Hiện tượng tiếp biến văn chương qua “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi

     

     Trong lịch sử văn học Việt Nam, sự xuất hiện của chữ Nôm nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng như một bước tiến nhảy vọt với ý thức thể hiện tinh thần tự lập, tự cường về mặt văn hóa của dân tộc Việt trong tương quan với văn hóa, văn học Trung Quốc. Thơ Nôm Đường luật trên cơ sở kế thừa, tiếp biến thơ Đường luật Hán đã có những tìm tòi sáng tạo trên cả bình diện nội dung lẫn nghệ thuật để khẳng định bản sắc dân tộc. Trải qua một quá trình thể nghiệm, sáng tạo dài từ thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nôm Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,…Thơ Nôm Đường luật ngày càng khẳng định sức sống của nó. Bắt nguồn từ cội rễ của thơ Đường Trung Quốc, Thơ Nôm Đường luật xuất hiện với những đổi mới, sáng tạo đã vươn cành đâm nhánh, tỏa bóng xanh mát, ngày càng tươi mới trong khả năng thể hiện.  Trong đó, Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập đã khơi nguồn dòng thơ chữ Nôm, mở ra một hướng đi mới trong nền thi ca dân tộc.

     Có thể nói, với lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng vĩ đại, là danh nhân văn hoá, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị và ngoại giao tài ba, là người có tài kinh bang hoa quốc cổ vô tiền, là sông Giang sông Hán trong các sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các sao. Với lịch sử văn học, Nguyễn Trãi có thể xem là là nhà thơ đặt nền móng cho giai đoạn khai sáng của nền văn học cổ điển Việt Nam. Nếu ví nền văn học dân tộc như một cánh rừng đại ngàn thì Nguyễn Trãi chính là cây cổ thụ xanh um tán lá, là một bóng tùng vĩ đại và bất tử trong chốn nho lâm nước Việt (GS. Nguyễn Phong Nam). Bên cạnh những bài văn chính luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, bên cạnh những bài thơ chữ Hán thâm thúy, những vần thơ Nôm Nguyễn Trãi  không chỉ dẫn ta tri ngộ cùng những ưu tư trăn trở, tha thiết cùng thiên nhiên, cuộc đời mà còn giúp ta hiểu thêm sức sống dồi dào của ngôn ngữ dân tộc khi biến hóa trong một thể loại vay mượn từ Trung Quốc. Sự kết hợp ấy trong Quốc âm thi tập không hề khiên cưỡng mà bước đầu, nó đã đem lại cho thơ Đường luật một sức sống mới, gần gũi hơn với lời ăn tiếng nói nhân dân, cấp thiết hơn với ý thức giữ gìn, phát triển bản sắc dân tộc. Có thể nói, trong dòng chảy vận động của thơ Nôm Đường luật, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là một sự khơi nguồn đầy ấn tượng và giàu giá trị.

     Chọn đề tài Hiện tượng tiếp biến văn chương qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, người viết mong muốn có những tìm hiểu, khám phá sâu sắc hơn về sự tiếp biến đầy sáng tạo trong mảng thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, hiểu thêm giá trị của nó trong dòng chảy thơ Nôm thời trung đại. Từ đó, người viết có thể hiểu và trân trọng hơn giá trị của một tài năng, một nhân cách không ngừng bồi đắp, phát triển giá trị văn hóa của dân tộc.

x
x x

NỘI DUNG

1. Hiện tượng tiếp biến văn chương trong văn học trung đại nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng

     Tiếp nối bộ phận văn học dân gian hồn hậu, đằm thắm là bộ phận văn học viết rực rỡ thành tựu được mở đầu bằng loại hình văn học trung đại. Trong giai đoạn đầu còn non yếu, văn học trung đại Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hóa, văn học Trung Quốc. Trong nhu cầu định hình, xây dựng và phát triển nền văn học nước nhà, cha ông ta đã di thực, bứng trồng một cách có hệ thống văn hóa, văn học Trung Quốc, từ tư tưởng đến quan niệm, từ ngôn ngữ đến thể loại, từ cảm hứng, thị hiếu đến đề tài, thủ pháp nghệ thuật… Tuy nhiên, với ý thức dân tộc sâu sắc, chúng ta đã bứng trồng văn hóa, văn học Trung Quốc trên một mảnh đất mỡ màu tiềm năng, giàu bản sắc văn hóa. Do đó, nền văn học trung đại Việt Nam không ngừng tươi xanh, nở rộ những thành tựu. Văn học trung đại Việt Nam dù vận động trong dòng ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc nhưng ngày càng phát triển với xu thế khẳng định sự độc lập, tự cường về văn hóa, văn học.

     Trong suốt chặng đường dài phát triển, sự tiếp biến văn học Trung Quốc về tư tưởng, quan niệm, kỹ thuật, thi pháp như một cách bồi đắp vững vàng trong việc xây dựng nền văn học dân tộc còn hiện tượng dung hợp như là con đường để làm giàu thêm vốn văn hóa, đậm đà bản sắc, khẳng định nền văn học độc lập không tan biến trong văn học Trung Quốc với chính sách đồng hóa của chúng. Vì vậy, có thể nói, buổi đầu phát triển với dòng văn học chữ Hán, chúng ta đã thực hiện tiếp nhiều hơn biến. Văn học trung đại buổi đầu phát triển không chỉ mượn chữ Hán làm ngôn ngữ chính mà kế thừa văn học Trung Quốc ở tất cả các phương diện khác. Các tác phẩm thời bấy giờ chủ yếu mượn hệ thống thể loại của văn học Trung Quốc, sáng tác xoay quanh một số khuôn mẫu nhất định như Cảm, Thuật, Hoài, Tặng, Đề, Tán, Tiễn, Tống, Biệt, Hứng, Vịnh,…Nội dung tác phẩm chủ yếu xoay quanh các đề tài, chủ đề mang tính ước lệ, điển phạm như: Vịnh năm canh, bốn mùa, mười hai tháng theo cái lẽ tuần hoàn của triết lý cổ phương Đông trong Kinh Dịch; vịnh tứ thú (ngư tiều canh mục), tứ khoái (phong hoa tuyết nguyệt, cầm kỳ thi tửu) nhằm bộc lộ cái thú thưởng ngoạn của bậc trí nhân quân tử và ngụ cho mỹ đức của cá nhân mình; vịnh đạo Cương thường theo giáo lý Khổng Mạnh Quân tử chi chí ư đạo dã, bất thành chương bất đạt – Tận tâm hạ) trong các quan hệ ứng xử và rèn luyện các phẩm chất nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; vịnh nhân vật lịch sử gắn với thái độ tôn sùng cổ nhân và mục đích giáo hóa… Ngoài ra, các nội dung khác của tư tưởng Nho giáo như đạo trung dung, triết lý mệnh trời, các quan niệm sống an bần lạc đạo, dĩ hòa vi quý…cũng được đề cập đến. Văn học thời bấy giờ mang tính quy phạm từ quan niệm nghệ thuật đến phương thức thể hiện. Có thể thấy, sự ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa, văn học Trung Quốc là một quy luật có ý nghĩa sinh tồn trong lịch sử phát triển nền văn học dân tộc. Để rồi, từ vay mượn thơ ca Việt Nam sẽ tách dần khỏi sự ảnh hưởng Trung Hoa (…) mà đó là cuộc vật lộn trầy da sẩy trán trong hàng nghìn năm, chứ không phải một ngày, hai ngày là đạt ngay được.

