Các GIỐNG LÚA trồng ở VIỆT NAM từ thời NGUYÊN THỦY đến HIỆN ĐẠI (Phần 1)

(TRẦN VĂN ĐẠT, Ph. D.)

1. MỞ ĐẦU

     Quá trình lịch sử sản xuất lúa gạo trên đất nước Việt Nam đã trải qua nhiều thời đại và các nền văn hóa từ nguyên thủy đến hiện đại. Các cư dân nguyên thủy phải sống với nhiều thử thách lớn, tranh đấu từng ngày với môi trường thiên nhiên để sinh tồn và tiến bộ. Họ phát triển đời sống của mình và cộng đồng dựa trên óc sáng tạo, sức chịu đựng và kinh nghiệm mưu sinh. Từ thời nguyên thủy, nghề nông đã giúp họ đạt đến đời sống ổn định, cộng đồng làng ấp có tổ chức, tiến bộ lâu dài, truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác không ngừng trong 10 000 năm qua. Hệ thống quản lý trồng lúa tiến bộ hôm nay là do trí tuệ khôn ngoan, lòng kiên nhẫn và sức phấn đấu gian khổ con người trên bước đường tiến hóa dân tộc và thăng trầm đất nước.

     Ở Việt Nam cũng như nhiều nước châu Á khác, cây lúa hoang có thể hiện diện cách nay ít nhứt 18 000 năm sau thời kỳ băng giá cực đại. Đến 10 000-8 000 năm trước, nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện trong nền Văn Hóa Hòa Bình; đây là cuộc Cách Mạng Xanh đầu tiên của nhân loại. Ngoài cuộc sống hàng ngày với săn bắt, các cư dân biết hái lượm đậu, khoai, trái cây và sau đó hạt lúa để có thêm thức ăn hàng ngày. Cây lúa hoang được cư dân cổ thuần hóa từ thiên nhiên hàng ngàn năm để tiến đến sản suất có hệ thống như nghề trồng lúa rẫy du canh quanh các hang động cách nay 7 000-6 000 năm. Loại Hòa thảo này tiến hóa và phát triển không ngừng dưới sức tác động con người và môi trường, qua các nền văn hóa Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Suối Linh-Cầu Sắt, Đông Sơn, cho đến thời Bắc thuộc, Độc Lập phong kiến, Pháp thuộc, cuộc Cách Mạng Xanh cuối cùng và thời Đổi Mới kinh tế trong nước.

     Tiến trình tiến hóa của cây lúa được nhận biết dễ dàng qua hình dạng cây lúa từ loài hoang dại ít chồi, thân nhỏ, lá dài nhỏ màu xanh lợt cong rũ, và hạt dễ rụng khi chín đã phát triển thành cây lúa trồng: lúa rẫy, lúa nước cổ đại; qua thời gian trở nên cây lúa cổ truyền không thay đổi nhiều về hình dạng; sau đó được tuyển chọn, lai tạo để trở thành cây lúa cải tiến; và bước tiến hóa cuối cùng do khám phá gen lùn để trở nên cây lúa hiện đại thấp giàn, lá thẳng đứng, màu xanh đậm, phản ứng đạm cao, nhiều chồi, không đổ ngã, hạt ít rụng và năng suất cao.

     Hiện nay, cây lúa có mặt từ Nam ra Bắc, từ vùng đồng bằng đến các miền đồi núi, từ các vùng nước mặn, nước lợ, phèn đến nước ngọt, từ nơi ngập nước đến các vùng khô ráo, từ ruộng lúa nổi của đồng bằng sông Cửu Long đến ruộng bậc thang ở Sapa, Yên Bái, Hà Giang…, và cây lúa được trồng quanh năm ở nhiều nơi, thích nghi từng môi trường, với chu kỳ sinh trưởng và các hình dạng chồi, lá, hạt lúa khác nhau tiếp nối thay đổi không ngừng theo thời gian và không gian.

