Các nền văn minh cổ ở Đồng Nai
I. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Đồng Nai có một quá khứ sâu thẳm và cực kỳ lý thú. Lòng đất Đồng Nai bảo tồn nhiều dấu vết cuộc sống của con người nguyên thủy. Nhờ vào những phát hiện khảo cổ học từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Đồng Nai nói riêng, lưu vực sông Đồng Nai nói chung được biết đến với tư cách một vùng đất từng chứng kiến sự hình thành, phát triển, dao động của những cộng đồng người cổ quần tụ và liên tục sáng tạo văn minh.
Những di tích, di vật khảo cổ ở Đồng Nai được phát hiện, nghiên cứu rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn. Trước tiên là giai đoạn của những phát hiện lẻ tẻ từ cuối thế kỷ XIX. Một số công cụ bằng đá được thu lượm bởi những quan chức và các trí thức người Pháp được công bố, và do đó xuất hiện những địa danh ở Đồng Nai trên bản đồ khảo cổ học của thế giới. Giai đoạn hai là khoảng thời gian của thập niên cuối 60, đầu 70 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn mà công việc nghiên cứu bắt đầu mang tính chất hệ thống, khoa học với công lao to lớn của những học giả Pháp như: E.S Saurin, H. Fontaine, L. Maueret. Từ đó, đã sơ khởi hình thành những nhận định về một nền văn hóa phát triển của những tộc người cổ trên đất Đồng Nai. Giai đoạn ba được tính từ năm 1975 đến nay. Các nhà nghiên cứu trong nước đã tiến hành nhiều đợt điều tra thám sát, khai quật kiểm chứng các phát hiện trước đây và tìm những địa điểm mới. Phải mất nhiều thời gian, công sức và trí tuệ, một nền văn hóa cổ Đồng Nai thời tiền sử được định danh với sự phát triển rực rỡ, lan tỏa và giao thoa của nó.
Vùng đất Đồng Nai có thể xem là một trong những chiếc nôi của buổi bình minh xã hội loài người. Sự xuất hiện của người cổ với nền văn minh tiền sử phát triển đã đánh dấu một thời kỳ lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử của nhân loại.
II. Diễn trình thời kỳ tiền sử ở Đồng Nai
Hàng loạt các địa điểm trên vùng Đồng Nai như: Dầu Giây, An Lộc, Hàng Gòn, Cam Tiêm, Bình Lộc, Núi Đất, Phú Quý… đã phát hiện những công cụ lao động của người cổ. Đó là những hiện vật thuộc thời đại đồ đá cũ, thời đại lịch sử đầu tiên và chiếm khoảng thời gian dài nhất trong xã hội loài người. Khởi điểm của thời kỳ này được kể từ khi con người biết chế tạo ra công cụ đầu tiên.
Bộ sưu tập hiện vật phát hiện ở Xuân Lộc và các vùng phụ cận hầu hết là những công cụ lao động của người cổ, nằm rải rác trên lớp dung nham bề mặt địa tầng văn hóa. Đó là những rìu tay, mũi nhọn, hòn ném, nạo, công cụ “tam diện”, mảnh tước… được làm từ đá bazan, loại chất liệu rất phong phú ở Đồng Nai do sự thành tạo địa chất. Đặc điểm của loại đá này là có nhiều khe nứt nguyên sinh, thuận lợi cho người cổ vốn non kém về nhận thức, kỹ thuật trong việc chế tác công cụ lao động trong buổi đầu chập chững thích ứng với môi trường sống ban đầu. Đặc biệt là những công cụ được ghè đẽo hai mặt hình hạnh nhân được xem là công cụ được người vượn cổ chế tác cẩn thận, có sự đầu tư nhiều công sức. Bằng những công cụ này, người cổ Đồng Nai đã đặt dấu ấn của mình trong lịch sử phát triển chung của nhân loại.
Từ thuở ban đầu, nhờ có công cụ lao động mà lớp người cổ Đồng Nai đã dần thoát khỏi loài động vật. Họ sinh sống quần tụ thành những quần thể nhỏ, bầy người nguyên thủy, nương dựa vào nhau. Ban đầu họ sống bằng cách hái lượm và chế tác những công cụ lao động, phục vụ cho cuộc sống với những nhu cầu thiết yếu nhất. Dù cuộc sống còn hoang sơ, song đã sơ khai hình thành một hình thái xã hội người xác định. Người cổ Đồng Nai đã duy trì sự tồn tại của mình hàng chục vạn năm và mở đầu cho tiến trình chinh phục môi trường, hoàn thiện dần cộng đồng người mang tính chặt chẽ càng lúc càng được xác lập nhờ vào tích lũy nhận thức.
