình Tiên, tên mới phường Bửu Hòa), xứ Lò Gạch (tên cũ phường Bạch Khôi, tên mới phường Bửu Long), ngay ở cù lao Thạnh Hội cũng có mặt họ nữa.

     Như vậy gọi xã Thanh Hà là nơi đã có một số người Hoa mở thương nghiệp có danh bộ, nơi tụ hội để họ làm nghĩa vụ: đóng thuế và các sưu dịch khác mà Hội quán Phúc Châu và Hội quán Quảng Đông ở hai bên chùa ông Miếu Quan Đế23 là trụ sở, thực thi việc quản lý họ theo chế ñộ “lãnh sự quán”.

    2. Thôn xã Cù Lao Phố.

     Dinh Trấn Biên có bao nhiêu thôn xã? Theo Phủ Biên tạp lục thì số thôn huyện Phước Long là 250 thôn, dân số chừng 8000 người. Thì xứ Cù Lao Phố lúc ấy có ít nhất 7 xã thôn được biết:

1 ) Bình Kính.

2) Bình Hòa.

3) Bình Quan.

4) Long Quới.

5) Bình Xương.

6) Bình Tự.

7) Hòa Quới.

     Trong đó có thôn Bình Tự, Hòa Quới. Bình Kính là những xóm của lớp người khai hoang lập ấp trước khi có phủ Gia Định.

     Còn xã Thanh Hà một xã không có đất đai canh tác của người Hoa năm 1679. Gia đình và binh sĩ Cao – Lôi – Liêm của Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đóng lúc đầu ở thôn Bình Kính24 rồi về đây có Bến Tàu25.

     Tổ chức hành chính như thế nào? Có thể giống như đời sau? Ở đây chỉ thuần nhứt là thôn không có các đơn vị khác như xã, giáp xã, giáp thôn, phường, thuộc, thuyền, ấp… Tên gọi chung các thôn ấy là: “Xứ Cù Lao Phố”.

     Giai đoạn hậu Trấn Biên (1766 – 1788) là giao đoạn tranh chấp giữa nhà Tây Sơn – chúa Nguyễn rồi nhà Nguyễn.

     Xứ Cù Lao Phố không còn là trung tâm thành thị ở phía Nam, xứ Đàng Trong. Lúc có trấn Biên Hòa, xứ Cù Lao Phố xuống cấp, là vùng nông thôn nằm trong tổng An Thủy. Có tất cả các thôn xã:

1 ) Bình Kính Đông.

2) Bình Quan.

3) Long Quới.

4) Bình Quới.

5) Bình Xương.

6) Tân Giám.

7) Tân Mĩ.

8) Tân Hưng (xã).

     Riêng xã Thanh Hà không còn nhắc đến, thêm 3 thôn Tân Giám. Tân Mĩ, Tân Hưng nơi xưa có nhiều người Hoa sinh sống, buôn bán.

     Năm 1832 các thôn có tên gọi cũ Cù Lao Phố, theo địa Bạ Minh Mạng (1836) có tất cả 13 thôn xã. Đặc điểm các thôn xã này phần lớn cận Rạch Cát hay sông Đồng Nai, trừ thôn Bình Hòa:

1) Bình hoành (tên cũ Bình Kính).

2) Bình Hòa.

3) Bình Quan.

4) Bình Tự.

5) Bình Xương.

6) Hưng Phú.

7) Long Quới.

8) Tân Giám.

9) Tân Hưng (xã).

10) Tân Mĩ.

11) Thành Đức.

12) Vinh Long.

13) Hòa Quới.

     Mười ba thôn, xã này đến đời Tự Đức không thêm bớt.

     Trấn Biên Hòa lúc ấy ở thôn Phước Lư cách Cù Lao Phố một con rạch, chuyển về thôn Tân Lân. Lỵ sở trấn rồi tỉnh Biên Hòa vẫn ở đây đến thời Pháp thuộc và Mỹ…

     Xứ Cù Lao Phố thành thôn ngoại thành, vùng ven.

     3) Tổ chức hành chánh cấp cơ sở là thôn, tại xứ Cù Lao Phố có hai loại

     Hương chức:

     1) Hương chức thành phần chỉ huy.