2. VỤ LÚA QUA CÁC THỜI ĐẠI

     Do ảnh hưởng gió mùa, từ thời tiền sử cư dân Việt cổ trồng chỉ một vụ lúa rẫy hoặc lúa nước vào mùa mưa. Các bộ lạc trồng lúa trong nền văn hóa Hòa bình-Bắc Sơn (khoảng 7 000-6 000 năm trước) chỉ trồng một vụ lúa rẫy mỗi năm trên diện tích đất không giới hạn vừa đủ nuôi sống gia đình. Đến nay, nghề trồng lúa lâu đời này vẫn còn tồn tại ở các vùng núi đồi Miền Bắc và Cao nguyên Miền Trung với hệ thống du canh và kỹ thuật trồng trọt-gặt hái còn lạc hậu.

     Đến nền văn hóa Phùng Nguyên-Đồng Đậu (cách nay 4 000-3 500 năm) cư dân sống tập trung ở những buôn bản, thôn làng. Khi biển thoái, họ trồng lúa nước ở các gò cao, thung lũng hoặc lưu vực sông ngòi để sản xuất ổn định và thành lập làng xã lâu dài. Chiều hướng trồng loại lúa này tiếp tục phát triển ngày càng sung túc cho đến cuối thời đại Hùng Vương và An Dương Vương; từ đó nền văn minh lúa nước ra đời và được người sau thường nhắc đến. Vào trước CN, nhờ các giống lúa sớm và sau CN có thêm giống lúa Chiêm ít quang cảm và ngắn ngày, người Việt có thể phối hợp giống với dẫn thoát thủy để trồng hai vụ mỗi năm hầu đáp ứng nhu cầu lúa gạo gia tăng. Từ đó, miền Bắc có thêm vụ lúa Chiêm, còn gọi vụ Đông-xuân trồng từ tháng 11 đến tháng 5 và vụ lúa Mùa từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch.

     Ở Miền Trung, nhiều nơi cũng trồng 2 vụ lúa mỗi năm từ lúc nước Chiêm Thành được thành lập năm 192 sau CN, do ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ. Tại Miền Nam, lúa hai vụ (mùa mưa và mùa nắng) chỉ xuất hiện từ thời Pháp thuộc khi công tác thủy nông được thực hiện qui mô để đem nước tưới ruộng mùa khô. Cho đến 1975, miền này chỉ có khoảng 300 000 ha đất ruộng được tưới mùa khô với máy bơm nước.

     Đến cuộc Cách Mạng Xanh xảy ra từ 1968, cơ cấu trồng lúa trong nước đã thay đổi rất quan trọng:

     – Miền Bắc: Vụ Chiêm lần lượt giảm bớt và chuyển qua vụ Xuân, hoặc Xuân muộn. Ngoài ra, nhiều nơi còn trồng thêm vụ màu mùa đông như bắp, đậu tương, khoai tây… sau vụ Mùa.

     – Miền Nam: Vụ lúa Mùa giảm sút đáng kể và chuyển qua vụ Đông-xuân và vụ Hè-thu.

     – Miền Trung và Miền Nam: Trong thời kỳ Đổi Mới, nhiều nông dân trồng đến 3 vụ lúa mỗi năm ở những vùng thiếu đất và điều kiện thủy lợi cho phép. Trong 2012, ĐBSCL có đến hơn 500 000 ha với 3 vụ lúa, nhứt là tại những vùng có đê bao vững chắc (Dương Văn Chín, 2014). Về mặt kỹ thuật, hệ canh tác này không bền vững vì có thể gây ra nhiều dịch hại sâu bệnh trầm trọng và phì nhiêu đất đai suy thoái mau lẹ. Cho nên, cần thay thế vụ 3 bằng một màu phụ khác hoặc nuôi trồng thủy sản có lợi tức cao hơn.

     Do đó, các nông dân trồng lúa muốn có năng suất cao phải lựa chọn giống thích nghi với phong thổ từng vùng từng mùa:

Vụ Chiêm em cấy lúa Di

Vụ Mùa lúa Dé, sớm thì Ba giăng (Ba trăng).