Niên đại di chỉ khảo cổ học ở Đồng Nai được xác định bằng cách so sánh loại hình công cụ. Di chỉ An Lộc có niên đại thời kỳ Apbơvin (70-60 vạn năm cách ngày nay); Hàng Gòn, Núi Đất thuộc thời kỳ chuyển tiếp Apbơvin đến A Sơn (tức 60-30 vạn năm cách ngày nay). Di chỉ Dốc Mơ thuộc trung kỳ A Sơn. Địa điểm Dầu Giây, Bình Lộc, Bình Xuân… thuộc kỳ A Sơn phát triển. Phú Quý thuộc kỳ A Sơn muộn (tức từ 30-25 vạn năm cách ngày nay)
Một khoảng thời gian khá dài từ khi xuất hiện, vượt qua bao khó khăn, các lớp cư dân cổ Đồng Nai dần dần hoàn thiện mình để bước vào những chặng đường phát triển mới, và bắt đầu đặt dấu ấn quan trọng trong việc sáng tạo chinh phục trên vùng đất Đồng Nai.
Từ thực tế săn bắn và hái lượm với những chiếc rìu, những vũ khí được chế tác thô sơ của hàng triệu năm đá cũ, người cổ ở Đồng Nai đã biết làm nên những công cụ hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Họ biết làm đồ gốm, chăn nuôi và đặc biệt là sự sáng tạo vĩ đại: Nông nghiệp. Phát minh ra trồng trọt là một yếu tố quan trọng nhất ở thời kỳ đá mới của người cổ Đồng Nai, nó làm chuyển biến cơ bản trong phương thức tìm kiếm thức ăn của họ, chuyển đời sống kinh tế phụ thuộc tước đoạt thiên nhiên (săn bắn, hái lượm) sang thời đại sản xuất thích ứng, biến đổi thiên nhiên (chăn nuôi, trồng trọt).
Bộ sưu tập hiện vật đa dạng, phong phú được phát hiện, đặc biệt là công cụ sản xuất: cuốc đá, rìu mài nhẵn, dao đá… và có cả đồ gốm ở các di chỉ Cầu Sắt, Bình Đa, Gò Me… cho thấy người cổ Đồng Nai phát triển nông nghiệp sớm. Sự cải tiến công cụ lao động từ thô sơ đến ngày càng tinh xảo là sự nhảy vọt về kỹ thuật của người cổ Đồng Nai: Chế tác điêu luyện, sử dụng thành thạo, tu chỉnh, mài, giữa… cùng với việc chế tác gốm, làm biến đổi tính chất chất liệu thiên nhiên (lửa để nung hay pha chế, tạo dáng, trang trí…). Đây là giai đoạn đỉnh cao của cư dân cổ Đồng Nai thời đá mới. Chính ở thời điểm này, cộng đồng tộc người ở Đồng Nai hình thành, đã khởi dựng và bồi đắp một truyền thống văn hóa – kỹ thuật để tiến vào ngưỡng cửa của văn minh nhân loại, theo tiến trình chung của sự phát triển con người từ thời đại đồ đá sang kim khí.
Từ sau văn hóa đá mới, Đồng Nai, lưu vực sông Đồng Nai có sự bùng nổ lớn về dân số. Sự phát triển nông nghiệp trở thành cơ sở vững chắc về kinh tế đã đưa tổ chức xã hội cư dân cổ Đồng Nai chuyển biến lớn. Họ đã dần định cư theo làng và bắt đầu có sự phân công lao động.
Những di chỉ như Cái Vạn, Bình Đa, Phước Tân, Bến Đò, Gò Mít, Đồi Xoài, Trảng Bom, Sông Ray, cù lao Rùa, Núi Gốm… được điều tra, kiểm chứng, khai quật, xác định niên đại từ 3.000-4.000 năm cách ngày nay cho thấy người cổ Đồng Nai đã định hình cụm dân cư – làng cư trú: làng ven đồi, làng ven sông, làng ven biển và các công trường chuyên chế tác công cụ sản xuất, đáp ứng cho nhu cầu lao động tăng nhanh trong vùng. Trong các địa tầng văn hóa di chỉ khảo cổ thuộc thời kỳ đá mới đã có xuất hiện một số khuôn đúc rìu, giáo, lao, mũi tên đồng… cùng với di cốt động vật cổ. Điều đó cho thấy, trong thời kỳ đá mới, cư dân cổ Đồng Nai đã bắt đầu biết đến đồ đồng. Đây là giai đoạn các lớp cư dân cổ xưa đã sử dụng đầy đủ sức mạnh của truyền thống và kỹ thuật mới (chế tác công cụ đá kỹ thuật có hiệu quả và biết đến luyện kim) đã nhanh chóng mở rộng địa bàn cư trú trên quy mô lớn, tăng cường sản xuất, khởi dựng nền văn minh mới. Cùng với nền kinh tế bằng phương thức săn bắn, hái lượm, nông nghiệp, chăn nuôi phát triển, nghề gốm, đánh cá… đã làm cho cuộc sống người cổ ngày càng cao hơn về lương thực, thực phẩm. Song song với sự phát triển tại chỗ, cư dân Đồng Nai bắt đầu có sự phát triển lan tỏa về nhiều hướng.