     Từ nhu cầu sinh tồn đến nhu cầu phát triển và khẳng định bản sắc dân tộc, chữ Nôm ra đời như một tất yếu. Với chữ Nôm Việt, ở Việt Nam đã hình thành nên một nền văn chương chữ Nôm (bên cạnh văn chương chữ Hán). Và chính trong lĩnh vực sáng tạo văn học, chữ Nôm gắn liền với ngôn ngữ dân tộc đã tạo nên những tác phẩm có giá trị, chiếm những vị trí cao nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Trên nền thành tựu của văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm đã mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa; phá bỏ dần những tư duy nghệ thuật cũ, thể hiện những tư duy nghệ thuật mới mở ra những trường mỹ cảm mới bất ngờ, thú vị. Qua thời gian phát triển, văn học chữ Nôm không ngừng đơm hoa kết trái với nhiều thành tựu lớn.

     Phát triển rực rỡ và gặt hái nhiều thành tựu trong dòng văn học chữ Nôm là bộ phận thơ Nôm Đường luật. Đó là những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể Đường luật (gồm cả những bài theo thể Đường luật hoàn chỉnh và những bài theo thể đường luật phá cách – những bài có xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào thơ thất ngôn). Cái hay của mỗi bài thơ Nôm Đường luật là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật (Yếu tố Nôm trong thơ Nôm Đường luật có thể hiểu là những gì thuộc về dân tộc, dân dã, bình dị). Hai yếu tố này hòa quyện, đan xen, xuyên thấm vào nhau tạo nên giá trị mỹ cảm độc đáo của mỗi tác phẩm thơ Nôm Đường luật.

     Trong tương quan với thơ Đường luật Hán, thơ Nôm Đường luật vận động – phát triển theo hai xu hướng: Vừa hướng tới đồng tâm với Đường luật Hán, vừa hướng tới ly tâm theo tinh thần dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại. Với khả năng biểu hiện của một thứ ngôn ngữ gần gũi, mang đậm lời ăn tiếng nói nhân dân và văn học dân gian, thơ Nôm Đường luật từ hướng nhiều vào mục đích chở đạo, giáo huấn chuyển dần sang mục đích phản ánh cuộc sống, xã hội, thời đại và số phận con người. Không rập khuôn trên lối mòn cũ, thơ Nôm Đường luật đã mở rộng đề tài, chủ đề và sáng tạo những đề tài, chủ đề mới theo hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại. Vẫn là Vịnh mai nhưng trong Hồng Đức quốc âm thi tập có Mai thụ, Lão mai, Tảo mai, Thủy trung mai,…vẫn là chữ Đạo trong Nho giáo nhưng lại biến hóa đầy ân tình, quen thuộc như tâm thức dân gian trong thơ Nguyễn Trãi: Áo mặc miễn là cho cật ấm,/ Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon./ Xưa đà có câu truyền bảo/ Làm biếng hay ăn lở non. (Quốc âm thi tập). Nhiều hình ảnh đời thường, dân dã đã bước vào thế giới thơ Nôm Đường luật như bè rau muống, rảnh mùng tơi, quả núc nác, cây chuối…trong thơ Nôm Nguyễn Trãi; cây cau, rau cải, quả dưa, khoai, cái rế, cái bếp, cái cối xay, cái đó, cái nón, con kiến, con, rận… trong thơ Nôm của Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức. Đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương, ngôn ngữ sống động, đa nghĩa đã trút bỏ hoàn toàn những quy phạm, khuôn thước để thể hiện vẻ đẹp tự nhiên, bản năng của con người, để trân trọng trước vẻ đẹp và cảm thông, đau đớn cho thân phận người phụ nữ. Cuộc sống hiện thực được nhìn dưới lăng kính phồn thực hay trào tiếu, giễu nhại trước những gì trang nghiêm chính là Hồ Xuân Hương đã thổi hồn cốt dân gian vào một thể thơ vốn trang trọng, biến mỗi bài thơ của bà thành một viên đá kỳ hình đa sắc, từ mỗi góc nhìn lại ánh lên một màu sắc mới, vẻ đẹp mới. Đề tài về người phụ nữ gắn với bi kịch tình yêu, hôn nhân trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng là một bước tiến mới của dòng thơ tiếng Việt, khơi mở một dòng cảm hứng trữ tình giàu giá trị nhân văn truyền thống. Bước sang thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú Xương, thơ Nôm lại phát triển lên một mức mới. Mặc dù vẫn còn giới hạn trong chức năng phản ánh xã hội qua trữ tình thế sự, trào phúng thế sự nhưng cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều cố gắng vượt ra ngoài những giới hạn đó để phản ánh đời sống với những chi tiết hiện thực sinh động. Có lẽ, khó có nhà thơ nào viết nhiều, viết đúng và viết hay về làng quê như Nguyễn Khuyến. Và cũng không ai bằng Tú Xương với những bức ký họa chân thực và sinh động về xã hội thực dân phong kiến.

     Có thể nói, thơ Nôm Đường luật trên con đường phát triển vẫn tiếp thu những tinh hoa của thơ Đường luật Hán nhưng không ngừng sáng tạo, tự làm mới mình theo hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại. Nguyễn Thuyên có thể xem là người sáng tác đầu tiên bằng chữ Nôm nhưng tác phẩm của ông không được lưu giữ lại. Do đó, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có thể xem là tập thơ mở đầu cho những đổi mới, sáng tạo trong thi pháp thể loại, khơi nguồn dòng thơ chữ Nôm. Dẫu trên con đường đi ấy, thơ Nôm Đường luật đã đi một đoạn khá xa ở thơ Hồ Xuân hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương nhưng những thành công bước đầu ở thơ Nôm Nguyễn Trãi đóng vai trò vô cùng quan trọng.

2. Hiện tượng tiếp biến văn chương qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

     2.1. Tác giả Nguyễn Trãi và tập thơ Quốc âm thi tập

         2.1.1. Nguyễn Trãi và sự nghiệp văn chương.

     Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai (1380 – 1442), quê ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là Thường Tín, Hà Nội. Ông là con trai của ông Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán. Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi nước ta bị rơi vào Bắc thuộc, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại giặc Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Ông là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời nhà Lê. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông chiêu tuyết giải oan cho ông.

