Diện mạo văn hóa đa tộc người – đa tôn giáo ở An Giang qua khảo sát điền dã (Phần 2)
THE MULTI-ETHNIC AND MULTI-RELIGIOUS CULTURE IN AN GIANG VIA A NUMBER OF RECENT FIELD TRIPS
Tác giả bài viết: Tiến sĩ LÝ TÙNG HIẾU
(Khoa Văn hóa học, Trường ĐH KHXH&NV-ĐHQG TP.HCM)
Mảng văn hóa nghệ thuật đặc sắc nhất ở An Giang là các hoạt động nghệ thuật gắn liền với các lễ hội dân gian: lễ hội đua bò Bảy Núi, các lễ hội trên núi Cấm, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, các lễ Kỳ yên… Nơi giải trí có khu du lịch Hồ Ông Thoại, khu du lịch Đồi Tức Dụp. Trong các lễ lạc gia đình, thường có các tiết mục đờn ca tài tử. Đây cũng là một đặc sản của văn hóa nghệ thuật địa phương dành cho du khách. Ngay trong Trung tâm Thông tin Du lịch Mỹ Hòa Hưng nằm trong khu lưu niệm Tôn Đức Thắng, cũng thường xuyên có các tiết mục đờn ca tài tử, với ban nhạc gồm đờn kìm, ghi ta điện, oọc-gan, các ca sĩ cây nhà lá vườn, biểu diễn các bài vọng cổ và mời gọi du khách tham gia.
Khác với người Việt, đa số cư trú ở khắp các huyện thị, người Khmer An Giang chỉ cư trú tập trung ở 4 huyện thuộc khu vực Thất Sơn: Tri Tôn (44.969 người, 1/4/2009), Tịnh Biên (35.142 người), Thoại Sơn (4.642 người), Châu Thành (3.579 người). Ở các huyện thị khác, chỉ có rải rác một số ít người Khmer: Châu Phú (666 người), Long Xuyên (562 người), Chợ Mới (158 người), An Phú (156 người), Phú Tân (146 người), Tân Châu (131 người), Châu Đốc (120 người) [5].
Trên địa bàn Tri Tôn – Tịnh Biên, người Khmer sống quần tụ quanh các triền núi, chủ yếu làm lúa mùa một vụ. Khi chúng tôi đến là vào tháng 11, người Khmer ở Tri Tôn đang thu hoạch lúa mùa ruộng trên (đất cao), trồng lúa Nàng Nheng. Tổng cộng có khoảng 2.000ha lúa ruộng trên. Ngoài ra, người Khmer nơi đây còn khai khẩn thêm khoảng 100ha ruộng bưng, trồng lúa mùa nổi, có thể vươn lên theo nước lũ, nếu nước lên với tốc độ vừa phải thì rất trúng mùa. Đặc sản nông nghiệp của người Khmer nơi đây là gạo Nàng Nheng, sánh ngang với gạo Nàng Thơm Chợ Đào. Việc sản xuất loại gạo này hoàn toàn tự nhiên, bón phân bò, không dùng phân hóa học. Cuộc sống của người Khmer gắn liền với đất và bò. Thậm chí nhiều người còn cho bò vào nhà ở chung, giăng mùng tránh muỗi cho bò, trong lúc bản thân mình phải ngủ chung với muỗi. Người Khmer cũng làm nghề đánh bắt cá mà chủ yếu là cá đồng, cá sông, với kỹ thuật và ngư cụ giống như người Việt. Nghề chăn nuôi nhìn chung còn gắn với nông nghiệp, mặc dù đã hình thành được những đàn bò, trâu, vịt tàu… khá lớn. Các nghề thủ công đan mây tre, đan đệm, dệt chiếu rất phổ biến. Nghề dệt và làm gốm còn duy trì ở An Giang, Kiên Giang. Chỉ một số ít người Khmer làm nghề buôn bán nhỏ.
Về phong tục và ngôn ngữ, người Khmer ở An Giang không khác với người Khmer ở Campuchia. Họ sùng bái đạo Phật, tôn kính các sư sãi và sẵn sàng dâng cúng cho chùa những huê lợi do họ làm ra để cầu phúc. Chính quyền địa phương luôn luôn đối xử với đồng bào Khmer một cách hết sức tế nhị, vì vấn đề người Khmer có liên quan đến vấn đề biên giới lãnh thổ. Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 1975-1978, An Giang là nơi Khmer Đỏ gây nhiều tội ác đối với cả người Việt và người Khmer, chứng tích vẫn còn lưu giữ ở nhà mồ Ba Chúc, huyện Tri Tôn.
Cộng đồng người Chăm thì cư trú tập trung ở 4 huyện ven bờ sông Hậu, gần biên giới: An Phú (7.367 người, 1/4/2009), Tân Châu (2.472 người), Phú Tân (2.185 người), Châu Phú (1.027 người). Ở các huyện thị khác, chỉ có rải rác một ít người Chăm: Châu Thành (874 người), Long Xuyên (122 người), Châu Đốc (50 người), Tri Tôn (37 người), Thoại Sơn (37 người), Chợ Mới (21 người), Tịnh Biên (17 người) [5]. Ở Nam bộ, nếu Sóc Trăng và Trà Vinh là hai tỉnh có đông người Khmer nhất, thì An Giang là nơi có nhiều người Chăm sinh sống nhất.
Người Chăm Nam bộ chủ yếu làm các nghề đánh cá, làm ruộng, dệt thêu, buôn bán, dịch vụ du lịch. Ở An Giang, có nghề dệt sarong (xàrông), dệt kama (khăn tắm, khăn rằn), thêu khăn, đan lưới… của phụ nữ Chăm, phục vụ nhu cầu ăn mặc theo truyền thống của người Chăm và dùng để trao đổi trong vùng. Nổi tiếng nhất về nghề dệt nơi đây là nghề dệt lụa ở Tân Châu. Xưa kia, Tân Châu là nơi làm ra loại lãnh Mỹ A nổi tiếng với một màu đen bóng, nhuộm bằng trái mặc nưa (giống trái táo ta, nhưng vị đắng, ăn không được). Về sau do vải nhập, nghề dệt Tân Châu bị thu hẹp lại. Trong quá trình tìm kiếm những loại vải lụa đáp ứng được các mẫu thiết kế của mình, nhà thiết kế thời trang Võ Việt Chung đã tìm về Tân Châu nghiên cứu, và đặt hàng cho một nghệ nhân. Từ đó, nghề dệt lụa Tân Châu đã phục hồi. Năm 1999, Hợp tác xã Dệt thêu Châu Giang đã được thành lập tại cộng đồng Chăm tỉnh An Giang nhằm bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống. Nay nghề này đang khởi sắc, sản xuất được sáu màu lụa khác nhau.