Khoảng 2.500 năm cách ngày nay (hay thế kỷ thứ V trước công nguyên) cư dân Đồng Nai đã bắt đầu bước vào một truyền thống văn hóa kim khí phát triển rực rỡ trên lưu vực sông Đồng Nai.
Nền văn hóa thời đồ sắt ở Đồng Nai gắn kết hai giai đoạn phát triển đồng – thau và sắt sớm. Từ trong văn hóa đá – đồng đã manh nha văn hóa sắt sớm với hàng loạt di chỉ tiêu biểu được phát hiện: Dốc Chùa (nay thuộc tỉnh Bình Dương), Bình Đa, Cái Vạn, Suối Chồn, Hàng Gòn, Long Giao, Phú Hòa, Bưng Bạc (nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu…).
Thời kỳ sắt sớm ở Đồng Nai được xem là giai đoạn hào hùng của các lớp cư dân cổ ở Đồng Nai. Khi kỹ nghệ luyện kim phát triển, tạo nên nhiều công cụ đa chức năng, những vũ khí hoàn chỉnh đã tác động đến đời sống của người cổ trong khai khẩn, chinh phục thiên nhiên, bảo tồn nòi giống và để lại dấu ấn của mình. Hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trước đây, người cổ ở Đồng Nai đã đạt được những thành tựu lớn về văn hóa, kỹ thuật. Vùng Đồng Nai bắt đầu được khai phá mạnh mẽ, nền nông nghiệp bán địa (nông nghiệp nương rẫy) ra đời và không ngừng phát triển. Các làng nông nghiệp được khởi dựng ở nhiều nơi, được quy tụ thành những vùng dân cư khá “trù mật”. Đất Đồng Nai từ một thiên nhiên còn hoang sơ, nguyên thủy đã dần trở thành một địa bàn kinh tế – dân cư khá “trù phú” của trung tâm văn minh nông nghiệp Đồng Nai – Đông Nam bộ.
Sau cuộc hành trình dài với những đỉnh điểm: Cầu Sắt, Long Giao, Suối Chồn, cư dân cổ Đồng Nai đã tạo dựng một nền văn minh tiền sử rực rỡ trong quá trình xuất hiện, phát triển của mình. Nền văn hóa Đồng Nai phát triển, lan tỏa rộng, bắt đầu có sự giao thoa những yếu tố mới về văn hóa, tộc người. Những bộ sưu tập hiện vật phong phú như: Bình gốm, vòng chuỗi, hạt thủy tinh, mã não, khuyên tai, mộ chum… đã minh chứng cho một sự tiếp nhận, quan hệ qua lại giữa các yếu tố văn hóa – kỹ thuật, thậm chí về tộc người giữa Đồng Nai và các vùng phụ cận đa dạng và không bao giờ khép kín. Chính sự quan hệ rộng mở và hài hòa này đã tạo điều kiện cho đất Đồng Nai, con người Đồng Nai luôn đổi mới, hoàn thiện và không ngừng phát triển trên nền tảng của một vùng địa lý – văn hóa ổn định.
Cư dân cổ Đồng Nai phát triển cao về chất lượng, số lượng, xã hội được đẩy lên những bước cao hơn, đầy đủ những yếu tố chuyển tiếp cho giai đoạn phát triển mới: Hình thành các tộc người, cơ sở cho việc phát triển các quốc gia sơ khai ở Đồng Nai trong thế kỷ đầu công nguyên.
III. Những thành tựu tiêu biểu của cư dân cổ ở Đồng Nai
Trên chặng đường dài kể từ khi xuất hiện (văn hóa đá cũ Xuân Lộc) đến những bước phát triển cao hơn (văn hóa thời kim khí), cư dân cổ ở Đồng Nai đạt đến tầm cao của cuộc sống thời tiền sử được mệnh danh “Văn minh tiền sử lưu vực sông Đồng Nai”. Cùng với những bước đi dò dẫm, những phát minh để thích ứng, tồn tại với môi trường sống, lớp cư dân Đồng Nai cổ xưa đã để lại những dấu ấn tuyệt vời của mình. Đó là kết quả của một quá trình lao động khai phá không ngừng và sáng tạo của người cổ, khẳng định một truyền thống trên vùng đất Đồng Nai với một bản sắc độc đáo.
1. Đàn đá Bình Đa
Bình Đa là một di chỉ cư trú thuộc loại hình làng cổ ở ven sông của người xưa trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Năm 1979, tại đây đã phát hiện những thanh, đoạn đàn đá giữa tầng văn hóa có độ sâu 65cm trong trạng thái địa tầng nguyên vẹn. Năm 1992, tại đây còn phát hiện thêm 3 thanh, đoạn đá trong một đợt khai quật.