     Nguyễn Trãi cũng là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông được coi là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá của Việt Nam. Nguyễn Trãi là một cây bút đa dạng, sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Trước tác của ông thuộc nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí,…Ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà những kiệt tác như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập,.. Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời của một con người toàn đức, toàn tài, của một anh hùng luôn ôm mộng ưu dân ái quốc, nhân cách sáng vằng vặc tựa sao Khuê. Tài năng ấy, nhân cách ấy qua bao thế kỉ vẫn bất tử và ngời sáng.

         2.1.2. Vài nét về “Quốc âm thi tập”

     Theo GS. Nguyễn Phong Nam, Quốc âm thi tập là “sự khởi đầu hoành tráng nhất, ấn tượng nhất” của thơ Nôm Việt Nam. Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi được xem như nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc. Quốc âm thi tập có 254 bài thơ, được xếp theo bốn phần là Vô đề (188 bài), Môn thì lệnh (21 bài), Hoa mộc môn (34 bài), Môn cầm thú (7 bài). Trong đó, phần quan trọng và trọng tâm là phần Vô đề.

     Đây là tập thơ theo thể thơ cách luật thất ngôn bát cú, phần lớn theo thể phổ biến bình thường, một số bài theo thể cải biên, pha câu lục ngôn, ngũ ngôn ở các vị trí không nhất định. Tập thơ này được viết bằng chữ Nôm – thứ chữ dựa trên kí hiệu chữ Hán có biến cải để ghi âm tiếng Việt. Có lẽ vì vậy mà lời thơ uyển chuyển, dung dị, gần gũi đời thường, gần với nếp cảm, nếp nghĩ dân tộc. So với thơ chữ Hán, tập thơ Nôm đại thành của Nguyễn Trãi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về thiên nhiên, quê hương, đất nước. Nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc, Nguyễn Trãi có thể bộc lộ các cung bậc tình cảm, các sắc thái trữ tình, thế giới nội tâm và mọi nỗi ưu phiền một cách tự do, linh động. Quốc âm thi tập là thơ của người ẩn, cảnh sắc là cảnh sắc ở ẩn. Nguyễn Trãi như một lão nông tri điền say trong thiên nhiên thôn dã với tình yêu sâu sắc. Cùng với tình yêu thiên nhiên, tập thơ còn bộc lộ tình yêu con người, cuộc sống và nỗi đau buồn trước thế sự, lòng người hiểm hóc. Bên cạnh đó, cuộn chảy suốt Quốc âm thi tập là nỗi lòng ưu dân ái quốc, là dâng dậy tấm lòng của một con người luôn canh cánh nỗi tiên ưu với niềm khắc khoải chưa thấu thỏa, là vằng vặc vầng sáng của ý chí, của khát vọng hiến dâng mình cho đại sự nước nhà: Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu ThuấnDường như ta đà phỉ sở nguyền. Những tâm tình ấy, ý nguyện ấy đã được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ dân dã, không bị gò bó bởi thi luật thơ Đường mà phóng khoáng đầy bay bổng. Đúng là những câu thơ Nôm của Nguyễn Trãi có khi trần trụi, sần sùi như quặng quý còn vùi trong đất cát, có khi long lanh như ngọc bích đã qua tay người thợ kim hoàn chế tác.

     Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã tạo nên một lối thơ vừa sâu sắc trí tuệ, vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh văn hóa, văn học trung đại bấy giờ, thơ Nôm Nguyễn Trãi đã tiên phong, dẫn nguồn thơ Đường bám rễ vào hồn dân tộc. Quốc âm thi tập không chỉ đưa ta khám phá con người cá nhân trong thơ, tính chất đa dạng của hồn thơ Nguyễn Trãi, thấy được cái tôi nhà thơ trong đường biên giữa nhà tư tưởng và người nghệ sĩ mà còn giúp ta hiểu và trân trọng hơn về sự mới mẻ, sáng tạo trong tư duy thể loại của một tài năng vượt thời gian, không gian thời đại. Quốc âm thi tập xứng đáng được xem là thành tựu lớn vẻ vang mở đầu đầy ấn tượng cho dòng thơ Nôm nước nhà.

     2.2. Hiện tượng tiếp biến trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi

         2.2.1. Sự tiếp biến trong quan điểm và tư tưởng

     Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện sự tiếp thu quan điểm, tư tưởng cố hữu của thơ Đường mà còn có những mới mẻ vượt ra khỏi những quy tắc, khuôn thước. Trần Đình Hượu đã có một nhận xét sâu sắc về tư tưởng của Nguyễn Trãi:  Về hệ thống, tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó.

     Đối với Ức Trai, văn chương không phải là mục đích, là sự nghiệp dù rằng ông vẫn tâm sự: Một thân lẩn quất đường khoa mục/ Hai chữ mơ màng việc quốc gia, Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt/ Túi thơ chứa hết mọi giang san. Chịu ảnh hưởng quan niệm thơ Đường Trung Quốc, thơ Nguyễn Trãi vẫn thể hiện những quan niệm nghệ thuật đã thành công thức như Văn dĩ tải đạo, Thi dĩ ngôn chí,…Trong những vần thơ Nguyễn Trãi vẫn nổi bật lên những băn khoăn về đạo làm tôi và đạo làm con: Bui có một niềm chăng nỡ trễ/ Đạo làm con liễn đạo làm tôi (Ngôn chí 1)Quân thân chưa báo lòng canh cánh/ Tình phụ cơm trời áo cha (Ngôn chí 7); Nợ quân thân chưa báo được/ Hài hoa còn bợn dặm thanh vân(Ngôn chí 11). Thơ Nguyễn Trãi cũng vằng vặc ý chí của một con người luôn muốn hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp xã tắc: Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu ThuấnDường như ta đà phỉ sở nguyền. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ Ngô Thế Vinh đã nhận định: Văn chương của ông khi còn ẩn náu thì đủ để nuôi chí mình, khi đã hiển đạt thì đủ để đem dùng cho đời, khi còn giấu kín mình thì có thể khuây khoả cho bản thân, lúc ra làm nghiệp đời có thể thành được nghiệp lớn.