3. CÁC GIỐNG LÚA TỪ VĂN HÓA BẮC SƠN ĐẾN NAY

     Xin nhắc lại trong khoảng thời gian 7 000-8 000 năm qua, cây lúa đã trải qua quá trình tiến hóa từ loài cây hoang được thuần hóa đến tuyển chọn và lai tạo để phát triển liên tục và trở nên cây lúa hiện đại ngày nay. Một số đặc tính chủ yếu của cây lúa biến đổi từ lúa hoang qua lúa trồng như sau:

     – Một số lúa hoang đa niên trở thành lúa hoang hàng niên và cây lúa trồng hàng niên, qua đột biến hoặc tuyển lựa,

     – Thân cao trở thành thấp giàn: nửa lùn,

     – Ít chồi trở nên nhiều chồi hữu hiệu,

     – Lá lúa cong oằn, xanh lợt trở nên lá thẳng và xanh đậm,

     – Lá lúa xoè ra trở thành gom lại,

     – Bông lúa ít hạt, dễ rụng trở nên nhiều hạt và ít rụng,

     – Hạt lúa có đuôi trở nên không đuôi,

     – Thời gian hạt chín kéo dài trở nên chín đồng đều trong thời gian ngắn,

     – Hạt lúa màu nâu tím trở nên vàng lúc chín,

     – Hạt lúa hưu miên kéo dài trở nên ít,

     – Năng suất tăng từ thấp (độ 540 kg/ha vào đầu CN) lên cao (10-11 t/ha).

     Ngoài điều kiện địa phương, chính sự biến đổi này đã tạo ra nhiều giống lúa khác nhau theo thời gian ở mỗi vùng sinh thái. Cho đến khi các bộ lạc trồng lúa xuất hiện, cây lúa đã được thuần dưỡng hàng trăm, ngàn năm và đã trở thành những cây lúa hàng niên, nhưng diện mạo còn giống như cây lúa hoang nên năng suất rất thấp. Thời bấy giờ, chắc chắn đã có nhiều giống lúa được trồng bởi nhiều bộ lạc khác nhau trên khắp nước, nhứt là từ khi cư dân biết trồng lúa rẫy, lúa na (thung lũng) và lúa nước phù sa. Các giống lúa của 3 hệ thống này khác xa nhau do điều kiện sinh thái khác nhau: vùng đất cao, thung lũng và đồng bằng phù sa. Hơn nữa, các giống lúa được trồng ở nhiều địa phương khác nhau, nên tiến hóa theo thời gian và môi trường. Cần lưu ý rằng các “giống” lúa tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ học từ thời sơ cổ đến trước thời Bắc thuộc chưa được định danh rõ ràng, ngoại trừ nhận diện hai loại gạo nếp và gạo tẻ, và các hạt gạo có hình dạng khác nhau. Sau đây là một số báo cáo về các loại, giống lúa đã biết đến:

     Lúa nếp và lúa tẻ: Trong nền văn hóa Bắc Sơn, các bộ lạc phần lớn trồng lúa nếp (có hạt bầu tròn) ở nương rẫy trên các đồi núi hay đất cao. Hiện nay, nếp vẫn còn là lương thực quan trọng của dân tộc Thái, Tài, Mường…. Dân tộc Lào, và người Thái vùng Đông Bắc vẫn còn ăn cơm nếp ba lần mỗi ngày. Tục lệ cúng bánh chưng và bánh dày vào dip Tết; làm xôi, nấu rượu cúng Ông Bà trong ngày giỗ kỵ và dùng trong các lễ hội vẫn còn tiếp nối từ thời đại Hùng Vương đến nay. Trong thời đại này, lúa tẻ có hình dáng thon dài, được các nhà khảo cổ tìm thấy trong các hạt gạo cháy tại di chỉ văn hóa Đồng Đậu cách nay 3 000 năm; cho nên, giả thuyết lúa tẻ Việt Nam do nhập nội từ Trung Quốc chưa hẳn đúng.

     Trong các thế kỷ sau CN, lúa tẻ được trồng ngày càng nhiều và thay thế dần lúa nếp ở ruộng nước, do năng suất cao và gạo tẻ cho cơm nhiều hơn gạo nếp. Lúa tẻ được biết vào thời Hai Bà Trưng (40-43 năm sau CN), vì trong lễ cúng Hai Bà có cả bánh dầy và bánh cuốn làm bằng gạo. Lúa tẻ trở nên phổ biến muộn nhứt từ thế kỷ XVII (Bùi Huy Đáp, 1980 và 1999).