Việc phát hiện đàn đá tại Bình Đa là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu về một nhạc cụ độc đáo này trên lãnh thổ Việt Nam. Đàn đá Bình Đa được định vị niên đại 3.000-2.700 năm (cách ngày nay). Kết quả này góp phần khẳng định về niên đại cho sự xuất hiện của các loại đàn đá trước đây như: đàn đá Nout Liêng Krack, đàn đá Bù-do (Bảo Lộc), đàn đá Bù-đăng-xrê, đàn đá Khánh Sơn… Loại đàn đá hẳn có cội nguồn từ lâu, ít ra qua sự gợi mở của đàn đá Bình Đa, thì dòng nhạc truyền thống này có chiều dài lịch sử cả ba ngàn năm. Đây là một sản phẩm văn hóa tiêu biểu và độc đáo của cư dân cổ trên đất Đồng Nai.
Trong dáng vẻ mộc mạc, thô sơ của đàn đá, là kết tinh cao độ của một truyền thống chế tác và cảm nhận văn hóa tuyệt vời của người xưa. Đàn đá Bình Đa là một báu vật đáng trân trọng, nó “không chỉ là chứng tích của sự tồn tại một hình thức sinh hoạt văn hóa, mà chính bản thân nó là một sản phẩm được làm tại chỗ trên đất Đồng Nai cổ kính. Cộng thêm vào đó, với tuổi được biết đích xác là khá cổ hoặc là thuộc loại cổ nhất, nên có thể coi đàn đá Bình Đa như một thành tựu của một phát minh kỹ thuật – nghệ thuật độc đáo của lớp người xưa. Họ chính là những người mở đầu cho những sáng tạo và phát triển loại nhạc cụ này. Họ đã khởi dựng nên dòng nhạc đàn đá, trong đó có thiên nhiên Đồng Nai, cuộc sống, xã hội Đồng Nai xưa, có thể coi như là nơi đất tổ, là bầu sữa mẹ đã sản sinh ra, đã nuôi dưỡng dòng nhạc ấy ngay từ buổi ban đầu chập chững” (Đàn đá Bình Đa, NXB Đồng Nai, 1983).
2. Qua đồng Long Giao
Địa điểm phát hiện bộ sưu tập “qua” làm từ chất liệu đồng trên sườn dốc một ngọn núi lửa cổ thuộc địa phận ấp Long Giao của xã Xuân Tân, huyện Long Khánh.
Nhóm qua đồng Long Giao có đặc điểm chung là kích thước và trọng lượng rất lớn. Hai mặt qua được trang trí hoa văn hình học tinh xảo và cân xứng nhau. Cấu tạo qua gồm: Lưỡi, đốc, chuôi, hai cánh và khác nhau về thể lượng.
Đây là di tích đầu tiên mà khảo cổ học Việt Nam phát hiện một nhóm “qua đồng” có số lượng lớn (mới thu được 19 trong 70 tiêu bản do nhân dân địa phương tìm được). Long Giao có thể được xem là một kho lưu giữ vũ khí của người cổ ở Đồng Nai hoặc là nơi cư trú và mộ táng cổ có mặt đồ gốm, nù đồng, trúc đồng. “Qua” là một loại vũ khí đặc biệt dùng để chiến đấu tầm gần, cũng có thể là loại vũ khí biểu thị cho uy quyền của thủ lĩnh cộng đồng.
Các nhà nghiên cứu đã thấy có mối quan hệ của qua đồng Long Giao với các trung tâm văn hóa cổ khác ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa như: Đông Sơn, Dốc Chùa, đông bắc Thái Lan, Bàu Hoè (Bình Thuận)…
Sự phát hiện qua đồng Long Giao cho thấy người cổ Đồng Nai đã biết nghề luyện kim đến trình độ cao. Sự thể hiện tài tình các hoa văn trang trí trên các qua đồng thể hiện óc thẩm mỹ, sự sáng tạo của những người tài năng. Đấy là thành quả của một phức hợp kỹ thuật – nghệ thuật đỉnh cao của người tiền sử Đồng Nai. Để thích ứng trong những điều kiện lịch sử cụ thể, cư dân cổ Đồng Nai đã biết chế tạo cho mình loại vũ khí tự vệ và chiến đấu lợi hại. Đó chính là sự khẳng định vai trò, vị trí của người cổ Đồng Nai trước mọi thế lực đe dọa đến sự tồn vong chung; đồng thời thể hiện trình độ văn hóa của tầng lớp cư dân cổ Đồng Nai.
Niên đại của qua đồng Long Giao được xác định vào nửa sau thiên niên kỷ 1 trước công nguyên.
3. Mộ cự thạch Hàng Gòn
Năm 1927, khi chủ trì việc mở tuyến đường giao thông từ Long Khánh đi Bà Rịa (liên tỉnh lộ 2) kỹ sư người Pháp Jean Bouchot đã phát hiện một ngôi mộ bằng đá với những cột trụ nằm ngổn ngang trong địa phận đồn điền cao su W. Bazé, thuộc công ty Cao su Xuân Lộc (nay thuộc Nông trường Hàng Gòn – Công ty Cao su Đồng Nai, huyện Long Khánh). Được phép của trường Viễn Đông Bác Cổ, Jean Bouchot chủ trì việc khai quật di chỉ vào mùa mưa năm 1927 trong vòng một tháng. Kết quả khai quật đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, trở thành một đề tài hấp dẫn, mới mẻ, được các nhà khoa học đăng tải trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng.