1. Hương Cả: đứng đầu, vì lý do có hằng sản, thâm niên.

2. Hương chủ: dưới Hương cả, nhưng phải biết chữ.

3. Hương sư: giải thích luật lệ, lo việc giáo dục trong làng.

4. Hương trưởng: nhiệm vụ như hương sư nhưng ít quan trọng hơn.

5. Tham trưởng: trách nhiệm về cảnh sát và đường sá.

6. Hương lão: chức hàm danh dự cho người già có nhiều đức tính đáng được tôn kính hơn hết.

7. Hương nhứt, hương nhì: hai chức này trước kia thế hương hào, hương thân; làng nào không có hương thân hay hương hào mới có hai chức này.

8. Hương chánh: cố vấn của các hương chức.

9. Hương lễ: chủ tọa các buổi lễ.

10. Hương văn: soạn thảo các văn tế, câu đối để tế thần.

11. Hương quan: chức hàm danh dự, cố vấn thôn hội và giúp ý kiến lên cấp tỉnh.

12. Hương ẩm: chức hàm danh dự, chủ tọa danh dự trong các việc ẩm thực, lo tổ chức các tiệc lễ.

13. Hương thân: giải thích những chiếu chỉ, sắc chỉ hay công văn tỉnh cho thôn hội.

14. Hương hào: trách nhiệm về cảnh sát, giúp xã trưởng và hương thân thu thuế.

15. Thủ bộ: giữ các sổ thuế và soạn thảo những sắc thuế.

16. Thủ chỉ: giữ văn khố.

17. Thủ bổ: thủ quĩ.

18. Thủ khoán: giữ tài sản của làng.

19. Câu đương: nhiệm vụ thẩm phán trong làng. Báo cáo cho các hương chức biết kết quả của những việc đã điều tra thẩm vấn.

20. Cai đình: trông nom giữ gìn chùa miếu.

21. Thôn trưởng hay Xã trưởng: giữ con dấu (mộc; con dấu làng lúc ấy bằng cây nên có tiếng đóng mộc) làng, trung gian giữa làng và chánh quyền cấp trên, giữ việc thu thuế.

     2) Hương mục:

          – Phụ tá: Hương thân, hương hào và thôn trưởng.

22. Lý trưởng hay phó lý, phó thôn, phó xã: phụ tá cho thôn trưởng.

23. Ấp trưởng.

24. Trùm dịch: nhiệm vụ ñi liên lạc giấy tờ của thôn trưởng với các hương chức và dân chúng.

25. Cai tuần: nhiệm vụ coi việc tuần hành ban đêm.

26. Cai thị: coi việc cảnh sát ở chợ.

27. Cai binh: (làng nào đông dân mới có chức này) phụ tá thôn trưởng trong việc binh lính.

28. Cai thôn: giữ công ốc trong làng.

29. Trưởng: phụ tá thôn trưởng. Khi thôn trưởng muốn thi hành chỉ thị của cấp trên mà không có người giúp tạm trong việc đó, thì người đứng ra lãnh tạm để thi hành chỉ thị đó gọi là trưởng.

          – Phụ tá Hương lễ:

30. Tri lễ:

31. Học trò lễ hay lễ sinh.

     – Phụ tá Cai ðình.

32. Biện ñình: giữ sổ thu chi của ñình.

33. Tri văn (làng nào không có hương văn thì mới có chức này) soạn thảo các văn tế, câu ñối ở trong các kỳ cúng ñình.

34. Ông từ: trông coi nhang ñèn trong ñình.

35. Tri sự: giúp sửa soạn các việc cúng.

36. Tri khách: lo tổ chức các tiệc tùng ở ñình miếu.

37. Biện lại: coi việc phân phát biên lai và giữ sổ toàn làng.

     Như vậy mỗi thôn ở Cù Lao Phố có 37 viên chức các loại lo việc hành chánh và cúng tế đình miếu. Như vậy, 13 thôn tức cần đến 481 người – một con số khá lớn chứ không nhỏ…

     4. Dưới thời Pháp thuộc (1861 – 1945 và 1945 – 1954) xứ Cù Lao Phố từ năm 1861 – 1869 nằm trong chế độ “quân quản” của Biên Hòa do giới quân sự toàn quyền hành động (thu thuế và xử án những người chống lại chúng). Tổng cộng có 6 sĩ quan hải quân hay bộ binh cấp bực cao nhứt trung tá và thấp nhứt thiếu úy – trong đó có 1 thanh tra sự vụ bổn sư xen kẽ chỉ kéo dài từ 27 – 5 – 1868 đến 21 – 4 – 1869… thì các thôn, xã ở ñây giữ như thời Tự Đức.