     Cũng cần biết lúa tẻ và lúa nếp khác nhau chủ yếu về hàm lượng tinh bột (amylose) trong hạt gạo. Gạo tẻ có nhiều chất tinh bột (20-28%), còn gạo nếp chỉ có 0-10% chất amylose. Khi nấu cơm, gạo tẻ nở nhiều gấp 2 lần gạo nếp. Vì thế, lúa tẻ đã bành trướng mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu dân số gia tăng trong các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới.

     Ở di chỉ An Sơn (Long An), một dòng lúa nước thuần được phát hiện với công nghệ MicroCT qua một mảnh gốm chứa vỏ trấu có niên đại Đá Mới cách nay 4 000 năm (Barron và cộng sự viên, 2017). Các khám phá mới này cho biết có hai hệ thống trồng lúa rẫy trên đất cao và lúa nước dưới đất thấp, dĩ nhiên mỗi loại lúa có nhiều giống được trồng ở các địa phương khác nhau.

     Trong di chỉ khảo cổ Đồng Đậu (cách nay 3 500-3 000 năm), các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều hạt gạo cháy có hình dáng kích thước khác nhau, cho biết nông dân đã dùng nhiều giống lúa để trồng. Theo mô tả của Ông Đào Thế Tuấn (1988), có ít nhứt 6 giống lúa tìm thấy tại di chỉ Đồng Đậu; đó là những giống có hạt thon dài, thon ngắn (tẻ), bầu dài, bầu ngắn, tròn dài, tròn ngắn (nếp). Ở di chỉ Tràng Kênh (Hải Phòng), họ còn phát hiện nhiều phấn hoa của một giống lúa nước, có niên đại 3 405 ± 50 năm (Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn, 2000). Nhiều hạt lúa có hình dạng khác nhau được phát hiện ở di chỉ Gò Mun có niên đại C14 là 3 120 ± 100 năm (Sakurai, 1987). Hình dạng khác nhau của hạt lúa cho biết đó là những giống lúa khác nhau được trồng trên đất cao, thung lũng và ruộng nước thấp.

     Từ thế kỷ VII đến II trước CN, trong Triều đại Hùng Vương, lúa nếp còn chiếm vị thế quan trọng, với truyền thuyết bánh chưng và bánh dày. Ngoài ra, còn có các giống lúa rẫy, lúa ruộng nước theo thủy triều (lúa nổi), các giống lúa thung lũng (lúa nà), các giống lúa ở lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu và sông Cả; các giống lúa ở miền Đông và Đồng bằng sông Cửu Long và các giống lúa sớm, lỡ và muộn do ảnh hưởng quang cảm.

     Thế kỷ II sau CN, có các giống lúa Chiêm, lúa Mùa, lúa nếp hạt tròn, lúa tẻ, lúa nước, lúa rẫy, lúa na. Theo sách Di vật chí : “Lúa Giao chỉ mỗi năm trồng hai lần, về mùa hạ và mùa đông”. Ở miền Bắc, lúc bấy giờ vụ lúa Chiêm (tháng 11-5) bắt đầu xuất hiện với những giống lúa không có quang cảm tại nhiều địa phương, như lúa chiêm Di, chiêm Vàng, Tép, Cúc…. Vụ lúa Mùa (tháng 6-11) là vụ lúa chính nhờ nước trời mưa và thủy triều lên xuống với các giống lúa có quang cảm ở các địa phương. Sách Di Vật Chí ghi rằng: “Ở Giao Chỉ có loại nếp hương, mỗi năm trồng hai vụ”.