Di tích là một hầm mộ được làm bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài nặng. Ngôi mộ hình hộp, dài 4,2 mét, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; bên trong đục đẽo sơ sài. Bốn tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy. Liên kết giữa các tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m x 0,3m. Phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.
Mộ cự thạch Hàng Gòn được đánh giá là loại hình Dolmen lớn nhất so với các ngôi mộ khác đã phát hiện ở châu Á. Năm 1928, trường Viễn Đông Bác Cổ đã xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử “mộ Đông Dương – mộ Dolmen Hàng Gòn, Xuân Lộc, Biên Hòa”. Năm 1984, Bộ Văn hóa xếp hạng mộ cự thạch Hàng Gòn là di tích quốc gia – một trong mười di tích quan trọng ở Nam bộ.
Di tích mộ cự thạch Hàng Gòn là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ ở Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng. Chắc hẳn người cổ ở Đồng Nai với sức mạnh đoàn kết và tài năng sáng tạo đã vượt qua bao khó khăn để dựng nên một kỳ tích còn lưu lại cho hậu thế.
Sự tồn tại của di tích mộ cự thạch Hàng Gòn hơn hai ngàn năm qua đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về nền văn minh được mệnh danh “văn minh lưu vực cổ sông Đồng Nai”, mặc dù việc hiểu về chủ nhân kiến trúc mộ cự thạch, hình thức tín ngưỡng liên quan của cư dân cổ vẫn còn là một sự bí ẩn hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu.
Xã hội con người Đồng Nai thời tiền sử phát triển khá rực rỡ, lớp cư dân cổ Đồng Nai bước vào trang sử mới: Thời kỳ sơ sử bắt đầu.
IV. Văn hóa Đồng Nai với các vùng lân cận (Đông Dương, Đông Nam Á) qua các di tích, di vật khảo cổ
Để tìm hiểu nền văn minh xưa trên đất Đồng Nai từ đầu công nguyên cho đến khi người Việt vào khai phá thật không đơn giản, bởi những vết tích văn minh của thời đại trước đã bị xóa nhòa trên mặt đất theo những biến thiên của lịch sử.
Tuy nhiên, dựa vào nguồn tài liệu thư tịch cổ, những phát hiện khảo cổ học, so sánh về văn hóa khảo cổ Đồng Nai với các vùng lân cận Đông Dương, Đông Nam Á, chúng ta có thể tiếp cận lịch sử vùng đất này trong hơn 10 thế kỷ đầu công nguyên, trước khi người Việt vào khai phá.
Theo sử liệu Trung Hoa, từ những thế kỷ đầu công nguyên, trên vùng đất Đông Nam Á đã hình thành các nhà nước sơ khai với vương quốc Phù Nam, Chămpa, Chân Lạp… chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ.
Cho đến bây giờ, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được vương quốc Phù Nam xưa, nay là những vùng đất nào ở khu vực Đông Dương, Đông Nam Á. Nhưng qua khảo cổ học, các nhà khoa học đã phát hiện những di tích văn hóa như đền thờ, cư trú, mộ táng, những tượng thần, bia ký, đồ trang sức… tương đồng với nhau về kiểu thức, cả ở đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam), bắc bán đảo Mã Lai, nam Thái Lan có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, VII sau công nguyên. Tập trung nhất là những di tích văn hóa tìm thấy ở miền Tây, sông Hậu và nổi bật là ở Óc Eo, Ba Thê (tỉnh An Giang). Loại hình di tích này được các nhà khoa học gọi là “Văn hóa Óc Eo”.
Loại hình di tích văn hóa Óc Eo ở Đồng Nai đã được phát hiện vào năm 1985 trong chương trình điều tra khảo cổ học khu vực ngập nước lòng hồ thủy điện Trị An, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khảo cổ trong nước. Đến nay, đã phát hiện được 23 địa điểm có di tích hoặc vết tích văn hóa Óc Eo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Các di tích khảo cổ học: Gò Ông Tùng, Gò Chiêu Liêu, Cây Gáo I và II ở Đồng Nai được xây dựng bằng gạch mộc (gạch phơi khô hoặc nung), có bình đồ kiến trúc hình chữ nhật, chính giữa xây huyệt thờ hình vuông nện chặt cát-đá-gạch. Bên trên kiến trúc có mái che làm bằng vật liệu nhẹ (gỗ, tre, lá). Khung niên đại những di tích này được xác định từ thế kỷ I đến thế kỷ III sau công nguyên.
Những di tích ở Đồng Nai như vậy được xây dựng khá sớm, có thể là điểm khởi đầu nền văn hóa Óc Eo đã một thời hưng thịnh ở miền Tây Nam bộ vào thế kỷ thứ III, thứ IV sau công nguyên. Bởi bến cảng Cần Giờ và các di tích khảo cổ học thuộc thời kỳ kim khí trước đó được xem là một trong ba trung tâm văn hóa lớn thời bấy giờ(10). Di tích kiến trúc ở đây mang hai truyền thống bản địa và ngoại nhập:
* Truyền thống bản địa là mái che kiến trúc gạch bằng vật liệu nhẹ, có nguồn gốc từ những di tích cư trú nhà sàn trước đó.