Nghề buôn bán của người Chăm bao gồm buôn bán đường dài và buôn bán tại chỗ. Hằng ngày, các tiểu thương người Chăm xếp hàng hóa, thực phẩm xuống xuồng, chở ra bán cho các nhà bè nuôi cá. Gần đây, nghề nuôi cá bè thất bát, số lượng nhà bè giảm sút, việc buôn bán cũng trở nên ế ẩm. Nhiều chủ xuồng đã sơn phết lại xuồng, lắp băng gắn ghế, sắm áo phao, chuyển thành xuồng máy du lịch, đưa đón du khách trong và ngoài nước, từ thị xã Châu Đốc sang du ngoạn các làng Chăm. Hiện nay xã Châu Phong ở huyện Tân Châu là nơi có hoạt động du lịch cộng đồng tương đối phát triển. Nhưng ở những nơi khác mà chúng tôi đến, như xã Đa Phước, huyện An Phú, nằm trên cồn Tiên, chen giữa sông Hậu và sông Châu Đốc, thì dịch vụ du lịch vẫn chưa khởi sắc. Nơi xuồng ghe cặp bến làng Chăm (thuộc ấp Hà Bao II) còn rất sơ sài, chỉ là một chiếc cầu ván mỏng manh, chao đảo mỗi khi xuồng máy tấp vào hơi mạnh. Đầu cầu là một căn nhà nhỏ, phía trước trưng bày, bán lẻ các sản phẩm thổ cẩm Chăm, phía sau đặt một khung dệt thủ công để dệt thổ cẩm tại chỗ cho khách xem. Cạnh nhà đặt vài ba quầy hàng do các cô gái Chăm trông nom, bày bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ do người Chăm làm hoặc đưa về từ các địa phương khác của An Giang.
Người Chăm An Giang cư trú chủ yếu trong các nhà sàn, dựng trên những cột gỗ hoặc cột bê tông cao từ 2m đến 4m, vách ván hoặc vách tôn, mái tôn. Việc duy trì những ngôi nhà sàn này là để thích nghi với môi trường sông nước: nơi đây, trên các cù lao, cồn bãi nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, không có mấy chỗ còn khô ráo vào mùa nước nổi. Các gia cư của người Chăm phần nhiều đều quần tụ xung quanh các thánh đường Hồi giáo Islam (masjid).
Khác với cư dân Khmer và Chăm, người Hoa ở An Giang chỉ cư trú tập trung ở thị xã Châu Đốc (2.470 người, 1/4/2009) và thành phố Long Xuyên (2.048 người). Ở các huyện, chỉ có một số ít người Hoa cư trú: Tri Tôn (810 người), Tân Châu (714 người), Châu Phú (441 người), Chợ Mới (356 người), Thoại Sơn (349 người), Phú Tân (315 người), Tịnh Biên (211 người), An Phú (201 người), Châu Thành (160 người) [5]. Ở môi trường đô thị, hoạt động kinh tế chủ yếu của người Hoa là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, vận tải.
4. Diện mạo văn hóa đa tôn giáo ở An Giang
Trên địa bàn Tây Nam bộ, An Giang chính là vùng đất phát sinh và cộng sinh tôn giáo đa dạng nhất: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Phật giáo Bắc Tông, Phật giáo Theravada, đạo Mẫu, đạo Ông Bà, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi Giáo… Trong số đó, nhiều tôn giáo đã ra đời trên đất An Giang. Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng – tôn giáo ở Việt Nam, với đầy đủ các loại hình tín ngưỡng – tôn giáo nội sinh và ngoại sinh. Trong đó, đạo Phật tuy vẫn giữ được vị trí ưu tiên, nhưng đã bị chia tách thành nhiều hệ phái hoặc tôn giáo mới. Vì vậy, đời sống tâm linh của cư dân An Giang khá phức tạp, chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều tín ngưỡng – tôn giáo khác nhau.
Tiến hành phân loại, chúng tôi thấy có thể tạm chia các tín ngưỡng – tôn giáo ở An Giang thành bốn loại như sau:
– Tín ngưỡng thờ cúng thiên thần: phổ biến nhất là thờ cúng Thổ Địa – Thần Tài, Táo Quân (gia đình), Thành Hoàng Bổn Cảnh, Sơn Thần (đình miễu trong nội địa), Bà Chúa Xứ (đền miễu ở núi Sam, và rải rác), Ngũ Hành (miễu). Ngoài ra, một số nơi còn thờ cúng Tổ tiên nhân loại (Cửu huyền trăm họ), Ngọc Hoàng (Ông Thiên), Mẹ Phật Mẫu Diêu Trì (Bà), Cửu Thiên Huyền Nữ, Ông Tà, Hà Bá – Thủy Long, v.v…
– Tín ngưỡng thờ cúng nhân thần: phổ biến nhất là thờ cúng Gia tiên, Quan Thánh Đế Quân (gia đình), tổ nghề nghiệp, danh nhân – anh hùng dân tộc (đền miễu). Ngoài ra, một số nơi còn thờ cúng liệt sĩ cách mạng,…
– Tôn giáo địa phương: phổ biến nhất là Phật giáo Hòa Hảo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài. Ngoài ra, một số người còn tin theo các hệ phái như Bửu Sơn Kỳ Hương, Huỳnh Đạo.
– Tôn giáo thế giới: phổ biến nhất là Phật giáo Bắc Tông, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo Theravada, Hồi giáo. Tiếp nối truyền thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung bộ, người Việt ở An Giang cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, xây dựng chùa chiền trên khắp đồng bằng, đặc biệt là những vùng đồi núi sót. Đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành cũng có đông tín đồ. Người Khmer theo Phật giáo Theravada. Người Chăm theo Hồi giáo Islam.