     Thế nhưng, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi vẫn cho ta thấy những quan niệm, tư tưởng mới mẻ rất phù hợp với hoàn cảnh dân tộc Việt, tâm thức Việt. Những quan niệm, những giáo lí đạo đức xơ cứng của đạo Nho hay tư tưởng thanh tĩnh vô vi của Lão- Trang, tư tưởng nhân quả của Phật giáo đã được ông dân gian hóa một cách tài tình bằng những hình tượng thơ gần gũi, bằng cách nói thông thuộc hàng ngày của nhân dân. Những câu thơ ấy, vẫn thơ ấy vẫn triết lí sâu sắc mà dễ hiểu, gần gũi, bình dị đầy ân tình. Đọc những câu thơ Nguyễn Trãi đã làm cách ta những sáu trăm năm mà vẫn mới nguyên như chân lí: Làm biếng hay ăn lở núi non; Có đức thì hơn nữa có tài; Của nhiều sơn dã đem nhau đến/ Khó ở kinh thành ít kẻ han; Nếu có sâu thì bỏ canh; Ở bầu thì dáng ắt nên tròn; Đen gần mực đỏ gần son”…  Có những tư tưởng Nho giáo như đạo làm tôi trung với vua hay đạo lí nhân nghĩa vào thơ Nguyễn Trãi lại biến hóa thành tư tưởng hoàn toàn mới mẻ, tiến bộ. Đó là tư tưởng thân dân, yêu dân: Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày.  Tinh thần vì nước giết giặc được Nguyễn Trãi vận dụng vào thời bình thành Trừ độc, từ tham, trừ bạo ngược/ Có nhân, có trí, có anh hùng (Bảo kính cảnh giới 5). Phải là một người có lòng sáng tựa sao Khuê, gắn bó với nhân dân, chảy trong huyết mạch nguồn sống dân gian mới viết được những dòng thơ tươi xanh chân lí như vậy!

     Thơ xưa vẫn luôn có quan niệm Hậu cổ bạc kim, Sính điển phạm, Thuật nhi bất tác…Thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng xuất hiện những điển tích điển cố: Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu ThuấnDường như ta đà phỉ sở nguyền (Tự thán 4) hayĐầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ/ Tay còn lọ hái cúc Uyên Minh. Thế nhưng, điển cố, điển tích xuất hiện không nhiều trong tập thơ mà nó cũng mở ra trước mắt ta một thế giới ngôn ngữ bình dân, mộc mạc. Thơ Nguyễn Trãi đã mất dần đi tính cao nhã thường thấy của Đường thi mà hiển hiện lên hồn dân gian mộc mạc. Ở đó Nguyễn Trãi như là một người nghệ sĩ đang dạo chơi giữa miền quê thôn dã, say trong thiên nhiên mặc dù không tránh khỏi những ưu tư, phiền muộn, canh cánh nỗi lo nước thương đời. Thơ Đường luật viết nhiều về thiên nhiên nhưng khó có người nghệ sĩ nào hòa nhập với thiên nhiên, xem thiên nhiên là người bạn tri âm như Nguyễn Trãi. Có thể thấy trong tập thơ hội đủ ba loại hình tượng tác giả. Đó là hình tượng người anh hùng đem hết sức bình sinh phò đời, giúp nước; hình tượng người ẩn sĩ sống thanh cao, lánh xa vòng danh lợi; hình tượng con người hữu tài, hữu tình, cảm nhận sâu sắc và tinh tế mọi biến dịch linh diệu của thiên nhiên, của cuộc sống con người. Bên cạnh kiểu  nhà nho hành đạo canh cánh nỗi tiên ưu Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông (Thuật hứng 5), kiểu nhà nho ẩn dật tự nhủ mình Ngại ở nhân gian lưới trần/ Thì nằm thôn dã miễn yên thân còn xuất hiện kiểu nhà nho tài tử Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân. Điều đó cũng giúp ta hiểu tại sao lại có một bài thơ thấm đượm chất phong tình như Cây chuối trong thơ Nguyễn Trãi.

     Có thể nói, Quốc âm thi tập là một sự tiếp biến đầy ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi về quan niệm và tư tưởng. Những quan niệm cũ của thơ Đường luật, những tư tưởng căn bản do sự chi phối của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vẫn được Nguyễn Trãi thừa tiếp nhưng ông đã cải biến nó, kéo thơ Đường luật từ chỗ cao sang, bác học đến gần hơn với quan niệm, tư tưởng, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Nó tạo cho thơ Nôm một vẻ đẹp riêng, mang đậm hồn cốt dân tộc. Đồng thời, nó cũng bộc lộ sự tiến bộ vượt thời trong quan niệm và tư tưởng của Nguyễn Trãi.

         2.2.2. Sự tiếp biến trong nghệ thuật sáng tạo thơ Nôm Đường luật.

          2.2.2.1. Sự mở rộng và sáng tạo các tiểu loại đề tài, chủ đề theo hướng dân tộc hóa thể loại.

     Một trong những đặc điểm của Đường thi là tính cao nhã. Sự câu thúc của thi pháp Đường thi bắt buộc thơ Đường hướng về thể hiện những đề tài, chủ đề nghiêm chỉnh, lớn lao, trọng đại, gắn với đời sống quý tộc. Viết về con người phải là những nhà Nho hành đạo, là chí khí của người quân tử; viết về thiên nhiên phải là mây, núi, trăng hoa, tuyết, núi, sông.

     Thế nhưng, Nguyễn Trãi đã thể hiện trong Quốc âm thi tập sự tiếp biến đầy ý thức dân tộc khi đa dạng hóa đề tài, chủ đề và triệt để hóa dân dã hệ thống đề tài, chủ đề đó.

     Không hoàn toàn tách khỏi thi pháp cổ điển nhưng thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi đã bằng một lối đi riêng để đến gần hơn với tâm hồn Việt, văn hóa Việt, ngôn ngữ Việt. Thơ Đường luật lâu nay vốn cách biệt với đời sống thôn dã nhưng bước vào thơ Nguyễn Trãi lại căng đầy sức sống của hồn cốt dân gian. Đề tài, nhân vật, cảnh vật trong Quốc âm thi tập là những gì rất gần gũi cuộc sống thôn quê. Đó là một cây chuối đang trề sức sống đầy vẻ xuân tình, một cây xoan hoa nở lớp lớp đang khoe sắc, một rừng cây mở cửa đợi chim về, một ao sen chờ trăng lên in bóng, một áng chiều tà, một vầng trăng xao xuyến,…Từ con mèo, con chó, con ngựa đến ao rau muống, giậu mồng tơi, quả núc nác, củ ấu, lảnh mùng, khóm vầu, bụi tre… tất cả đều ùa vào thơ ông như chính sự sống vốn có. Những mảnh đời bất hạnh hay đạo vợ chồng, tình cha con, bằng hữu luôn ẩn chứa trong mỗi hình tượng thơ.