* Truyền thống ngoại nhập là kiến trúc gạch mộc, xây dựng huyệt thờ có nguồn gốc từ Ấn Độ được du nhập qua đường hàng hải từ trước khi Ấn Độ giáo thịnh hành mới được khởi dựng tại đây. Như vậy, có thể thấy rằng, cư dân vùng đất Đồng Nai thời kỳ này là thuộc quốc của Phù Nam, ảnh hưởng văn hóa Óc Eo thông qua đạo Hindu, Ấn Độ giáo.
Từ thế kỷ thứ II sau công nguyên, những tộc người ở vùng đất Quảng Nam hình thành vương quốc Chămpa, xây dựng kinh đô ở Trà Kiệu, mở bến cảng Hội An và theo đạo Hindu-Ấn Độ giáo(11). Ở miền Tây sông Hậu vào giữa thế kỷ VI, một tộc người ở Bassac là thuộc quốc của Phù Nam nổi lên thôn tính vương quốc này và thành lập vương quốc Chân Lạp, xây dựng kinh đô ở vùng Tonle Sáp (Biển Hồ), mở hải cảng ở eo biển Malacca và bờ biển đông nam Sumatra. Cùng thời, biển tiến theo chu kỳ Holoxen IV làm vùng đồng bằng Nam bộ chìm trong biển nước. Cư dân cổ Óc Eo chuyển dần lên những giồng đất cao ven sông, suối. Như vậy, vùng đất Đồng Nai là vùng đệm giữa hai vương quốc Chămpa phía đông và Phù Nam, Chân Lạp phía tây và ảnh hưởng Ấn Độ giáo.
Những di tích kiến trúc, tượng thờ tìm thấy ở Đồng Nai như: Đà Lắc, Nam Cát Tiên (Tân Phú), Rạch Đông. Đồng Bơ, Suối Ràng (Vĩnh Cửu), Rạch Đông (Thống Nhất), Bến Gỗ (Long Thành), Biên Hòa… có khung niên đại từ thế kỷ VI đến thế kỷ X sau công nguyên.
Những kiến trúc này thuộc dạng kiến trúc đền tháp thờ thần của đạo Hindu, kế thừa từ truyền thống Óc Eo, nhưng cải biến thành bình đồ vuông có bổ sung thêm các công trình phụ.
Di vật tìm thấy trong di tích và quanh vùng Biên Hòa hầu hết là tượng thờ, vật thiêng của đạo Hindu – Ấn Độ giáo, mà phổ biến thuộc hai giáo phái Vishnu và Siva. Các tượng thần Vishnu, thần Ganessa, các tượng Linga, Yoni… được thể hiện khá hiện thực, mộc mạc, mang truyền thống văn hóa Óc Eo.
Có thể thời kỳ này, Đồng Nai còn thuộc không gian văn hóa Óc Eo. Khi văn hóa Óc Eo ở đồng bằng sông Cửu Long suy tàn, thì nơi đây tiếp tục kế thừa, phát huy và giao lưu hội nhập với các nền văn hóa khác, tạo ra một nét văn hóa mới có tên gọi “Văn hóa hậu Óc Eo”. Có thể nói nếu văn hóa Óc Eo là một bộ phận văn minh Phù Nam biển thì văn hóa Óc Eo – hậu Óc Eo là một bộ phận văn minh Phù Nam nội địa. Nó tồn tại và phát triển độc lập với Chămpa ở phía đông và Chân Lạp ở phía tây.
Di tích Gò Bường (Long Thành) có niên đại thế kỷ X sau công nguyên. Di tích có bình đồ kiến trúc hình chữ nhật, bên trong ngăn thành nhiều ô vuông, mỗi ô là một huyệt sâu chôn vật thiêng và đắp đầy cát gạch, đá, phía trước có hành lang lót gạch và tiếp theo là một hồ nước. Vật thiêng chôn trong di tích gồm nhiều loại hình bằng đá, kim loại, thủy tinh, đá quý có nguồn gốc từ đông nam Ấn Độ. Trong di tích còn có hàng trăm mảnh vỡ của một tấm bia ký, chỉ ghép được bốn dòng không trọn vẹn, chữ viết theo lối tự dạng Phù Nam cổ, gốc nam Ấn Độ. Đây là loại hình kiến trúc mới, kết hợp hai truyền thống đền Óc Eo và bàu nước Chân Lạp.
Trong khi đó, tại Cầu Hang (Biên Hòa), các nhà khoa học lại phát hiện các loại ngói lợp sản xuất tại chỗ, nhưng mang phong cách thời Đường-Tống (Trung Hoa) và một số tượng thần, phù điêu mang phong cách Ba phuon (Chân Lạp) và Đồng Dương (Chămpa)…
Những di tích này cho thấy Đồng Nai là vùng đệm giữa hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp, chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa, nhưng vẫn lấy văn hóa Óc Eo làm nền tảng và hội nhập các nền văn hóa khác, cải biến thành một nền văn hóa mang tính bản địa. Sông Đồng Nai bấy giờ vẫn là đường giao thông huyết mạch giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng mà trung tâm hội tụ là thành phố Biên Hòa ngày nay.
