Kinh Kha[1] hành thích vua Tần[2]
Tác giả bài viết: THỨ LANG
Tiểu dẫn . Thái tử Đan nước Yên3 mưu ám hại Tần Vương/ cầu được Kinh Kha nhận lời giúp cho để mong đạt ý nguyện;
Kinh Kha được tôn làm thượng khanh4 đãi vào hàng thượng xá5. Ngày ngày thái-tử đến vấn an, cung đồ thái lao6, dâng các vật lạ.
Thỉnh thoảng lại tiến đưa xe ngựa, mỹ-nữ, chiều theo sở thích của Kinh Kha đặng mua chuộc lòng chàng.
Sau một thời-gian khá lâu, Kinh Kha vẫn chưa đả động gì tới việc lên đường,
Đại tướng Tần là Vương Tiễn7 đánh phá nước Triệu8, bắt vua Triệu và chiếm hết đất đai. Hắn tiến quân lên phía bắc, cướp đất đến tận biên giới phía nam nước Yên.
Thái tử Đan sợ hãi, liền nói với Kinh Kha :
— Quân Tần sẽ qua sông Dịch – thủy9 trong sớm tối. Dù Đan này có muốn thị phụng túc hạ lâu dài há dễ được sao ?
Kinh Kha thưa :
— Thái tử chẳng nhắc, thần cũng định sang Tần. Nhưng r đi mà không có gì làm tin thì khó bề tới gần được Tần Vương. Kìa là Phàn tướng quân 10. Nay Tần Vương treo giải vàng ngàn cân, ấp muôn nhà để mua y. Nếu được thủ cấp Phàn tướng quân cùng bản địa đồ đất Đốc-Kháng của nước Yên để đem dâng vua Tần, tất Tần-Vương sẽ đẹp lòng mà cho thần vào diện kiến, có thế thần mới được dịp đền ơn Thái tử.
Thái tử nói11
— Phàn tướng quân trong lúc khốn cùng chạy về với Đan này. Đan không nỡ vì việc riêng tư mà làm đau lòng trưởng giả. Xin túc hạ lo kế khác cho.
Kinh Kha biết thái tử không nỡ bèn lén đến ra mắt Phần Ô Kỳ hỏi:
— Vua Tần xử với tựớng quân thật là tàn tệ. Hắn đã tru lục hết cha mẹ họ hàng tướng quân. Nay lại nghe tin hắn còn treo giải thưởng vàng ngàn cân, ban ấp vạn hộ cho người lấy được đầu tường quân đó. vậy tướng quân tính sao đây ?
Phàn Ô Kỳ ngửa mặt lên trời thở dài rồi sa lệ đáp:
— Ô Kỳ nay mỗi khỉ nghĩ đến mối thù là thống hận đến xương tủy, song chưa nghỉ ra được kế gì mà thôi.
Kinh Kha hỏi:
— Hiện tôi có một lời giải được nguy cơ cho nước Yên và trả được cừu hận cho tướng quân, thì tướng quân tính sao ?
Phàn Ô Kỳ tiến đến gần hỏi lại :
— Bây giờ phải làm thế nào ?
Kinh Kha đáp:
— Xin tướng quân cho tôi cái đầu để dâng vua Tần. Tần vương tất nhiên vui mừng cho tôỉ vào diện kiến. Tôi sẽ thừa cơ một tay nắm áo hắn một tay đâm vào bụng hắn. Thế là cừu hận của tướng quân trả được mà cái nhục lấn áp nước Yên cũng trừ xong. Chẳng hay tướng quân có nghĩ thế không ?
Phàn Ô Kỳ trễ áo hở vai, chống tay nói:
— Đó là điều Kỳ này ngày đêm nghiến răng căm hận nát ruột lo âu. Đến nay mới được nghe dạy bảo.
Nói xong đâm cổ tự vẫn.
Thái tử Đan nghe tin, lên ngựa chạy tới, khóc lóc rất thảm thiết. Nhưng sự đã rồi chẳng làm thế nào được, bèn lấy đầu Phàn Ô Kỳ đặt vào hộp niêm phong lại.
Khi ấy Thải tử đã dự bị sẵn một lưỡi đao trủy thủ12 sắc bén nhất thiên hạ. Đó là lưỡi trủy thủ mua của Từ Phu Nhân13 nước Triệu với giá trăm lạng vàng, lại sai thợ tẩm thuốc độc vào. Đem dao cứa thử vào người thì chỉ hơi rớm máu là chẳng ai không chết ngay tức khắc. Chuẩn bị xong đâu đó rồi sắp sửa hành trang để giao cho Kinh Kha lên đường.