     Nguyễn Trãi đã đa dạng và thông tục hóa đề tài, chủ đề của thơ Đường luật. Đến với thiên nhiên, trong thơ Nguyễn Trãi vẫn không mất đi hình bóng của những loài cây, loài hoa quen thuộc của Đường thi như tùng, trúc, cúc, mai,.. Thế nhưng, ngồn ngộn sống dậy trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là cả một thế giới thiên nhiên dân dã, quen thuộc ở nông thôn nước Việt. Đọc thơ Nguyễn Trãi, có cảm giác như bao nhiêu cảnh vật, con người đời thường dân dã đều bước vào thơ hồn hậu, tự nhiên đầy vẻ nguyên sơ. Xuất hiện rất nhiều trong tập thơ là những hình ảnh thiên nhiên rất dân dã, tưởng như không thể đi vào thơ như bè rau muống, quả núc nác, lảnh mùng tơi hay bông bụt (mộc cận), cây mía (giá), cây chuối, cây lê,… Và cả những đối tượng xuất hiện nhiều trong ca dao nhưng hiếm gặp trong Đường thi như cây đa, hoa sen, hoa nhài cũng là đề tài gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân. Thiên nhiên dân dã đã bình dị bước vào thơ Nôm Nguyễn Trãi, sống động như một người bạn vui cùng nhà thơ cảnh điền viên trong công việc làm nông: Tả lòng thanh vị núc nác/ Vun đất ải, lảnh mùng tơi (Ngôn chí 9) hay Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen (Thuật hứng 24)Ao quan thả gửi hai bè muống/ Đất Bụt ương nhờ một luống mùng. Hiện lên trong tập thơ là hình ảnh Nguyễn Trãi Cơm ăn chẳng quản dưa muối – Áo mặc nài chi gấm thêu giữa một thiên nhiên rất giàu cảm xúc và đậm nét đời thường: Quê cũ nhà ta thiếu của nào/ Rau trong nội, cá trong ao (Mạn thuật 13). Với Nguyễn Trãi, vạn vật dù bình dị nhất của cuộc sống đều có thể là đề tài gợi thi hứng. Điểu đó thể hiện sự thay đổi nhận thức và cảm hứng sáng tạo, cảm hứng thẩm mỹ của thi nhân: cái bình dị, cái đời thường cũng trở thành đối tượng của cái đẹp.

     Thiên nhiên trong thơ Đường luật thường mang giá trị biểu trưng cho con người. Trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, có khi ông cũng khai thác hình ảnh thiên nhiên ở giá trị biểu tượng, biểu trưng của chúng. Đó có thể là bộc lộ khí tiết, nhân cách như khi Nguyễn Trãi viết về hồng cúc: Chuốt lòng son, chăng bén tục/ Bền tiết ngọc, kể chi sương (Hồng cúc) hay viết về cây tùng cũng để khẳng định lòng mình: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thưở ba đông (Tùng). Tuy vậy, thiên nhiên còn bước vào thơ Nguyễn Trãi trong tư thế hoàn toàn mới. Không dừng lại ở giá trị biểu trưng, thiên nhiên đã trở thành cái đẹp, là đối tượng thẩm mĩ để thi nhân thưởng ngoạn, bầu bạn tri âm. Những năm ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã hòa mình trong thiên nhiên. Trở về với thiên nhiên là trở về với cội rễ, với nguồn sống, với cái bản nguyên trong mỗi con người. Vì vậy, thiên nhiên đến trong thơ Nguyễn Trãi tự nhiên không rào đón với tư thế: Núi láng giềng, chim bầu bạn/ Mây khách khứa, nguyệt anh tam (Thuật hứng 19). Thiên nhiên không chỉ là đối tượng đề vịnh để nói chí, nói khí mà Nguyễn Trãi đã thay đổi cách nhìn, thay đổi cách khai thác giá trị đã trở thành công thức của Đường thi.  Điều đó rất hiếm gặp trong thơ Đường thời bấy giờ. Thiên nhiên trở thành đối tượng thẩm mĩ trong thơ. Những cảnh bình dị như một ánh trăng, một buổi chợ, một bông hoa nở, một nõn chuối, một luống mồng tơi, hay một tiếng chim kêu,… tất cả đều gợi lên trong tâm tưởng Ức Trai những tứ thơ mênh mông, lai láng, những khoảnh khắc say sưa, nồng nhiệt. Thật đúng như lời Nguyễn Trãi Non nước cùng ta đã có duyên (Tự thán-4). Ông đã biểu hiện thiên nhiên ấy với nhiều màu sắc, đường nét, âm thanh. Thiên nhiên ấy mang hồn người, mang tư tưởng, tình cảm của nhà thơ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi có những bức tranh mang vẻ đẹp xinh xắn, mang phong vị Đường thi như Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu (Bảo kính cảnh giới 26), có những bức tranh phong cảnh trần trề hương sắc như Hòe lục đùn đùn tán rợp giương/ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tịn mùi hương (Bảo kính cảnh giới 43) và cũng có bức tranh cảnh quê nguyên sơ, gần gũi Cây rợp chồi cành, chim kết tổ/ Ao quang mấu ấu, cá nên bầy (Ngôn chí 11). Thiên nhiên còn là bầu bạn tâm sự, là anh em với nhà thơ. Thi nhân hòa mình trong thiên nhiên, vui với cảnh Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén/ Ngày vắng xem hoa bợ cây (Ngôn chí 10), say trong vẻ đẹp ấy: Hái cúc, ương lan, hương bén áo/ Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn (Thuật hứng 15). Điều này cho thấy sự thay đổi đầy sáng tạo trong quan niệm của Nguyễn Trãi về đề tài, chủ đề. Thơ Đường luật vì vậy mà đậm đà hơn tính dân tộc, gần gũi hơn với nếp cảm, nếp nghĩ của nhân dân.

     Thưởng thức lại những vần thơ cô đọng mà thấm đượm vẻ tình tứ trong bài Ba tiêu, ta mới thấy Nguyễn Trãi đã vượt trước thời đại mình biết bao nhiêu trong cách lựa chọn và thể hiện đề tài, chủ đề: Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/ Đầy buồng lạ mầu thâu đêm/ Tình thư một bức phong còn kín/ Gió nơi đâu gượng mở xem (Ba tiêu). Hiếm gặp hình ảnh cây chuối – một loài cây vô cùng dân dã, gắn bó với thôn quê – trong thơ Đường luật. Thế mà, nó lại trở thành đối tượng gợi thi hứng cho nhà thơ. Không những thế, cây chuối bước vào thơ Nguyễn Trãi với vẻ đẹp thật mới lạ. Có lẽ khứu giác tinh tế, tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ nhận biết sự biến dịch linh diệu, huyền vi nơi tạo vật của thiên nhiên khi muà xuân đến: Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/ Đầy buồng lạ mầu thâu đêm. Thế nhưng hai câu thơ trên đâu chỉ là nói về cây chuối như tốt tươi thêm vì “bén hơi xuân” và ngào ngạt hương buồng chuối chín. Chữ bén hơi tình tứ gợi ta nhớ đến câu tục ngữ Gái bén hơi trai. Nhà thơ thật tình tứ, tinh nghịch. Sự tình tứ, tinh nghịch đẩy sức tưởng tượng của nhà thơ càng bay bổng và Nguyễn Trãi đã viết một cách ẩn dụ về cái đọt chuối vươn lên trong bầu khí xuân: Tình thư một bức phong còn kín/ Gió nơi đâu gượng mở xem. Vậy phải chăng ẩn hiện đằng sau những câu thơ còn là hình ảnh của người con gái đang tuổi dậy thì và cái buồng lạ kia có thể hiểu là buồng khuê ngào ngạt hương thơm người thiếu nữ đang e ấp chờ gió gượng mở xem. Bài thơ hay không chỉ ở sự sáng tạo, dân dã hóa đề tài mà còn hay và thú vị bởi chất phong tình của tứ thơ, ý thơ. Thơ Nôm Nguyễn Trãi vì vậy dường như đã vượt xa khỏi những lối cũ đầy công thức của thơ Đường luật để vươn đến cách thể hiện mới mẻ, đầy sáng tạo.