Từ thế kỷ XII sau công nguyên, đạo Hindu-Ấn Độ giáo dần bị suy tàn, nhường chỗ cho Phật giáo phát triển và Hồi giáo du nhập vào Chămpa. Chân Lạp lui về ở chung quanh Biển hồ Tonle Sáp và Chămpa co cụm ở phía Nam trung phần (Việt Nam).
Di tích thuộc thời kỳ này ở Đồng Nai chỉ tìm thấy một pho tượng Phật duy nhất dưới lòng sông Đồng Nai mang phong cách nghệ thuật Ba phuon-Ăng Co vát, nhưng vẫn mang đậm truyền thống tạc tượng thần của đạo Hindu. Trong chùa Bửu Sơn (Biên Hòa) phát hiện tượng thần bằng đá, tượngVishnu, Visvakarma, Apsara bằng đồng.
Trong chùa Long Ẩn gần đó, có một tượng Phật bằng đá mang phong cách nghệ thuật Ăng Co muộn. Trong chùa Bửu Sơn, hiện đang thờ một tượng thần Vishnu bốn tay bằng đá, phía sau khắc bản minh văn bằng cổ tự Chămpa và Sancrit. Gần đó, còn tìm thấy bốn tấm phù điêu bằng đá kết, dùng gắn trên kiến trúc đền thờ, có phong cách nghệ thuật Tháp Mẫn (Chămpa). Ngoài ra, dưới đoạn sông Đồng Nai ở Biên Hòa còn phát hiện nhiều loại hình gốm đa dạng thuộc văn hóa Ăng Co muộn và Khmer – Thái.
Bản minh văn ở phía sau tượng thần Vishnu ở chùa Bửu Sơn cho biết, nơi đây đã từng xảy ra những cuộc chiến ác liệt giữa Chămpa và Chân Lạp, cuối cùng chiến thắng thuộc về Chămpa. Có thể nói đây là dấu tích cuối cùng của Chămpa tìm được trên đất Đồng Nai. Gốm có lẽ được du nhập vào khi vường triều Ăng Co hưng thịnh vào cuối thế kỷ XII – XIII và Thái Lan phát triển vào thế kỷ XIV – XV. Chúng được xuất cảng đến các vùng bán đảo Thái Lan như Malaysia, Trowolan, Indonesia, hạ lưu sông Đồng Nai, sông Mê Kông.
Từ thế kỷ XVI, Đồng Nai là vùng đất nằm ngoài kiểm soát của cả hai vương triều Chămpa, Chân Lạp. Vùng đất có sự chuyển biến lớn về chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội khi cộng đồng người Việt, người Hoa đến định cư, mà những vết tích cư trú, văn hóa phát hiện phổ biến, rộng khắp trên các địa hình.
Qua khảo cổ học, chúng ta thấy Đồng Nai là vùng đất con người tồn tại và phát triển liên tục từ thời tiền sử đến khi người Việt vào khai phá. Trong hơn 10 thế kỷ sau công nguyên, cư dân ở Đồng Nai sử dụng văn hóa Óc Eo làm nền tảng và tiếp thu những nền văn hóa khác, tạo nên một nét văn hóa mang tính nội địa.
V. Bước đầu nhận định nền văn minh xưa trên đất Đồng Nai
Từ đầu công nguyên, trên vùng đất Đồng Nai hẳn có nhiều bộ tộc cư trú, sinh sống. Khi Phù Nam lập quốc, quản lý từ đèo Cả trở vào Nam bộ, nhưng thực tế vùng đất này được quản lý rất lỏng lẻo. Hơn nữa, các bộ tộc mang tính tự trị cao, vốn thích tự do làm chủ núi rừng, nên khi có “thể chế quản lý”, đạo Ấn Độ du nhập, một số bộ tộc từ chối, họ rút sâu vào rừng hiểm trở, sống trên những thung lũng xung quanh đồi núi phía nam dãy Trường Sơn. Một số dần dần tiếp thu tín ngưỡng, văn hóa Phù Nam, nhưng cải biến cho phù hợp với địa sinh thái trong vùng, hình thành một nét văn hóa mang tính bản địa.
Kết quả nghiên cứu cổ nhân học trên các xương sọ tìm thấy trong các di tích mộ táng ở duyên hải đồng bằng miền Tây Nam bộ có niên đại trước, sau công nguyên vài ba trăm năm cho thấy: Đây là sọ của những người thuộc chủng Indonesien có mẫu tầm vóc trung bình nam 1,62 mét, nữ 1,60 mét, gần gũi với mẫu người dân tộc ít người hiện nay. Đó là các bộ tộc Xtiêng, Chơro, Châu Mạ, Kơho, được xác định là cư dân bản địa, hậu duệ của chủ nhân vùng đất Đồng Nai xưa.