     Mãi đến năm 1874 dưới đời tham biện các sở dân chánh: Fauvelie mới sáp nhập 13 thôn xã đời Tự Đức thành 3 xã mới:

1) Nhứt Hòa: Bình Tự, Bình Xương, Hưng Phú, Tân Giám.

2) Nhị Hòa: Bình Hoành, Thành Đức, Tân Hưng, Tân Mĩ.

3) Tam Hòa: Bình Hòa, Bình Quan, Long Quới, Hòa Quới: thuộc tổng Phước Vinh Thượng, quận Châu Thành.

     Nhưng thành phần hành chánh cũng chưa thay đổi. Mãi đến năm 1904. Thống đốc Nam Kỳ quyết định ngày 27 – 8 – 1904 mỗi Ban Hội Tề gồm 11 người:

     – Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng hay Thôn trưởng, Hương Đào.

     – Đến ngày 30 – 10 – 1927 có Nghị ñịnh của Toàn quyền Đông Dương qui định Ban Hội Tề có 12 người:

     – Hương cả hay Đại hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ hay Thủ bộ, Hương thân, Xã trưởng hay Thôn trưởng, Chánh lục bộ.

     Bắt đầu từ năm 1928 ba xã Nhứt Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa nhập lại một: Xã Hiệp Hòa.

     Nhưng chưa hết, năm 1944 có Nghị định ngày 5-1 của Toàn quyền Đông Dương bổ túc Nghị định ngày 30 – 10 – 1927: qui định thành phần Ban Hội Tề là những người: điền chủ, có gia sản, có bằng cao đẳng tiểu học, công chức thuộc ngạch trung đã nghỉ hưu, cùng tư chức, quân nhân hồi hưu hay giải ngũ, với cấp bậc ít nhất là trung sĩ hay có huy chương quân sự. Thành phần Ban Hội Tề vẫn 12 người (thêm Phó Lục bộ). Ngoài hương chức hội tề, còn có hương chức hội hương.

     Chín năm kháng chiến chống Pháp, xã Hiệp Hòa là vùng Pháp chiếm đóng. Suốt thời kỳ này hành chánh cấp tỉnh là dân sự: trong đó có 5 Tham biện người pháp26 và 3 Tỉnh trưởng người Việt do Pháp đưa lên27.

     Năm 1950, Ban Hội tề xã Hiệp Hòa cũng như các xã trong vùng Pháp chiếm đóng được đổi tên Hội đồng hương chánh gồm 11 người:

– Chủ tịch.

– Phó chủ tịch.

– Tổng thư ký.

– Các ủy viên: Giáo dục, Y tế, Hộ tịch, Cảnh sát (không còn gọi là Hương Quản), Tài chánh, Thuế vụ, Công chánh và Canh nông.

     Cũng như các xã khác, xã Hiệp Hòa không đủ thành phần dù xã tạm chiếm – vì dân Hiệp Hòa kháng chiến đông mạnh. Đêm đêm ủy ban nhân dân xã, các đoàn thể: Việt Minh, Thanh niên, Phụ nữ, Công an từ Chiến khu Vĩnh Cửu – Bình ða về vận ñộng không làm “tề” nên các người làm rồi phải trốn chui trốn nhủi vô đồn bót ngủ…

     Còn những tên ác ôn thì mời đi vào khu để giáo dục, nếu hối cải cho chuyển vùng hay tha về.

     5) Thời 21 năm đánh Mĩ, xã Hiệp Hòa có chi bộ mật, cũng nơi đây nuôi dấu các đồng chí Tỉnh ủy Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu một thời gian dài thời kỳ Mậu Thân 1968 và Kỷ Dậu (1969) Hiệp Hòa là một điểm nóng.

     Suốt từ năm 1945 ñến ngày giải phóng xã Hiệp Hòa lúc đầu còn ở chế độ dân sự: từ năm 1954 ñến 1957 với các tỉnh trưởng dân sự là Đốc phủ sứ28. Rồi từ năm 1961 đến 1975 là chế độ quân đội nắm quyền, cấp bực từ thiếu tá đến đại tá29.