Căn nguyên của sự đa dạng bậc nhất về tín ngưỡng – tôn giáo này trước hết là do điều kiện giao lưu tiếp biến văn hóa đặc biệt ở An Giang. Đây là một nơi đất lành chim đậu của di dân các tộc người Việt, Khmer, Chăm, Hoa. Vì vậy, nó trở thành môi sinh thuận lợi để phát triển các tín ngưỡng – tôn giáo có nguồn gốc Bắc bộ, Trung bộ hoặc tiếp biến từ người Chăm, người Hoa, người Khmer, người Pháp.
Điều kiện địa lý tự nhiên đặc thù của vùng đất An Giang cũng góp phần giúp cho các tín ngưỡng – tôn giáo cũ lẫn mới có môi sinh thuận lợi để sinh sôi. Đó chính là cảnh quan u tịch và hoang sơ của vùng núi Thất Sơn, vừa cung cấp khung cảnh thanh tịnh để tu hành, vừa cho phép người tu hành tự mưu sinh bằng cách khai khẩn đất hoang quanh núi.
Đó là lý do vì sao tính đến nay, núi Sam, cao 284m, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, đã trở thành nơi có mật độ cơ sở thờ tự cao nhất nước: có đến 200 lăng, đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi, đỉnh núi. Nhiều cơ sở thờ tự danh tiếng bậc nhất An Giang như lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, miễu Bà Chúa Xứ, chùa Hang… đều tọa lạc tại đây. Đó cũng là lý do vì sao núi Cấm, tọa lạc trên địa bàn 4 xã, thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, cũng trở thành nơi thu hút giới tu hành đến đây xây dựng nhiều cơ sở thờ tự tương tự như ở núi Sam: chùa Phật Lớn, Vạn Linh Tự, Cao Đài Tự… Với độ cao 705m, núi Cấm là ngọn núi cao nhất của dãy Thất Sơn, đồng thời cũng cao nhất miền Tây Nam bộ. Trên núi Cấm vẫn còn rừng, là nơi sinh sống của nhiều loài thú, bò sát, chim, và sản ra nhiều măng tre tàu, tre mạnh tông… Để quản lý, bảo tồn sinh cảnh, trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, người ta đã lập ra Lâm viên Núi Cấm. Đường từ chân núi Cấm lên đến đỉnh dài hơn 8km, độ dốc rất lớn, quanh co nguy hiểm. Ở chân núi, có đoàn xe bảy chỗ của Du lịch Lữ hành An Giang làm nhiệm vụ đưa đón khách lên xuống núi, nhưng chỉ đến độ cao chừng 500m (vồ Ông Bướm), còn lại 200m độ cao phải cuốc bộ qua những con đường dốc hẹp để lên đến đỉnh. Vất vả là vậy nhưng khách hành hương hằng năm vẫn đổ xô về núi Sam, núi Cấm, và một số núi khác của dãy Thất Sơn, biến khu vực này thành một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo lớn nhất phương Nam.
Có nguồn gốc ở miền Trung do tiếp biến từ văn hóa của người Chăm, tín ngưỡng thờ cúng Bà Chúa Xứ vào đến Nam bộ đã nở rộ khắp nơi. Nhưng nơi thờ cúng và diễn ra lễ hội hoành tráng nhất là miễu Bà Chúa Xứ núi Sam, nằm ở chân núi Sam, bên phải quốc lộ 91 tính từ Châu Đốc. Ngôi miễu được lập vào đầu thế kỷ XIX, năm 1972-1976 được xây dựng lại với quy mô rất lớn. Chánh điện quay mặt vào trong, lưng hướng ra đường. Phía trên lối vào chánh điện có tấm biển lớn sơn son thếp vàng ghi danh hiệu “Chủ Xứ Thánh Mẫu” bằng chữ Hán. Phía trước chánh điện treo nhiều tấm biển lớn đề “Chủ Xứ Thánh Mẫu”, “Lạc tấu nguyên quân”, “Quốc thái dân an”… cũng bằng chữ Hán. Bên trong chánh điện có bức tượng lớn của Bà Chúa Xứ, thực chất là một pho tượng thần Visnu tạc vào thế kỷ thứ VI theo mô-típ tượng thần Visnu thường có ở các nước Campuchia, Lào, Ấn Độ, đã được người Việt mặc áo đội miện, đồng hóa với hiện thân của Thánh Mẫu trong tín ngưỡng của mình. Bất kể lúc cao điểm hay thấp điểm, chánh điện luôn dày đặc khói hương của những người đến đây khấn tạ, với lễ vật là những mâm trái cây, heo quay bày phía trước bàn thờ. Quá bước khỏi gian chánh điện thì tới gian hậu điện, nơi trưng bày vô số trân bảo, vàng ngọc của những người hành hương cúng tạ ơn Bà, đặt trong tủ kiếng. Cả một khối tài sản lớn lao khó ước lượng về giá trị, nhưng quá đủ để minh họa cho sức hút tâm linh của tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt ở phương Nam. Những thời điểm đông người cúng kiến nhất là ngày Vía Bà 23/4 âm lịch, tết Nguyên đán, và các ngày rằm lớn 15/1, 15/7, 15/10 âm lịch. Đội nhiếp ảnh của khu vực miễu Bà Chúa Xứ có quân số lên đến khoảng 180 người, bao gồm 6 tổ, chia ca tác nghiệp quanh năm.
Tại lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2008, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã trao giấy xác lập và cúp lưu niệm cho Ban Tổ chức về 2 kỷ lục Việt Nam gồm “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng Bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam”. Nhưng bên cạnh đó còn có một kỷ lục khác: Theo số liệu của tỉnh An Giang, năm 2008 tổng số người hành hương và du khách đến viếng miễu Bà Chúa Xứ lên đến 2,9 triệu người, cúng tạ tổng cộng hơn 26 tỷ đồng. Rõ ràng là, cùng với nông nghiệp, ngư nghiệp và thương mại, các di sản văn hóa đã trở thành nguồn thu kinh tế rất lớn của An Giang.