     Có thể nói, thông tục hóa, dân dã hóa đề tài trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi đã cho thấy tư duy nghệ thuật mới mẻ của nhà thơ. Nó đã mang đến cho thơ Đường luật một sắc diện mới, đậm đà hồn quê nước Việt. Sự tiếp biến sáng tạo này của Nguyễn Trãi đã mở ra một con đường mới cho thơ Đường luật Việt Nam trong quá trình khẳng định bản sắc riêng, thể hiện sức sống riêng.

          2.2.2.2. Việt hóa thể thơ Đường luật

     Sự Việt hóa thể thơ Đường luật là đưa vào thể thơ này những yếu tố về hình thức nghệ thuật mang tính thuần Việt làm cho nó đậm đà bản sắc dân tộc hơn. Ở thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi, ông đã cải biến thể thơ thông qua sự thể nghiệm thay đổi thể loại bằng cách xen câu lục ngôn, ngũ ngôn vào thơ thất ngôn, cải biến cấu trúc câu thơ như thay đổi cách nhắt nhịp, tiết tấu,…Sự tiếp biến ấy trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi đã cho thấy ý thức, sự nỗ lực lớn lao cho sự đổi mới, cách tân thể loại.

     Khi văn học viết của ta đang trên đà xây dựng và phát triển, Nguyễn Trãi đã tìm tòi một thể thơ mới cho dân tộc, để thoát khỏi ảnh hưởng của thơ Đường, thơ Tống. Trong thơ chữ Nôm, ông tạo nên thể thơ lục ngôn, với những câu thơ 6 chữ, mới lạ so với đương thời: Dò trúc, bước qua lòng suối/ Tìm mai, theo đạp bóng trăng (Tự thán-7); hoặc: Rỗi hóng mát, thủa ngày trường (Bảo kính cảnh giới-43);…

     Thơ chữ Hán đời Lý Trần đã từng có 20 câu thơ lục ngôn xuất hiện trong bốn bài thơ: Sinh tử của Nguyễn Tuân, Phật tâm ca của Trần Trung Tuệ, Nhàn cư lục ngôn đề thủy mặc trưởng tử tiểu cảnh của Phạm Mãi và bài Tức cảnh của Điểm Bích. Tuy nhiên, sự xuất hiện câu thơ lục ngôn trong thể thơ Đường luật vốn gò bó về câu chữ mãi đến Nguyễn Trãi mới xuất hiện rộng rãi. Thống kê trên 254 bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập thì ở 208 bài thơ bát cú đã có 186 bài có xen câu thơ lục ngôn. Tổng cộng có 437 câu lục ngôn ở vị trí không cố định. Rõ ràng, thơ Nôm Nguyễn Trãi mặc dù phỏng theo mô hình thất ngôn bát cú Đường luật nhưng số bài giữ nguyên cách thể không nhiều. Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn chứng tỏ rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng thể thơ này như một sự thử nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc.

     Điểm đặc biệt là những câu thơ lục ngôn xuất hiện trong bài thơ không theo một quy tắc nhất định nào cả mà nằm ở nhiều vị trí khác nhau. Sự linh hoạt, biến hóa trong vị trí xuất hiện câu thơ lục ngôn đem đến khả năng thể hiện phong phú, sinh động. Xét về giá trị nghệ thuật, câu thơ lục ngôn trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp với việc diễn đạt những chân lý của đời sống, những quyết tâm hành động của nhà thơ. Ngoài ra, cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ 6 chữ khiến nó có khả năng diễn đạt được những cung bậc tình cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con người. Câu thơ lục ngôn dồn nén cảm xúc. Có khi nó nằm ở đầu bài bộc lộ tư tưởng, quan niệm của nhà thơ như Ngại ở nhân gian lưới trần/ Thời nằm thôn dã miễn yên thân (Thuật hứng 15); Lánh trần, náu thú sơn lâm/ Lá thông đàn, tiếng trúc cầm (Thuật hứng 25) hay Muốn ăn trái, dưỡng nên cây (Bảo kính cảnh giới 10). Có khi nó đúc kết ý thơ, bày tỏ ý nguyện ở cuối bài như Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen (Thuật hứng 24), Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ, khắp đòi phương (Bảo kính cảnh giới 43). Cũng có lúc, câu lục ngôn xuất hiện giữa bài như sự dồn nén, cô đọng cảm xúc như Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén/ Ngày vắng xem hoa bợ cây (Ngôn chí 10); Quét trúc, bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng (Ngôn chí 15); Núi láng giềng, chim bầu bạn/ Mây khách khứa, nguyệt anh tam (Thuật hứng 19) hay thể hiện triết lí Dễ hay ruột biển sâu cạn/ Khôn biết lòng người vắn dài (Ngôn chí 5). Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi có những bài chiếm đa số là câu lục ngôn như bài Mạn thuật 20 (5/8 câu lục ngôn), Tự thán 23 (5/8 câu lục ngôn),…, cũng có những bài xen kẽ thất ngôn lẫn lục ngôn, ngũ ngôn như bài Thuật hứng 8. Sự linh động thay đổi kết cấu, xen câu lục ngôn và ngũ ngôn vào giữa những câu thơ thất ngôn mang đến cho thơ Đường luật khả năng biểu hiện phong phú, sinh động. Xen kẽ câu lục ngôn, ngũ ngôn như vậy thường tạo cảm giác đột ngột, nhấn mạnh được ý tình của bài thơ. Với sự cách tân này, Nguyễn Trãi đã dẫn đường phá vỡ những khuôn thước quy phạm của Đường thi để đi tìm thể cách thơ phù hợp với ngôn ngữ và yêu cầu biểu hiện đời sống dân tộc.