     Thế kỷ III sau CN, xứ Giao Châu (gồm cả Giao Chỉ) “có lúa Hổ chướng (bàn tay hổ), lúa Tử mang (râu tía), lúa Xích khoáng (lúa lụa đỏ). Phương Nam có lúa Thiền minh (lúa chín vào vụ ve kêu), lúa Thất nguyệt thục (chín tháng 7). Có lúa Cái hạ bạch trồng về tháng 1, tháng 5 gặt; sau gốc lại mọc, tháng 9 lại có lúa chín. Lúa Thanh vu lại chín về tháng 6. Lúa Lũy tử, lúa Bạch mạc đều chín về tháng 7. Ba giống lúa này vừa to, vừa dài, nhánh lúa dài một tấc rưỡi, có ở Ích châu. Lúa Cánh có các loại Ô cánh, Hắc khoáng, Thanh ảnh, Hạ bạch” (Sách Quảng chí theo Lê Quí Đôn, 2003).

     Thế kỷ X và XI, có giống lúa (Đạo) còn gọi là lúa Tiên hay lúa Chiêm. Lê Quí Đôn (thế kỷ XVIII) viết: “…còn lúa Cái hạ bạch thì mãi đến đời Chân Tông (998-1022) nhà Tống mới sai sứ sang Chiêm Thành lấy 3 vạn hộc lúa đạo đem về phân phát cho các đạo (các tỉnh) nên mới có giống lúa ấy. Giống lúa này gọi là Tiên (thứ lúa 8 cánh, chín sớm)”. Lúa Chiêm có nhiều loại giống: Lúa Tiên tử hay còn gọi là Hồng liên có hạt thóc to, lòng đỏ, trấu cũng đỏ. Gạo hạt nhỏ, trắng, cấy tháng 4 gặt tháng 6 gọi giống lúa “60 ngày”. Gạo đỏ chín muộn hơn gọi là lúa “80 ngày”. Lại có giống muộn hơn nữa gọi là lúa “100 ngày” (Ho, 1969 và theo Bùi Huy Đáp, 1980). Dĩ nhiên, các giống lúa Chiêm này có mặt ở Miền Trung (có thể ở cả Miền Bắc), tuy nhiên chúng khác với các giống lúa Chiêm đã du nhập vào đồng bằng sông Hồng trước đó 9-10 thế kỷ.

      Giữa thế kỷ XVII“Ở Lĩnh Nam có nhiều thóc tẻ, mà ở Giao Chỉ nhiều nhất. Còn thóc nếp ở An Nam có nếp trắng, nếp vàng; có đến hơn 10 giống; họ dùng gạo tẻ nấu cơm ăn và gạo nếp nấu rượu.” (Sách Quảng Đông tân ngữ theo Bùi Huy Đáp, 1980 và Lê Quí Đôn, 2003).

      Cuối thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn đã quan sát và phân loại 70 giống lúa ra làm: 27 giống lúa mùa, 14 giống lúa Chiêm và 29 giống lúa nếp. Cho đến 1980, hơn 200 năm sau, một số giống lúa kể trên vẫn còn được trồng, như Tám xoan ở Hà Bắc; lúa Thông ở Nam Ninh, Thanh Hóa; Tám râu ở Hải Phòng; Bát ngoạt ở Nghệ Tỉnh; Chiêm bầu ở Vĩnh Phú, Hải Hưng,…(Bùi Huy Đáp, 1980). Lê Quí Đôn (2003) đã mô tả chi tiết về một số giống lúa như sau:

      Miền Bắc:

     “Lúa Thông: cây nhỏ, yếu,

     Lúa Tám canh hay Tá quảng: cây cao, quả sai,

     Lúa Hiên: cây cao bông dài,

     Lúa Chiêm hom có 3 giống: một giống hạt nhỏ dài, đỏ, có râu; một giống hạt mỏng không râu; một giống hạt to đỏ có râu,

     Lúa Sài đường, Chiêm di: cây nhỏ, yếu, dễ đổ,

     Lúa Tám trâu, Bồ lo, Thạch, Mang hai, lúa Bột: cây cứng thẳng

     Lúa Chiêm vàng và lúa Đăng sơn: cây cứng bị mưa gió không đổ.