Nếu núi Sam được chọn làm nơi thờ cúng bà Chúa Xứ, thì tín ngưỡng thờ cúng bộ ba Tổ tiên nhân loại – Ngọc Hoàng – Mẹ Phật Mẫu Diêu Trì được thể hiện sinh động nhất trên núi Cấm. Bộ ba thiên thần này đang được thờ cúng tại vồ Bồ Hong, nơi cao nhất của núi Cấm (“vồ” là từ địa phương chỉ những mỏm nhô cao của núi). Cả ba điểm thờ cúng này đều khá nhỏ và không được nói tới trong các tài liệu mô tả các cơ sở thờ tự trên núi Cấm. Điểm thứ nhất là một bệ thờ lộ thiên do dân chúng lập ra ở phía tây núi, chính giữa có bia đề chữ Quốc ngữ “Tổ tiên nhân loại”, ngày “1/8/2009 âm lịch”. Khái niệm “Tổ tiên nhân loại” cũng được người đến viếng gọi là “Cửu huyền trăm họ”. Phần trên bia có hình một biểu tượng âm dương của Đạo giáo, nằm trong hình tam giác. Phần trái bia có hình phượng, phần phải bia có hình rồng. Bên trái bia đặt một bức tượng toàn thân tạo hình một ông cụ râu bạc 5 chòm. Bên phải bia đặt một bức tượng toàn thân tạo hình một bà cụ tóc bạc, dái tai dài. Cả Ông và Bà đều được tạc trong tư thế ngồi, có khuôn mặt của người Việt, nghiêm trang, phúc hậu, trắng trẻo. Cả hai đều mặc áo dài truyền thống, Ông khoác thêm một tấm vải vàng, Bà choàng thêm vải trắng. Ông đội khăn đóng, Bà bới tóc gọn gàng. Đối diện bệ thờ Ông Bà ấy lại có một bệ thờ nhỏ hơn, thấp hơn, có bia đề chữ Quốc ngữ “Nam mô a di đà Phật”. Mỗi năm có hai lần cúng, vào tháng 4 và tháng 10 âm lịch. Người đến cúng phần đông là phụ nữ, gồm cả dân thường và cư sĩ, đến từ An Giang, Đồng Tháp… Khi chúng tôi đến, có một nhóm chừng vài chục người, đầy đủ nam phụ lão ấu, ăn mặc theo lối thường dân và cư sĩ Phật giáo, đang chuẩn bị làm lễ cúng trước bệ thờ Ông Bà. Sau khi bày biện thức ăn, phân phát mỗi người mấy nén nhang, một phụ nữ lớn tuổi đọc lời khấn. Nội dung lời khấn nhân danh đại diện tất cả các dòng họ (Lê, Phạm, Trần…) kính tạ và cầu xin Ông Bà ban cho sự bình an,… Mọi người cúi lạy. Kế tiếp, đại diện của từng dòng họ lại đọc lời khấn riêng cho dòng họ của mình. Những lời khấn chưa dứt, bỗng một phụ nữ luống tuổi lên đồng, nhân danh Bà dạy bảo con cháu phải về khấn cúng đều đặn, nhưng bằng những lời ngọng nghịu giống như con nít. Sau khi cúi lạy Ông Bà, mọi người mới quay sang khấn vái, cúi lạy trước bệ thờ có bia đề chữ “Nam mô a di đà Phật”. Sau lễ cúng ở bệ thờ “Tổ tiên nhân loại”, đoàn người lại chuyển đến làm lễ cúng ở bệ thờ thứ hai. Bệ thờ này cũng lộ thiên, nằm ở phía đông núi, có tấm bia đề chữ Quốc ngữ “Ngọc Hoàng”, nhưng mọi người gọi gọn là bệ thờ “Ông”. Sau đó, mọi người lại chuyển đến làm lễ cúng ở địa điểm thứ ba là một miễu nhỏ, nằm ở quãng giữa và ở độ cao thấp hơn hai bệ thờ trên. Phía trên cửa miễu, có dòng chữ Quốc ngữ “Mẹ Phật Mẫu Diêu Trì”, nhưng mọi người gọi gọn là miễu thờ “Bà”. Bên trong miễu, có tượng một vị Phật nữ không phải là Phật Bà Quan Âm, choàng khăn đen, mặc áo đen. Những điều quan sát được cho thấy đây không phải là tín ngưỡng thờ cúng gia tiên mà đã được nâng lên gần với đạo: “đạo Ông Bà”. Việc vượt qua ngần ấy đường núi gian nan để tạo lập miễu thờ và duy trì lễ cúng đã chứng tỏ những người theo tín ngưỡng này rất thành tâm. Chỉ tiếc là do mặt bằng chật hẹp, các điểm thờ tự trên đỉnh núi này đang phải cạnh tranh với nhiều nhà ở, hàng quán, tháp phát thanh truyền hình, nhà làm việc của Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh…
Tương tự như Trương Định ở Tiền Giang, Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang, vị nhân thần được suy tôn bậc nhất ở An Giang là Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, người có công đào kinh, giữ đất, bảo vệ biên cương, giúp dân lạc nghiệp từ hai trăm năm trước. Năm 1822, sau khi lãnh mệnh đào kinh Thoại Hà và kinh Vĩnh Tế, Nguyễn Văn Thoại đã cho tạc bia đá Thoại Sơn ở chân núi Sập để đánh dấu việc mở mang đất mới. Ngày 6/4/1991, tấm bia này đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Năm 1926, nhân dân địa phương đã dựng đình Thoại Ngọc Hầu ở chân núi Sập để thờ Thoại Ngọc Hầu như Thành hoàng bổn cảnh. Đình này đã được trùng tu hai lần vào năm 1964-1970 và 2009. Bia Thoại Sơn hiện nay nằm gọn trong đình. Lễ Kỳ yên tại đình diễn ra vào ngày 10-12 tháng Ba âm lịch hằng năm, có thỉnh hát bội diễn ba vở Lưu Kim Đính, Tiết Đinh San và San Hậu.