     Thoát khỏi sự gò bó của thơ Đường, Nguyễn Trãi còn cách tân thể thơ này bằng cách cải biến cấu trúc câu thơ như thay đổi vần nhịp, tiết tấu. Thơ Đường luật thường ngắt nhịp chẵn/lẽ như một công thức cố định, không có ngoại lệ. Bởi theo quan niệm của người Trung Quốc cổ thì cách ngắt nhịp đó khiến âm dương xen kẽ, chẵn lẽ luân chuyển nhịp nhàng, hô hứng tự nhiên với nhịp điệu vũ trụ (Theo Nguyễn Thị Bích Hải trong Thi pháp thơ Đường) Thế nhưng, thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi đã phá vỡ khuôn thước đó để tạo ra cách ngắt nhịp tương đối tự do. Trong câu thơ thất ngôn, nhiều khi ông không theo nhịp 4/3 như trong thơ Đường, thơ Tống mà ngắt nhịp rất tự do, phóng khoáng, tùy theo cảm xúc. Thơ Việt Nam thường ngắt nhịp lẻ trước, chẵn sau. Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng có nhiều câu ngắt nhịp lẻ/chẵn. Ví như ngắt nhịp 2/2/3:

Khách đến/ chim mừng/ hoa xảy động

Chè tiên/ nước kín/ nguyệt đeo về

(Thuật hứng 3)

     hay ngắt nhịp 3/4 theo kiểu thơ song thất lục bát:

Thạch lựu hiên/ còn phun thức đỏ

Hồng liên trì/ đã tịn mùi hương.

(Bảo kính cảnh giới 43)

Hé cửa đêm/ chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày/ lệ bóng hoa tàn.

(Bảo kính cảnh giới 33)

     Có khi câu thơ thất ngôn Nguyễn Trãi ngắt nhịp 1/2/3 như câu Rỗi/ hóng mát/ thuở ngày trường. Ý thơ cộng hưởng cùng nhịp thơ nhẹ nhàng gợi ta nghĩ đến hình ảnh một vị tiên đồng, đạo cốt Hài cỏ dẹp chân đi đủng đỉnh – Áo bô quen cật vận xềnh xoàng đang đi dạo mát. Cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga trong câu thơ. Cách ngắt nhịp trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi tự do, phóng túng, thể hiện sự tìm tòi phương thức biểu hiện mới theo hướng dân tộc hóa. Dẫu có trường hợp chỉ là ngẫu nhiên nhưng đó là sự phá cách đầy sáng tạo trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.

     Bên cạnh đó, cách gieo vần ở một số bài cũng tương đối phóng túng, luật bằng trắc không được tuân thủ. Có những câu thơ lục ngôn của Nguyễn Trãi bắt vần giống tục ngữ như chữ cuối của vế đầu bắt vần với chữ đầu của vế sau (Nhật nguyệt soi,đòi chốn hiện) hay chữ cuối của vế đầu bắt vần với chữ cuối của vế sau (Đìa cỏ, được câu ngâm gió). Có trường hợp vần lưng trong câu lục ngôn được gieo ở các vị trí khác nhau ví như gieo vần ở chữ thứ tư: Gạch quẳng nào bày mấy ngọc/ Sừng hằng những mọc qua tai (Tự thán 22). Những cách bắt vần đó phần nào thể hiện sự tiếp biến mới mẻ của Nguyễn Trãi.

     Trên quy cách và cấu trúc thơ Đường luật, Nguyễn Trải đã có những cải biến nhằm cách tân, đổi mới thể loại. Bước đầu những đổi mới đó đã mở con đường đưa thơ Đường luật vốn cao sang trở nên gần gũi hơn. Những đổi mới này góp phần khẳng định vị trí của Quốc âm thi tập trong quá trình Việt hóa thể thơ Đường luật của thơ Nôm trung đại.

          2.2.2.3. Vốn từ ngữ phong phú mang đậm chất dân gian.

     Bước vào thế giới ngôn ngữ của Quốc âm thi tập, ta vô cùng ngạc nhiên với vốn từ tiếng Việt phong phú mà Nguyễn Trãi đã đưa vào thơ. Theo Bùi Duy Tân thống kê, Nguyễn Trãi đã sử dụng hơn 11.000 lượt từ với hơn 2200 từ khác nhau. Bên cạnh đó, cùng với việc sử dụng song song từ Thuần Việt và từ gốc Hán, Nguyễn Trãi luôn có ý thức dùng từ thuần Việt thay thế cho từ Hán Việt. Ví như dùng từ ao thay cho từ trìAo quan thả gửi hai bè muống (Thuật hứng 23), Rau trong nội, cá trong ao (Mạn thuật 13)…; từ trăng thay từ nguyệtThưởng mai về đạp bóng trăng (Ngôn chí 15), Hiên mai cầm chén hỏi trăng (Mạn thuật 1), Trăng kề cửa, kẻo đèn khêu (Thuật hứng 22)…; từ cửa quyền thay quyền môn: Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc/ Cho hay đường lợi cực quanh co (Ngôn chí 19); từ mây xanh thay từ thanh vânChân mềm ngại bước dặm mây xanh (Bảo kính cảnh giới 31),…Điều đó cho thấy, Nguyễn Trãi luôn có ý thức Việt hóa thơ Đường luật về mặt ngôn ngữ.

     Cùng với việc sử dụng từ thuần Việt, Nguyễn Trãi cũng đồng hóa kho tư liệu Hán học. Có thể nói, trong quá trình giao lưu, tiếng Hán đã được sử dụng ở nước ta như một thứ ngôn ngữ chính. Đồng hóa từ ngữ Hán vào kho từ ngữ tiếng Việt cũng là cách để Nguyễn Trãi Việt hóa ngôn ngữ của thơ Đường luật, làm giàu thêm kho tàng, vốn liếng ngôn ngữ của dân tộc. Từ khẩu ngữ Hán học Hữu xạ tự nhiên hương/ Hà tất dương phong lập, Nguyễn Trãi có câu: Có xạ tự nhiên mùi ngát bay/ Lọ là đứng gió không tay. Từ câu Quân tử cố cùng, Nguyễn Trãi viết: Khó bền mới phải người quân tử/ Mạnh gắng thì nên kẻ trượng phu (Trần tình 7). Từ một câu ngạn ngữ Hán học Bần cư trung thị vô nhân vấn/ Phú tại sơn lâm hữu khách tầm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt ý đó bằng những cách nói khác nhau như Của nhiều sơn dã đem nhau đếnKhó ở kinh thành ít kẻ han (Bảo kính cảnh giới  6), Giàu người hợp, khó người tan/  Hai ấy hằng lề sự thế (Bảo kính cảnh giới 12), Phú quý thì nhiều kẻ đến chen/ Uốn đòi thế thái tính chưa quen (Bảo kính cảnh giới 13), Yêu trọng người dưng là của cải/  Thương vì thân thích nghĩa chân tay (Bảo kính cảnh giới 18)…