Nước Yên có tay dũng sĩ là Tần Vũ Dương. Năm gã 12 tuổi đã giết người nên chẳng ai dám nhìn mặt. Thái tử Đan sai Vũ Dương làm phó sứ.
Kinh Kha còn đợi một người14 để cùng đi. Người ấy lại ở xa chưa tới nên Kinh Kha còn nán lại.
Giây lâu chưa thấy khởi hành, Thái tử cho là trễ, ngờ Kinh Kha đổi dạ liền vào hỏi:
— Ngày đã hầu tàn, Kinh Khanh có định đi chăng ? Đan này xin để Tần Vũ Dương đi trước.
Kinh Kha giận lắm, thét lên :
— Ngày nay đi mà không về là tự thằng nhãi (trỏ Tần Vũ Dương) này đây. Cầm một lưỡi trủy thủ, dấn thân vào nước cường Tần bất trắc. Sở dĩ thần nán lại là để chờ người bạn đồng hành. Nhưng Thải tử sợ trễ, vậy xin quyết biệt ngay!
Nói rồi cất bước lên đường.
Thái tử Đan cùng tân khách biết chuyện, đều đội mũ mặc áo trắng đi tiễn chàng. Đến bên sông Dịch Thủy tế Tiên tổ 15 rồi, Cao Tiêm Ly16 gẩy đờn trúc, Kinh Kha hòa theo nhịp và hát điệu «Biến Chủy » 17. Mọi người đều xụt xùi rơi lụy.
Kinh Kha lại đi lên trước mà hát rằng :
Hắt hiu lằn gió thổi,
Kìa sông Dịch lạnh lùng.
Người đi không trở lại
Còn để tiếng anh hùng.
Kinh Kha lại khẳng khái hát theo điện “Vũ” 18. Mọi người nghe đều mắt trợn trừng tóc dựng đứng lên.
Thế rồi Kỉnh Kha lên xe đi không hề ngảnh cổ lại.
Sang đến Tần, Kinh Kha đem lễ vật đáng giá ngàn vàng, lo lót rất hậu quan trung-thứ-tử 19 Mông gia, một sủng thần của vua Tần.
Mông Gia tâu lót trước vua Tần:
— Vua Yên thực sợ oai Đại vương, không dám đem binh chống cự, nguyện dâng nước làm tôi Đại vương, đứng ngang hàng với chư hầu. Y dâng đồ cống hiến như một quận huyện của Tần, chỉ mong giữ được tôn miếu tiên vương đề phụng tự. Y khôn thiết sợ sệt, chẳng dám diện tấu, kích cẩn chặt đần Phàn ô Kỳ, dâng địa đồ đất Đốc-Kháng niêm phong vào hộp. Vua Yên qùy gối trước sân, sai sứ sang chờ lệnh Đại vương, xỉn Đại vương phát lạc.
Tần vương nghe tâu cả mừng mặc đồ triều phục, đặt lễ cửu tân20 tiếp sử giả nước Yên ở cung Hàm Dương21. Kinh Kha bưng hộp đựng thủ cấp Phàn Ô Kỳ, còn Tần Vũ Dương bưng hộp địa đồ theo sau đi vào. Đến trước bệ, Tần Vũ Dương run sợ thất sắc, các quan lấy làm kinh dị.
Kinh Kha quay lại cười Vũ Dương rồi tiến lên tạ lỗi nói:
— Kẻ dân hèn hủ lậu man mọi ở Bắc phiên chưa từng được thấy thiên tử, nên gã run sợ. Xin đại vương rộng bề tha thứ, để hạ thần được tiến dâng cả lên.
Tần Vương bảo Kinh Kha:
— Ngươi đưa bức địa đồ của Vũ Dương cầm lên đây.
Kinh Kha lấy địa đồ dâng lên.
Vua Tần mở địa đồ. Địa đồ vừa dở hết trật lưỡi dao trủy thủ ra. Kinh Kha liền tay trái nắm áo Tần vương, tay phải cầm đao trủy thủ đâm… Nhưng đao đâm chưa tới, Tần vương hoảng sợ, giựt ra vùng chạy. Tay áo đứt, Tần vương rút gươm mà gươm dài phải lấy nắm bao. Trong lúc bối rối vội vàng, tay nắm gươm chặt không sao rút ra được.
Kinh Kha rượt vua Tần. Vua Tần chạy vòng quanh cái cột. Các quan đều luống cuống. Vì cuộc biến xẩy ra trong lúc bất ngờ nên mất mất bình tĩnh, và luật nước Tần đã ghi rõ :
«Các quan hầu trên điện không được cầm một tấc binh khí, các lang trung mang khí giới đều đứng sắp hàng dưới điện, không có chiếu gọi thì không được lên“.