Khi Nguyễn Văn Thoại mất, triều đình và nhân dân đã lập lăng và đền thờ Thoại Ngọc Hầu cạnh núi Sam, ở bên trái quốc lộ 91 hướng từ Châu Đốc, chánh điện hướng ra đường. Năm 2009, khu mộ ở phía trước đền thờ đã được trùng tu. Mộ của Thoại Ngọc Hầu ở giữa, hai bên là mộ của hai vị phu nhân, xung quanh là khu mộ của các dân phu mạng vong trong lúc đào kinh Vĩnh Tế. Khu đền thờ thì vẫn giữ kiến trúc xưa, giống như một ngôi nhà ngói rộng. Bên trong thiết đặt bàn thờ, phía trước bàn thờ có một pho tượng bán thân cỡ lớn của Thoại Ngọc Hầu, đúc bằng xi măng, sơn phủ màu đồng. Còn hai cái đại bình đặt ở hai bên bàn thờ, chạm khắc sắc sảo, trông như bình cẩm thạch nguyên khối, thì được đúc bằng bột đá.
Trong các tôn giáo địa phương, phát triển mạnh nhất ở An Giang là Phật giáo Hòa Hảo, do Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, huyện Phú Tân, An Giang. Giáo lý của đạo Hòa Hảo hình thành từ sự kết hợp đạo Phật với tín ngưỡng dân gian. Hiện Phật giáo Hòa Hảo đã được Nhà nước công nhận là một tôn giáo riêng, với khoảng 2 triệu tín đồ trên cả nước, tập trung đông nhất ở An Giang.
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thì do Ngô Lợi khởi xướng, đã đưa hàng trăm tín đồ từ khắp nơi về vùng núi Tượng, núi Dài ở Thất Sơn để khai hoang, lập làng. Trung tâm của đạo là làng An Định ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang. Lúc đầu, đạo này có 24 nhánh, do 24 họ đứng đầu. Nay tình hình đã thay đổi, nhưng các nhóm vẫn chưa ngồi lại thống nhất với nhau để được Nhà nước công nhận là một đạo riêng. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có đặc điểm là chỉ mở cửa chùa vào mùng một và ngày rằm hằng tháng.
Ở An Giang cũng có đạo Cao Đài, nhưng không phát triển mạnh như ở Tây Ninh và Bến Tre. Đạo Cao Đài hình thành từ sự kết hợp đạo Phật với đạo Lão, đạo Khổng, đạo Kitô, đạo Thánh Mẫu, có 2,7 triệu tín đồ trên cả nước. Trên núi Cấm, có một ngôi Cao Đài Tự của hệ phái Cao Đài Tân Châu.
Trong các hệ phái Phật giáo hình thành ở An Giang, nổi tiếng nhất là hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Hệ phái này do Đoàn Minh Huyên, được tôn xưng là Phật Thầy Tây An, sáng lập vào cuối thế kỷ XIX. Tín đồ được chia thành nhiều đoàn đi khai khẩn nhiều nơi. Đoàn 1 do Bùi Văn Thân tức tăng chủ Bùi Thiền sư và Bùi Văn Tây tức Đình Tây hướng dẫn, vào Thất Sơn, bên chân núi Két, lập các trại ruộng, sau này hợp thành xã Thới Sơn (Tịnh Biên). Đoàn 2 do Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy, đến vùng đầm lầy Láng Linh khai hoang, lập đồn, tụ nghĩa binh chống Pháp. Đoàn 3 do Nguyễn Văn Xuyến tức đạo Xuyến đưa tín đồ về Cái Dầu – Bình Long (Châu Phú). Hiện ven quốc lộ 91, chân núi Sam, thuộc khóm Vĩnh Tây 2, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, là nơi tọa lạc Tây An Tự, nơi Phật Thầy Tây An hành đạo, và khu mộ của đức Phật Thầy. Chánh điện của chùa nằm kề bên quốc lộ, hướng ra đường, bên trong thờ Phật Thích Ca và chư Phật, chư La Hán. Bên trái chánh điện là các tháp thờ tro cốt của các sư trụ trì. Phía sau chánh điện, ở bên trái là khu mộ của đức Phật Thầy. Bên phải là một ngôi miễu thờ “Ngũ hành” và “Cửu thiên huyền nữ”, có 8 tượng thờ: hàng trên 3 tượng lớn, hàng giữa 2 tượng nhỏ, hàng dưới 3 tượng vừa. Ở chân núi Cấm, cũng có chùa Bửu Sơn, thuộc hệ phái này.
Ở vùng ven thị xã Châu Đốc, còn có hệ phái Thiên Khai Huỳnh Đạo, với cơ sở thờ tự là chùa Huỳnh Đạo, nằm ở bên phải quốc lộ 91 tính từ Châu Đốc. Hệ phái này do một ông Đốc học, tu tại gia, thành lập. Ban đầu, ông cất lên một ngôi chùa ở chợ Châu Đốc. Về sau, thấy ngôi chùa chật chội, bèn dời ra vùng ven thị xã Châu Đốc và xây chùa mới. Bên trong chùa, thờ tượng Phật Di Lặc đứng. Vì hệ phái này không có giáo chủ, giáo dân, giáo lý, nên không thể xin lập đạo riêng. Để được Nhà nước công nhận, những người chủ trương đã đề nghị Tỉnh Hội Phật giáo An Giang giúp đỡ. Tỉnh Hội chất vấn rằng hệ phái này thờ Phật, Phật không phải do Trời mà có, vậy sao lại gọi là “Thiên Khai Huỳnh Đạo”. Kết quả, những người chủ trương hệ phái đã bỏ đi hai chữ “Thiên Khai” trong tên của ngôi chùa, và được Tỉnh Hội Phật giáo công nhận tư cách thành viên. Hiện nay, nhờ các tín đồ ở Mỹ ủng hộ, tài chánh của chùa rất dồi dào. Năm 2009, ngôi chùa đã được trùng tu quy mô lớn.
Bên cạnh các tôn giáo và hệ phái tôn giáo có tính địa phương, Phật giáo Bắc Tông vẫn có chỗ đứng ở An Giang. Ở khu vực núi Sam, nổi tiếng nhất là chùa Hang, đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Gần đây có tình trạng, vì nơi đây là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia nên theo quy định, việc sử dụng tiền cúng tiến của thiện nam tín nữ và việc trùng tu, xây dựng chùa phải được thông qua hội đồng quản lý di tích. Việc đó khiến cho các sư bức xúc, nên các sư cứ tự động xây cất, tôn tạo chùa Hang, không theo quy hoạch của hội đồng quản lý di tích.