     Thế nhưng, có ý nghĩa bậc nhất trong việc cách tân ngôn ngữ của Quốc âm thi tập là Nguyễn Trãi đã xây dựng ngôn ngữ văn học trên có sở ngôn ngữ nhân dân và văn học dân gian.Tiếp thuquan niệm thẩm mỹ của văn chương trung đại, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các hình ảnh tượng trưng ước lệ nhưng  ngôn ngữ thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng dung dị, tự nhiên, gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao. Nguyễn Trãi đã thổi vào thơ Đường luật hồn của dân gian, dân tộc trong từ ngữ, hình ảnh thơ. Ông đã sử dụng nhuần nhị, hình tượng những kết cấu cô đúc trong các thể loại văn học dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Từ câu tục ngữ Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, Nguyễn Trãi viết: Ở bầu thì dáng ắt nên tròn/  Xấu tốt đều thì rập khuôn (Bảo kính cảnh giới 21), Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế/ Ắt đã tròn bằng nước ở bầu (Trần tình 4). Từ câu tục ngữ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, Nguyễn Trãi có câu:  Ở đấng thấp thì nên đấng thấp/ Đen gần mực, đỏ gần son (Bảo kính cảnh giới 21). Câu tục ngữ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ và Miệng ăn núi lở vào thơ Nguyễn Trãi thành Tay ai thì lại làm nuôi miệng/ Làm biếng ngồi ăn lở núi non (Bảo kính cảnh giới 22), Xưa đà có câu truyền bảo/  Làm biếng hay ăn lở núi non (Huấn nam tử)…Khảo sát tập thơ, ta có thể thống kê rất nhiều những cách nói vay mượn ngôn ngữ văn học dân gian như vậy. Chính vì sử dụng tài tình ngôn ngữ văn học dân gian nên những câu thơ Nôm của Nguyễn Trãi có giá trị gợi thanh, gợi hình sinh động, bám rễ sâu vào lòng dân tộc.

     Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi cũng vận dụng trong thơ ngôn ngữ quần chúng nhân dân. Nhiều câu khẩu ngữ được dùng khá linh hoạt, như: đôi ba khóm, sừng qua tai, quanh co ruột ốc, nên thợ nên thầy, no ăn no mặc… Đó là thứ ngôn ngữ của người lao động được ông gọt giũa, cách điệu hoá và nâng lên để diễn đạt những ý tưởng cô đúc, nhuần nhị. Ngôn ngữ hàng ngày của nhân dân bước vào thơ Nguyễn Trãi tự nhiên, dung dị: Co que thay bấy ruột ốc/ Khúc khuỷu làm chi trái hòe (Trần tình 8), Ruộng đôi ba khóm đất con ong/ Đầy tớ hay cày kẻo muộn mòng (Thuật hứng 11), Ấy còn cạy cục làm chi nữa/ Nẻo cốt chưa nồng chẩm chửa toan (Thuật hứng 18)… Trong thơ Nguyễn Trãi cũng xuất hiện rất nhiều từ láy dân dã – một hình thức độc đáo, sinh động của ngôn ngữ dân tộc: Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh/ Thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh (Bảo kính cảnh giới 31). Có những từ láy giản dị vô cùng trong câu Đường thi Nguyễn Trãi như Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc/ Say lểu thểu đứng đường thông (Thuật hứng 16) hay Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu/ Miễn là phỏng dáng đạo tiên nho (Ngôn chí 2). Đằng sau câu chữ là một Nguyễn Trãi thật tự do phóng khoáng giữa đất trời, thật táo bạo với những từ ngữ thuần Việt đắt giá tênh hênh, lểu thểu mà vẫn không suồng sã, tưởng khó thành thơ mà vẫn lộ rõ cốt cách thanh cao nhưng giản dị. Thơ Đường luật Nguyễn Trãi vì vậy cũng gần gũi hơn với nhân dân, đậm đà hơn tính dân tộc.

     Từ ngữ trong Quốc âm thi tập tiếp thu từ những thành tựu văn Nôm đời Trần, cải biến từ ngữ liệu Trung Quốc, song chủ yếu là chuốt lọc và phát triển từ tiếng nói của nhân dân và ngôn ngữ văn học dân gian. Trong khi thơ ca trung đại chủ yếu sử dụng ngôn ngữ ước lệ, nhiều điển tích, điển cố thì Nguyễn Trại đã làm một cuộc cách tân trở về cội nguồn dân tộc, đổi mới ngôn ngữ thơ Đường. Với lượng từ phong phú, từ thuần Việt chiếm ưu thế hơn so với từ Hán – Việt, từ đơn âm được dùng với số lượt cao, sử dụng hư từ với tỉ lệ nhiều, ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân gian…thơ Nôm Nguyễn Trãi đã đánh một dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của tiếng Việt văn học và thơ Nôm Đường luật thời trung đại.

KẾT LUẬN

     Vụ án Lệ Chi Viên đẫm máu đã cướp đi sự sống của Nguyễn Trãi. Một con người tỏa rộng khí phách, tài năng và nhân cách đã kết thúc cuộc đời trong nỗi oan khuất đầy đau đớn. Thế nhưng, con người ấy, nhân cách ấy vẫn vằng vặc như ngôi sao Khuê tỏa sáng trên bầu trời văn học Việt Nam bởi những vần thơ hay và mới mẻ cả về nội dung, tư tưởng lẫn thi pháp nghệ thuật.

     Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi xứng đáng được xem là người dẫn đường mở lối cho thơ Đường luật đến gần hơn với hồn dân tộc, xứng đáng được tôn vinh là người mở đầu ấn tượng, xuất sắc cho dòng thơ Nôm Đường luật. Thoát khỏi sự câu thúc của thi pháp thơ Đường kéo dài hàng thế kỷ, Nguyễn Trãi đã có những cách tân, đổi mới ở nhiều phương diện: từ quan niệm đến tư tưởng, từ kết cấu đến cấu trúc câu thơ, từ sự thay đổi vần nhịp đến ngôn ngữ thơ…Thơ Đường luật vốn cao nhã, ước lệ, chuộng cổ, dày đặc điển tích, điển cố đã dân dã, thông tục, bình dị bước vào thơ Nôm Nguyễn Trãi. Sự cách tân, đổi mới đó đã mang lại cho thơ Nôm Đường luật một sắc diện, dung mạo mới. Dẫu sau này, thơ Nôm Đường luật còn phát triển rực rỡ, mang tính dân tộc hơn với nhiều khám phá có giá trị về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật thể hiện nhưng có thể nói, không có những bước đi đầu tiên của Nguyễn Trãi thì khó có được thành tựu như thế. Những sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Trãi đã mở đầu cho quá trình phát triển của dòng thơ nôm nước Việt.

     Tìm hiểu Hiện tượng tiếp biến văn chương qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ta càng quý hơn những tìm tòi thể nghiệp nhằm đổi mới thể loại của thi nhân, càng trân trọng hơn tài năng và nhân cách cao vời của ông. Mãi mãi, Nguyễn Trãi vẫn sống mãi trong lòng hậu thế với những câu thơ tươi xanh giá trị.

Trích dẫn: Đỗ Thị Thu Hà *

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)