     Lúa Mân sơn, lúa Câu, lúa Ba trăng, Sài đường, Mận đẻ, lúa Lốc: chín sớm

     Lúa Thạch: chín muộn,

     Lúa Chiêm dự, lúa Hoa giềng: bông thưa,

     Lúa Nàng hai, lúa Bột: hạt chi chít, đông đặc;

     Lúa Nghệ: hạt cực đỏ,

     Lúa Nấm: Hạt tròn to, có râu, nhẵn,

     Lúa Tám trâu: hạt vừa vàng vừa đen,

     Lúa nếp đen: hoa lá đều có hương,

     Lúa Vươn cổ, lúa Hùng: bông vượt ra khỏi lá, lúa trổ khoe bông,

     Lúa nếp lùn: bông lúa không ra khỏi ngoài lá hay lúa trổ dấu bông,

     Lúa Cái hạ bạch: khả năng đẻ chét,

     Lúa Chiêm di, lúa Gié nước, lúa Hom: chịu đựng nước sâu,

     Lúa Tám hom, lúa Câu: cần ruộng cao,

     Lúa Tám sinh, lúa Mít, Lúa Hoa giềng, lúa Lốc: nẩy chồi nhanh,…”

      Miền Trung, Lê Quý Đôn đã ghi nhận trong Phủ Biên Tạp Lục:

      “Ở Triệu Phong có nếp Kỳ lân, nếp Suất, nếp Hạt cau, nếp Hương bầu, nếp Ông lão, nếp Trâu (cấy tháng 11 gặt tháng 4). Lúa tẻ gồm có lúa Sú, lúa Chiêm, lúa Hẻo, lúa Xung, lúa Tám, lúa Viên, lúa vụ 8…

     Ở Huyện Minh Linh có nếp Bò, nếp Mít, nếp Râu. Lúa tẻ có Ba bả, lúa Chiêm chịu nước mặn, lúa Chăm bọc, lúa Chăm xa, lúa Hẻo.

     Ở Huyện Lệ Thủy có nếp Măng, nếp Nhựa, nếp Hạt cau,…Lúa tẻ có Bát ngoạt, giống Chăm hót, lúa Hẻo.”

     Đầu thế kỷ XIX, ở Gia Định có một số giống lúa và nếp nổi tiếng (Phan Huy Chú, 1821):

     “Lúa tẻ Mắc cửi: hạt gạo nhỏ và dài, trắng như bông, rất thơm,

     Lúa nếp Mướp: hạt lớn, dài, trắng thơm và dẻo,

     Nếp Mây: hạt gạo dài, lớn, mềm dẻo,

     Nếp Than: hạt nhỏ đen và mềm dẻo,

     Nếp Tre: hạt nhỏ như hoa tre,

     Nếp Sáp.

     Các giống này đến tháng 5 gieo mạ, tháng 7 cấy, tháng 11 gặt đến tháng 1 mới xong, tháng 2 làm thóc”.

     Trong triều đại Gia Long (1802-1820), Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức (2005) đã ghi: “Gia Định đất tốt lại rộng, thổ sản như: lúa gạo, cá muối, cây gỗ, chim muông. Lúa có nhiều loại, đại khái có 2 loại: lúa Canh và lúa Thuật, trong đó có xen lúa dẻo. Lúa Canh là thứ lúa không dẻo, hạt gạo nhỏ, cơm mềm, mùi rất thơm, là thứ lúa có cái mang (đuôi ở đầu hạt lúa); lúa Thuật là thứ lúa dẻo, hạt tròn mà lớn. Lúa có tên riêng như lúa Tàu, lúa Móng tay, lúa Móng chim, lúa Mô cải, lúa Càn đông, lúa Cà nhe, lúa Tràng nhất, lúa Chàng co, tên gọi khác nhau, và có sớm, muộn, dẻo và không dẻo khác nhau, nhưng thứ ngon đệ nhất là giống lúa Tàu, thứ nhì là giống lúa Cà nhe.

      Nếp có nếp Hương, nếp Sáp lại có thứ nếp Đen, có tên nữa là nếp Than, sắc tím, nước cốt đen, dùng nhuộm màu hồng, khi ăn không cần giã, lấy chõ xôi hấp cho chín, nhơn khi còn nóng rưới mỡ heo, lá hành và muối trắng, trộn cho đều, mùi vị rất ngọt và giòn.”