Ở khu vực núi Cấm, nổi tiếng nhất là chùa Phật Lớn. Năm 2009, chánh điện chùa Phật Lớn đã được xây cất lại, bên trong thờ bức tượng Phật Thích Ca xoay mặt về hướng tây. Nơi đây có truyền lưu câu chuyện: khi dựng tượng, người ta xoay mặt Phật về hướng đông. Nhưng sau đó một ông voi trắng bỗng nhiên xuất hiện, xoay mặt tượng quay về hướng tây. Người ta bèn xoay tượng lại, hướng về đông. Voi trắng lại xuất hiện, xoay tượng hướng về tây. Cứ thế lặp lại đến lần thứ ba thì mọi người mới nghiệm ra đó là ý Phật, nên giữ nguyên vị trí tượng cho đến bây giờ. Bên cạnh chùa là pho tượng Phật Di Lặc khổng lồ cao 36m, tọa lạc ở độ cao khoảng 500m, trên đỉnh một gò cao nhìn xuống hồ Thủy Liêm. Tượng được đúc bằng bê tông cốt thép, do nhà điêu khắc Thụy Lam thiết kế, Công ty Xây dựng Tây Đô thi công, khởi công năm 2003, hoàn thành phần tượng năm 2006. Năm 2006, pho tượng được đưa vào sách kỷ lục Guinness. Ở núi Cấm còn có Vạn Linh Tự, một ngôi chùa đẹp với tòa tháp lục giác bảy tầng cao 30m, xây năm 1995, nằm đối diện với chùa Phật Lớn, ở bên kia hồ Thủy Liêm.
Một ngôi chùa nổi tiếng khác là chùa Phật Bốn Tay, tên chính thức là Linh Sơn Cổ Tự, nằm dưới chân núi Ba Thê, huyện Thoại Sơn. Chùa này xây trên một gò cao, trên nền của một cung điện thời Óc Eo, nay thuộc khu di tích Nam Linh Sơn của văn hóa Óc Eo. Đường dẫn lên chùa và nhiều chỗ trong chùa được xây bằng chính những viên gạch cổ hàng ngàn năm tuổi của cung điện cũ. Ngày 6/12/1989, Bộ Văn hóa – Thông tin đã có Quyết định công nhận chùa này là Di tích lịch sử, với các hiện vật là hai bia đá và pho tượng Phật bốn tay. Ngày 24/5/2009, tại thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam cùng Báo Giác Ngộ đã trao chứng nhận cho 14 kỷ lục mới của Phật giáo Việt Nam, trong đó có pho tượng Phật bốn tay ở tư thế đứng tại chùa Phật Bốn Tay. Nguyên pho tượng này là tượng thần Visnu, được thờ trong văn hóa Óc Eo, có niên đại từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI, cao 1,7m, chiều ngang hai đầu gối dài 1,16m, chiều rộng vai 0,8m. Năm 1912, pho tượng được phát hiện ở chân núi Ba Thê, và được dân chúng đưa về khu gò này, xây chùa để thờ như thờ Phật Thích Ca. Về sau, bị phê phán rằng đó không phải là tượng Phật vì tượng đứng thẳng trong khi Phật lại ngồi, các sư bèn xây bệ lấp kín phần chân tượng, đắp mặt tượng cho đầy đặn giống như mặt Phật. Nhưng nhìn sơ qua cũng thấy gốc gác thần Visnu của tượng vẫn còn quá rõ, với bốn tay ở phía trước, thần rắn Naga chín đầu ở phía sau, chiếc mão cao đội trên đầu. Pho tượng là một thí dụ sinh động về tính dung dị trong tiếp biến văn hóa và sự bao dung tín ngưỡng của văn hóa Việt.
Một thí dụ khác là trường hợp Sơn Tiên Tự tọa lạc trên đỉnh núi Ba Thê, bên cạnh nhà trưng bày văn hóa Óc Eo. Đây là một ngọn núi nhỏ, chỉ cao 212m, nhưng 2,2km đường xe hơi lên núi phần nhiều là dốc đứng. Năm 1933, một kiểng chùa được cất trên đỉnh núi. Năm 1972, chùa bị bom đạn san bằng. Đến khi chiến tranh biên giới nổ ra thì nơi đây được quân đội dùng làm căn cứ, xây dựng mạng lưới giao thông hào chống quân Pol Pot. Năm 2003, chùa được xây dựng lại, nhưng việc quản lý chùa không thuộc Tỉnh Hội Phật giáo mà thuộc ngành du lịch huyện Thoại Sơn. Trong sân chùa có một tảng đá lớn, mặt trên có hai dấu chân trái lõm vào. Một dấu chân lớn, to ngang, giống chân nam. Một dấu chân nhỏ, mảnh hơn, giống chân nữ. Tương truyền đó là dấu chân tiên, nên ngôi chùa được đặt tên là Sơn Tiên Tự, và những phụ nữ hiếm muộn đến đây khấn vái, áp chân vào dấu chân tiên thì ra về sẽ được thụ thai. Ngoài hai dấu chân và huyền thoại đó, ngôi chùa hầu như không có gì đáng xem vì kiến trúc thô sơ, chánh điện nghèo nàn. Nó tồn tại được, rõ ràng là do sự dung hợp của đạo Phật nơi đây với những niềm tin không thuộc về Phật giáo.
Ở chân núi Sập, thuộc thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, phía sau đình Thoại Ngọc Hầu, cùng lúc với việc xây đình, người dân cũng lập một ngôi chùa nhỏ, gọi là Thoại Sơn Cổ Tự. Đến năm 1972, thêm một ngôi chùa nữa được cất trên đỉnh núi, gọi là Thành An Tự. Thành An Tự mới được trùng tu năm 2005, khang trang bề thế hơn Thoại Sơn Cổ Tự.