Trong những năm cuối thế kỷ XX, khảo cổ học phát hiện quần thể kiến trúc gạch dạng đền thờ của đạo Hindu-Ấn Độ giáo ở Cát Tiên (Lâm Đồng), niên đại được đoán định khoảng thế kỷ IX-X sau công nguyên. Bước đầu nhận định đây là khu thánh địa của vương quốc Châu Mạ(12).
Cư dân bản địa ở dây chủ yếu theo truyền thống tục thờ tự nhiên (đa thần giáo). Đó là những vị thần gần gũi với cuộc sống, phù trợ họ trong cuộc sống; hoặc những vị thần mà họ không chế ngự được, mang đến cho họ sự sợ hãi, kinh hoàng. Họ tiếp thu các nền văn hóa Chămpa, Chân Lạp, nhưng kế thừa truyền thống văn hóa Óc Eo để tạo ra một sắc thái riêng, khá độc đáo của mình (qua các tượng, bia, kiến trúc…); họ có ảnh hưởng đạo Hindu, nhưng truyền thống tục thờ tự nhiên vẫn là chủ đạo.
Xã hội được tổ chức theo bộ tộc, thị tộc, mỗi bộ tộc có một tộc trưởng đứng đầu xử lý công việc bộ tộc theo luật tục, giai tầng xã hội phân chia không lớn. Đất của bộ tộc khai phá là sở hữu xã hội mang tính cộng đồng, giàu nghèo được phân biệt ở vật dụng được dùng trong nhà; họ theo chế độ mẫu hệ mà ngày nay vẫn còn thể hiện trong các sinh hoạt cúng tế.
Trước kia, có lẽ họ cũng từng giao lưu, trao đổi hàng hóa trong vùng khi bến cảng Cần Giờ phát triển và mất thế chủ động khi Phù Nam phát triển cảng thị Óc Eo ở miền Tây Nam bộ. Khi lui dần về miền trung du, họ dựa vào thiên nhiên, lấy nông nghiệp ruộng rẫy làm chính để sản xuất lương thực, theo phương thức “hỏa canh thủy nậu”, mang tính chất tự cung tự cấp. Chăn nuôi gia súc, gia cầm thường để phục vụ cho các lễ hiến sinh, cúng Yang (trời). Hình thái kinh tế chiếm đoạt như săn bắn, hái lượm vẫn còn vai trò quan trọng trong đời sống của họ. Các nghề thủ công như đan lát, dệt vải, rèn sắt vẫn được duy trì. Việc trao đổi hàng hóa diễn ra trong các bộ tộc và vùng lân cận bằng các sản phẩm của rừng để lấy những đồ dùng không sản xuất được như đồ thờ cúng, đồ trang sức…; phương tiện đi lại chủ yếu là đi bộ và thuyền độc mộc trên sông.
Cuối thế kỷ XV, hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp không vươn tới được vùng này. Đó cũng là thời kỳ văn hóa Đại Việt phát triển về phía Nam, xâm nhập vào Đồng Nai. Trên vùng trung lưu sông Đồng Nai, hình thành một trung tâm văn hóa mới và phát triển trên nền của truyền thống văn hóa bản địa, được gọi là “văn hóa Đại làng”, phạm vi ảnh hưởng lan rộng xuống vùng hạ lưu. Đấy là nền văn hóa đặc trưng của dân tộc bản địa ở nam Tây nguyên, góp phần cùng văn hóa Đại Việt, tạo nên phức hợp văn hóa Đồng Nai cách nay ba thế kỷ.
Có thể nói, vùng đất Đồng Nai có đủ “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”, mà dân gian thường gọi “đất lành chim đậu”. Nơi đây là điểm hội tụ các cộng đồng cư dân, giao lưu và phát triển kinh tế, văn hóa khá liên tục trải qua các thời kỳ lịch sử, một vùng đất mở cho cộng đồng Việt từ Đàng Ngoài vào khai phá, mở mang.
__________
(10) Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai.
(11) Xứ Đàng Trong, Phan Khoang, xuất bản 1967.
(12) Giáo sư Trần Quốc Vượng, Kỷ yếu Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm, 1997.
Nguồn: Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển,
Nhà xuất bản Đồng Nai-1998
| Chỉ đạo nội dung: Phan Văn Trang, Trưởng Ban chỉ đạo Trần Đình Thành, Phó Ban chỉ đạo Lâm Hiếu Trung, Phó Ban chỉ đạo |
| Ban biên soạn: Lâm Hiếu Trung, Chủ biên Trần Quang Toại Trần Toản Huỳnh Văn Tới Bùi Quang Huy Mai Sông Bé Nguyễn Yên Tri Đỗ Bá Nghiệp Lưu Văn Du Phan Đình Dũng Đặng Tấn Hướng |
| Với sự cộng tác của các đồng chí: Tuyết Hồng Hoàng Ân Hoàng Long |
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)