     Vào giữa thế kỷ XIX, đã có rất nhiều giống lúa tẻ và nếp được tìm thấy ở tỉnh Gia Định và Định Tường (Đại Nam Nhất Thống Chí, tr 241). Có rất nhiều giống lúa của Miền Bắc hoặc Miền Trung được đem vào Miền Nam, như lúa Thơm, lúa Chiêm, lúa Móng chim, lúa Man, lúa Hẻo trắng (Hẻo rằn), lúa Cánh, lúa Ba trăng, lúa Bát ngoạt, lúa Trắng, lúa Dung, lúa Đen, lúa Chày chày; hoặc các loại nếp như nếp Voi, nếp Cau, nếp Bò, nếp Vằn, nếp Bụt, nếp Kỳ lân, nếp Hương bầu, nếp Cút, nếp Cò, nếp Cái, nếp Than, nếp Lụa, nếp Sáp, nếp Trứng (Huỳnh Lứa và các cộng sự viên, 1987).

      Đầu thế kỷ XX (thập niên 1920-30), Việt Nam có độ 1 200-2 000 giống lúa, trong đó Miền Nam có ít nhất 800 giống (Carle, 1927) và miền Bắc có 300 giống (Dumont, 1995) (Hình 1). Ở miền Bắc, trong hơn 300 giống lúa nêu trên có độ 100 giống lúa tháng Năm, 200 giống lúa tháng Mười, độ hơn mười giống lúa “Ba trăng” và một số lúa nếp (Dumont, 1995). Theo khảo cứu trong thời gian này, lúa tháng Năm (vụ Chiêm) được chia làm 3 nhóm tùy theo sự phân nhánh cấp 1 và cấp 2 của gié lúa:

      Nhánh rất ít: những giống lúa Tép, Sài đường và Chanh

      Nhánh ít : những giống lúa Bầu

     Nhánh nhiều: những giống lúa Hom và Cút

     Lúa tháng Năm hay lúa Chiêm: Thời gian sinh trưởng thay đổi tùy theo ngày gieo mạ vì ảnh hưởng của nhiệt độ thấp vào mùa đông, nên có từ 180 đến 230 ngày, năng suất bình quân 2 – 3 t/ha, gồm các giống được ưa thích như Chanh, Tép, Cút và vài loại nếp ở Hải Dương. Lúa Cút và nếp chống ngã. Ở miền Bắc, vụ Đông-xuân với giống lúa sớm (hay “lúa Chiêm”) đã có hơn 2 000 năm nay, bắt đầu vào mùa lạnh khô và chấm dứt vào đầu mùa mưa. Vụ lúa Chiêm ở miền Bắc có thể đã bắt nguồn từ giống lúa sớm được đưa từ miền Nam lâu đời (Bùi Huy Đáp, 1980), nhưng nay phần lớn vụ Chiêm được thay thế bởi vụ Xuân có năng suất cao hơn. Trong Lịch Triều Hiến Chương, Ông Phan Huy Chú ghi rằng phủ Triệu Bình ở khoảng giữa địa hạt Thuận Hóa, phía nam giáp Quảng Nam, có ít ruộng mùa, nhiều ruộng Chiêm. Vụ Chiêm là mùa chính còn vụ mùa là trái mùa. Ở Quảng Nam, hiện nay còn trồng lúa Chiêm gọi là lúa Champa, gốc Chiêm Thành, được gieo mạ vào tháng 5 âm lịch và là vụ mùa phụ giữa hai vụ mùa chính (Trần Gia Phụng, 2000).

Hình 1: Hình họa cây lúa nếp, lúa tẻ và lúa rẫy vào đầu thế kỷ XX (Brenier, 1917)

     Lúa Tháng Mười hay lúa Mùa: Lúa này ngắn ngày hơn lúa tháng Năm do ảnh hưởng quang cảm, có 130 đến 180 ngày, gồm có (Dumond, 1995):

     nhóm lúa Tám: Tám lùn, Tám canh, Tám xoan;

     nhóm lúa Dé: Dé bun hay Dé muộn;

     nhóm nếp con: nếp Vân, nếp Thông, nếp Danh, nếp Ruồi.