Đạo Thiên Chúa ở An Giang cũng có đông tín đồ, bao gồm giáo dân tại chỗ và giáo dân gốc Nam Định, Thái Bình di cư đến vào năm 1956. Các giáo xứ ở An Giang đều trực thuộc giáo phận Long Xuyên. Giáo phận Long Xuyên quản lý 108 giáo xứ, 45 giáo họ với khoảng 200.000 giáo dân, thuộc hai tỉnh An Giang, Kiên Giang và hai huyện Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh của thành phố Cần Thơ. Trụ sở của giáo phận là nhà thờ chính tòa ở thành phố Long Xuyên [3]1.
Người Khmer ở An Giang và Nam bộ đều theo Phật giáo Theravada, một tôn giáo mới du nhập từ thế kỷ XIII nhưng đã thay thế đạo Bà La Môn, chi phối rất sâu sắc đời sống của người Khmer. Đối với người Khmer, Phật là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất, là đấng thiêng liêng nhất, còn sư sãi là những người thay Đức Phật để hoằng hóa độ sinh, vì vậy rất được mọi người tôn kính. Nam giới Khmer đều được trải qua một thời kỳ tu tập tại chùa để trở thành một con người hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất, khả năng. Bên cạnh đạo Phật, người Khmer vẫn duy trì tín ngưỡng thờ Neak tà là các nam thần bảo hộ con người và đất đai trong một khu vực, dưới hình tượng là những viên đá cuội bóng láng. Còn tín ngưỡng thờ Arăk là bà tổ dòng họ mẫu hệ, bảo hộ gia đình, nhà, khu đất, rừng, vốn phổ biến dưới thời Pháp thuộc, thì nay đã hiếm thấy.
Hiện huyện Tri Tôn có 36 ngôi chùa Khmer, huyện Tịnh Biên có 24 ngôi chùa Khmer. Chùa là chốn thiêng liêng, là trung tâm của đời sống tinh thần mà mỗi người Khmer đều có trách nhiệm vun bồi, tự nguyện vun bồi. Cho nên, dẫu cho họ nghèo, chùa vẫn khang trang, các sư vẫn được nuôi dưỡng tốt nhờ thức ăn dâng cúng hằng ngày của họ. Sư sãi ở các chùa Khmer thường là trẻ tuổi, sau thời gian tu tập từ một tuần cho đến ba năm thì có thể hoàn tục để lập gia đình. Ngôi chùa Khmer nổi tiếng nhất An Giang là chùa Xvay Ton (Xà Tón) ở Tri Tôn, nơi lưu giữ bộ kinh lá buông khắc chữ Khmer xưa nhất Việt Nam. Ngôi chùa được xây dựng đã hơn 200 năm, được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích theo Quyết định số 235/VH-QĐ ngày 12/12/ 1986, và công nhận là “Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia” năm 1989. Sư trụ trì là Chau Sóc Pholy cho biết bản thân đã vào đây tu tập từ năm 2000. Trước đó, sư đã được học chữ Khmer trong trường học. Nhưng nhà trường, theo sư tự đánh giá, chỉ cung cấp được chừng 30% vốn chữ Khmer cho sư, còn việc học trong chùa cung cấp đến 70% vốn chữ. Các bó kinh chữ Khmer khắc bằng kim trên lá buông được cất trong tủ kiếng. Bộ kinh nào cũng có tuổi đến 70, 80 năm, bộ xưa nhất đến 120 năm tuổi. Sư Chau Sóc Pholy cho biết hiện giờ chưa có cách bảo quản tốt hơn để tránh làm hư các bộ kinh lá buông này, và cũng không biết đích xác chùa đang lưu trữ bao nhiêu bộ kinh như vậy. Trong các chùa Khmer ở An Giang, hiện chỉ còn sư trụ trì chùa Sài So biết kỹ thuật khắc kinh này. Phải mất một đến hai tháng mới khắc xong một cuốn kinh. Lá buông được đưa từ Campuchia về vì ở An Giang không có lá buông (Trà Vinh, Sóc Trăng mới có). Hiện toàn bộ nội dung các kinh lá buông đều đã được đọc, chuyển thành dạng sách in. Tại thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, chùa Kapô-rức cũng là một ngôi chùa Khmer bề thế. Theo sư trụ trì, chùa này ra đời từ trước năm 1816, nhưng không biết đích xác năm nào vì thất lạc hồ sơ. Năm 2006, chùa được trùng tu, hiện đang tiếp tục xây thêm. Trong chùa có 40 tu sĩ xuất gia, chăm sóc phần hồn cho khoảng 3.000 phật tử Khmer cư ngụ trong 4 ấp của thị trấn Óc Eo.
Người Chăm An Giang đều theo đạo Hồi Islam, tôn thờ Thượng đế Allah và lấy Kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mình. Các lễ hội truyền thống của người Chăm An Giang vì vậy chủ yếu là lễ hội tín ngưỡng – tôn giáo: lễ Tolakbala vào ngày Thứ tư tuần cuối tháng Safar (tháng 2 Hồi lịch) để cầu xin Thượng đế ban sự bình an, lễ kỷ niệm ngày sinh của Đấng Muhammad vào ngày 12 tháng Rabiul Awal (tháng 3), lễ Raya Iadil Fitrah vào ngày cuối cùng của tháng chay nhịn Ramadan (tháng 9). Nơi hành lễ là các thánh đường nằm ở trung tâm của cộng đồng. Trong số đó, đẹp nhất là thánh đường Mubarak ở xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân. Đây là công trình có kiến trúc rất giống với các thánh đường tại các nước Hồi giáo với những mái vòm, 4 tháp ở 4 góc. Thánh đường này do một kiến trúc sư người Ấn Độ thiết kế và xây dựng, hoàn thành vào năm 1992, được xem là công trình kiến trúc tiêu biểu của cộng đồng người Chăm ở An Giang. Ở huyện An Phú, nơi có người Chăm cư trú đông nhất trong các huyện, có đến 6 thánh đường, tọa lạc trên địa bàn 5 xã. Các thánh đường này cũng rất đẹp đẽ, uy nghi. Như thánh đường Ehsan ở ấp Hà Bao II, xã Đa Phước, được xây lại vào năm 2000.