     Xã Hiệp Hòa năm 1961, đời tỉnh trưởng Hoàng Mạnh Thường trở đi có 3 ấp chiến lược (Nhứt Hoà, Nhị Hòa, Tam Hòa). Thế là ngoài Hội đồng hương chánh có thêm Ban trị sự ấp (3 ban). Mỗi Ban trị sự ấp có trưởng ấp và hai phó trưởng ấp (một người lo an ninh, một người lo tuyên văn)

     Rồi ấp chiến lược bị phá tan tành, xã Hiệp Hòa tuy xã tạm chiếm, dân chúng gỡ hàng rào không còn cô lập như xưa:

     Năm 1966 xã Hiệp Hòa thay ñổi tổ chức:

     1) Trên là Ủy ban hành chánh xã có 6 người:

– Chủ tịch kiêm hộ tịch

– Phó chủ tịch kiêm kinh tài.

– Các ủy viên: An ninh, Tuyên văn, Xã hội, Canh nông.

     2) Mỗi ấp vẫn có Ban trị sự ấp

     Sau Tết Mậu Thân (1968) chế độ Sài Gòn một lần nữa thay ñổi tổ chức và tên gọi. Xã Hiệp Hòa thuộc xã A (trên 5000 dân, xã dưới 5000 dân gọi là xã B). Tổ chức xã A lúc ấy:

a) Hội đồng Nhân Dân có 9 người: Xã trưởng, hai Phó xã trưởng (1 người phụ trách hành chánh, 1 người phụ trách an ninh). Và các ủy viên: Quân sự, Canh nông, Cải cách điền địa, Kinh tài, Hộ tịch, Xã hội văn hóa, Thuế vụ.

b) Ban trị sự ấp: Mỗi Ban trị sự có: Trưởng ấp, hai Phó trưởng ấp (l kiêm hành chánh, 1 kiêm an ninh) và 2 nhân viên phụ trách về quân sự và thông tin chiêu hồi.

     Sau ngày giải phóng đến nay, xã Hiệp Hòa là 1 trong 3 xã và 24 phường nằm trong thành phố cấp II Biên Hòa.

     Tổ chức hành chánh:

     – 5 năm bầu cử Hội đồng Nhân Dân.

     – Hội đồng Nhân Dân bầu cử ra ủy Ban Nhân Dân.

     Bên cạnh Ủy ban và Hội đồng, có các ñoàn thể Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Nông hội, Hội cựu chiến binh, Nông dân… các tổ chức xã hội: Chữ thập đỏ, Hội phụ huynh v.v… gồm một lực lượng đông đảo, lúc bình thường là huy động nhân dân trong xã các việc cần thiết.

     Vấn đề trị an có Công an và lực lượng an ninh ở các ấp qua các tổ trưởng.

________
23 Gia Định Thành thông chí, tập hạ, trg 110.

24 Điện Quan Đế có niên đại xây dựng 1684.

25 Bến tàu có tên chữ Đại Phố – tức Cảng thị, sau nằm trong xã Tân Hưng đời sau.

26 Tham biện các Sở dân chánh hay Phó tham biện các thuộc địa: Bélisaire Vélisarios; Le Garreres; Guévini Mominique; Péter Jules Morand Giorges, Praccues Julien.

27 Các Đốc phủ sứ: Huỳnh Văn Đẩu, Henri Bùi Quang Ân, Nguyễn Hữu Hậu.

28 Tỉnh trưởng đốc phủ xứ: Hồ Bảo Thành, Nguyễn Văn Đỉnh, Nguyễn Thúc Lang.

29 Tỉnh trưởng quân sự: Thiếu tá Hoàng Mạnh Tường, thiếu tá Trần Văn Đĩnh, trung tá Phạm Văn Tân, trung tá Mã Sanh Nhơn, trung tá Trần Văn Hai, Đại tá Lâm Quang Chính, Đại tá Lưu Yễn.

Còn tiếp: Kính mời Quý độc giả đón xem tiếp:

THUẾ VÀ SƯU DỊCH

Nguồn: Cù Lao Phố – Lịch sử và Văn hóa, NXB Đồng Nai, 1998

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Các đặc điểm lịch sử xã hội Cù Lao Phố (Phần 1) – Chủ nhiệm Đề tài: Đỗ Bá Nghiệp ; Chủ biên: Huỳnh Ngọc Trảng