     Những giống sớm tốt như nhóm Dé, nhóm Tám (Tám canh), Sớm trăng hoặc Hông; Sớm giai hoặc Trúc.

     Một số lúa muộn có năng suất cao và phản ứng phân tốt như: lúa Hon, râu trắng, râu đen. lúa Nghệ.

      Những loại nếp cũng có năng suất cao, có khi đến 3 t/ha như: Hin đỏ, Hin trắng, Dé đen, Dé đỏ, nếp Thầu dầu, nếp Cái dộc. Ở Sơn Tây có Dé sớm, Dé đỏ và Tám lùn.

Lúa Chiêm thì cấy cho sâu
lúa Mùa thì gãy cành dâu là vừa.
Lúa Chiêm đào sâu chôn chặt
lúa Mùa vừa đặt vừa ăn.

      Trong thập niên 1920, Trung Tâm Thí Nghiệm Lúa đầu tiên của xứ ở Cần Thơ đã tuyển chọn nhiều giống địa phương để trồng đại trà (Bảng 1) (Trần văn Hữu, 1927):

Bảng 1: Các giống lúa địa phương tuyển chọn vào thập niên 1920

GIỐNG LÚAGIỐNG LÚA
Ba trăng
Bông dừa
Bông dâu
Cà đung
Cà đung đá
Cà đung bông dâu
Cà đung bông chanh
Đung tiên
Huê kỳ
Lúa ngà
Lúa hon
Móng tay
Nàng Gồng
Nàng Gồng trắng
Nàng huớt trắng
Nàng bè
Nàng ngọc chùm
Phụng tiên
Rạ mày
Rạ niêu
Rạ chùm
Tàu chén
Trăng lớn
Trăng nhỏ

     Vào thập niên 1950 và 60: Năm 1952, Việt Nam (Cục Túc Mễ Đông Dương) đã tham gia vào chương trình Catalogue Thế Giới về Nguồn Gen được tổ chức bởi Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế International Rice Commission – IRC) thuộc Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), Rome, qua cung cấp tài liệu chi tiết về 78 đặc tính của 51 giống lúa cải thiện (gồm nguồn gốc, mô tả cây và hạt lúa, phản ứng sâu bệnh, thiên nhiên và xếp loại chất lượng và năng suất) (FAO, 1952). Mỗi đặc tính được đánh giá từ 0-2 hoặc từ 0-9 (Bảng 2).

Bảng 2: Các giống lúa địa phương tuyển chọn của Việt Nam trong Catalogue thế giới

GIỐNG LÚAGIỐNG LÚAGIỐNG LÚA
Ba bo ti S7
Ba Monh ti S6
Bàu 157
Bông sen đen 2R10
Cà đung Gò công 111 R22
Cà đung kết R26
Cà đung phèn R29
Cau 264
Chiêm chanh 198A
Đốc phụng R 37
Đốc phụng lùn A R16
Gi
Giàu cao 89 B
Dé nổi 33 B
Giồng chiêm 351
Hin trắng
Hồng xôi R 88
Hồng xôi B R 31
Họp V A
Lúa uoi R 87
Móng chiêm R 58
Móng tay trung B2R1i
Nàng co trắng R 10
Nàng ếch 2R6
Nàng ếch R73
Nàng keo R138
Nàng phệt muộn R18
Nàng quớt R 59
Nàng quớt R 79
Nàng rừng F6
Nàng tây nhỏ C F15
Neang Veng 339 E 23
Nếp Cả cương 728
Nếp hoa vàng 830
Nếp trứng vịt G5
Prey keo E 53
Puang ngeon E 49
Rạ vàng 2R5
Ru X 11 C
Sa mo R 78
Sóc đỏ R 90
Sóc nâu R 42
Tám đen 516 A
Tàu bắc R 80
Tàu binh C F18
Tàu chệt cục R 53
Tép Sài gòn 229
Tiêu bé R 3
Tunsart R 96

          Mời xem tiếp:

Các GIỐNG LÚA trồng ở VIỆT NAM từ thời NGUYÊN THỦY đến HIỆN ĐẠI (Phần 2)

Nguồn: http://viethocjournal.com/
Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)