Người Hoa ở An Giang cũng như ở Nam bộ phần nhiều theo các tín ngưỡng dân gian và thờ cúng tổ tiên. Hệ thống thần thánh của người Hoa rất phong phú và phức tạp. Các thần thánh được cộng đồng thờ cúng gồm Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng, Ông Bổn, Khổng Tử… Trong gia đình, người Hoa thờ các vị thần bảo hộ gia đình: Thiên Quan Tứ Phước, Môn Thần, Thổ Địa Bản Gia, Táo Quân, Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần, Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần, Quan Âm Bồ Tát, Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, tổ tiên, tổ sư. Một số người Hoa cũng theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành. Trên đường Phạm Hồng Thái, thuộc phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, có một di tích kiến trúc nổi tiếng của người Hoa là chùa Ông Bắc tức Quảng Đông Tỉnh Hội quán, được công nhận Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào tháng 6/1987. Chánh điện của chùa thờ Bắc Đế, bên trái thờ Thiên Hậu, bên phải thờ Quan Công. Ngoài ra Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Ngọc Hoàng Thượng Đế… cũng được thờ tại đây. Hằng năm, vào các ngày 3/3, 22/3 và 21/6 âm lịch, nhân dân trong vùng đến dự lễ cúng rất đông.
Một vài kết luận
Sự đa dạng về địa lý tự nhiên và giao lưu tiếp biến văn hóa đã đem lại cho vùng đất An Giang một diện mạo đa dạng bậc nhất Việt Nam về văn hóa tộc người và tôn giáo. Qua việc tìm hiểu trạng thái đan xen văn hóa tộc người và tôn giáo của An Giang hiện tại, chúng ta có thể hiểu sâu hơn nền văn hóa của toàn vùng Nam bộ, vì An Giang có những đặc trưng tiêu biểu cho vùng đất Nam bộ về tự nhiên và văn hóa. Những ghi chép tổng hợp qua các chuyến đi thực địa cung cấp một cái nhìn cập nhật và những thông tin sơ cấp, xác thực vì được thu thập trực tiếp từ những điều tai nghe, mắt thấy. Điều đó chứng tỏ thực tập, thực tế và các phương pháp liên quan như phương pháp khảo sát điền dã, là rất cần yếu đối với việc đào tạo đại học và sau đại học về khoa học xã hội – nhân văn, có ích cho kiến thức của cả người học và người dạy học.
___________
1Sẽ là một thiếu sót đáng kể nếu nói về tín ngưỡng – tôn giáo ở An Giang mà bỏ qua các “ông đạo” nổi tiếng một thời. Nhiều người trong số đó đã lập ra những giáo phái mới, để lại trong dân gian những huyền thoại về lối tu hành và truyền đạo kỳ lạ của họ. Tại núi Cấm, chúng tôi đã nghe một cư dân địa phương là ông Bảy Trác, chủ nhà nghỉ Ngọc Lan nằm ở độ cao 500m, kể về “đạo ở truồng”. Theo lời kể, đạo này do một nhà tu lập ra ở vùng núi Cấm trước đây. Do chủ trương rằng con người phải cởi bỏ hết mọi ràng buộc vật chất khi hành lễ, nên việc khấn nguyện được tổ chức ngoài trời, quay cót xung quanh cho kín. Tất cả tín đồ, nam và nữ, phải cởi bỏ hết áo quần, hoàn toàn khỏa thân mới được bước vào bên trong cót để cùng hành lễ! Kế đến là “đạo đút”. Đạo này do một nhà tu, có lẽ do muốn cổ xúy lòng tương thân tương ái, nên quy định một nghi thức hành đạo là các tín đồ phải ngồi thành vòng tròn, mỗi người tuần tự đút cơm cho người ngồi bên cạnh, và ăn cơm do người ngồi ở phía đối diện đút cho. Kinh dị hơn nữa là “đạo Ông Sáu”, do một nhà tu mượn lốt tu hành để thu nạp, lợi dụng thể xác của các nữ tín đồ, từ gái tơ cho đến những phụ nữ đứng tuổi, có chồng con. Nhưng khủng khiếp nhất là “đạo đâm”, cách dân gian gọi một nhánh đạo do Nguyễn Long Châu, nguyên đệ tử của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ lập ra. Sau khi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ từ trần, Nguyễn Long Châu tự xưng là hậu thân của Đức Thầy, buộc tín đồ Hòa Hảo trong vùng phải thừa nhận mình là Giáo chủ. Nơi “tu hành” của Nguyễn Long Châu chính là vồ Ông Hổ trên núi Cấm. Để mau chóng gồm thâu quyền lực, Nguyễn Long Châu đã tổ chức bắt giết, chặt đầu tất cả những người không chấp nhận tư cách “hậu thân Đức Thầy” của bản thân mình, làm cho dân chúng trong vùng khiếp vía suốt một thời gian… Tất nhiên, đó chỉ là những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại, đã được tô điểm thêm qua thời gian và lời kể của nhiều người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang (2008a), Điều kiện tự nhiên,
www.angiang.gov.vn.
2. Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang (2008b), Lịch sử hình thành,
www.angiang.gov.vn.
3. Phạm Đình Chương (2009), Văn hóa tổ chức cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
4. Trần Trọng Lễ (2011), Đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên từ góc nhìn văn hóa học, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
5. Viện Dân tộc (2010), Dân số chia theo đơn vị hành chính, dân tộc và giới tính, http://viendantoc.org.vn
SUMMARY
The article is the result of the field trips in which the author participated as a professional adviser. The first was held by the Faculty of Culturology – University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University – HCMC in November 2009, from Long Xuyen to Chau Doc, An Phu, to Tinh Bien, Tri Ton, Thoai Son and back to Long Xuyen. The second was made by the author himself in September 2011 at the two districts of Thoai Son and Tri Ton in An Giang and an area of Hon Dat district in Kien Giang.
Trích dẫn tệp PDF từ: http://qlkh.hcmussh.edu.vn/
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
Kính mời Quý độc giả xem lại phần 1.
Diện mạo văn hóa đa tộc người – đa tôn giáo ở An Giang qua khảo sát điền dã
(Phần 1)
| Download file (PDF): Diện mạo văn hóa đa tộc người – đa tôn giáo ở An Giang qua khảo sát điền dã (Tác giả: TS Lý Tùng Hiếu) |