Trong lúc cấp bách, không kịp triệu bọn quan ở dưới. Vì thế mà Kinh Kha tiếp tục đuổi vua Tần. Nhà vua trong lúc hoảng hốt không có gì đì đánh Kha, chỉ giơ tay đón đỡ.
Khi ấy viên ngự y đứng hầu là Hạ Vô Thư ,liền lấy túi thuốc đang cầm tay đập Kinh Kha.
Bon tả hữu vội la lên:
— Xin đại vương rút gươm qua lưng! Xin đại vương rút gươm qua lưng !
Vương liền vắt tay qua lưng rút được gươm ra đánh Kính Kha chém đứt vế đùi bên trái.
Kinh Kha què rồi liền cầm trủy thủ phóng theo Tần vương, nhưng không trúng người mà lại trúng ngay vào cột.
Vua Tần lại đâm Kha. Kha bị tám vết thương.
Kha biết việc không thành tựa cột mà cười, ngồi xếp bằng tự mắng mình:
— Sở dĩ không thành là tại ta định bắt sống nó buộc nó làm giấy đoan ước đem về để báo ơn Thái tử.
Tả hữu sấn lại chém chết Kha.
Tần vương hoa mắt giây lâu rồi luận công phạt tội quần thần có mặt tại đó. Vua ban cho Hạ Vô Thư 200 dật22 vàng và phán rằng :
— Vô Thư yêu trẫm nên mới đem túi thuốc đập Kinh Kha.
Sau đó vua Tần giận nước Yên lắm, cho thêm quân sang đánh nước Triệu và hạ chiếu cho Vương Tiễn sang đánh Yên.
Tháng 10, hạ được thành Kế23 của nước Yên. Vua Yên tên là Hỷ cùng thái tử Đan đem hết tinh binh chạy sang miền Đông giữ đất Liêu Đông24.
Tướng Tần là Lý Tín 25 đuổi kịp vua Yên. Nhà vua sợ cuống quít dùng kế của vua Đại 26 tên là Gia, giết thái tử Đan để đem đầu thải tử dâng Tần vương, nhưng Tần vương vẫn thêm quân đánh Yên.
Trong 5 năm, nước Yên bị diệt, Yên vương là Hỷ bị bắt, thế là nhà Tần thôn tính xong thiên hạ.
Về sau bạn Kinh Kha là Cao Tiệm Ly vì giỏi nghề gaẩy đàn trúc mà được đến gần Tần hoàng đế. Tiệm Ly lấy đàn trúc đánh Tần hoàng để trả thù cho nước Yên. Nhưng đánh không tin rồi bị giết.
_________
1 Kinh Kha người nước Tề vào thời Chiến-quốc, sang ở nước Vệ, người Vệ gọi là Khánh Khanh. Sau lại dời sang nước Yên, người Yên gọi là Kinh Khanh. Kinh Kha ham đọc sách,đánh gươm. Thái tử Đan nước Yên rất trọng đãi y để mưu đồ hành thích Tần Vương.
2 Chu Hiếu Vương phong đất Tần cho dòng Bá – Ích/ nước Tần đóng đô ở huyện Thiên Thủy tỉnh Cam Túc ngày nay. Sau thiên-đô mấy lần, đến đời Tần Hiếu Công mới đóng ở Hàm-Dương. Thành cũ ở phía đông huyện Hàm- Dương, tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Thời chiến quốc cả khu vực từ huyện Trường An về phía Tây đều thuộc về đất Tần.
3 Nước Yên thời chiến quốc là một nước trong thất hùng (Tần, Sở/ Yên Tề/ Hàn, Triệu, Ngụy) gồm hai tỉnh Hà Bắc, Liêu Ninh và bắc bộ Triều Tiên. Sau Yên bị Tần diệt.
4 Thượng Khanh : chức quan. Thời Tem đại (Hạ, Thương, Chu) chia chức Khanh làm ba bậc: Thượng Khanh/ Trung Khanh/ Hạ Khanh. Đời Tần-Hán có chín chức Khanh (cửu Khanh). Đời Bắc Ngụy dưới chức Chánh Khanh còn đặt chức Thiếu Khanh. Cuối đời Thanh, bỏ chức Khanh đi. Thời dân quốc chức Khanh lạ chia làm ba bậc: Thượng Khanh, Trung Khanh/ Thiếu Khanh.
5 Thượng Xá : họng khách cao quí bực nhứt. Thái tử Đan nước Yên chia tân khẩch lốm ba họng : Thượng Xắ/ Trung Xá và họ Xổ.
6 Thái lao : Trâu, dê, lợn dùng để tế Trời, Đất.
7 Vương Tiễn là thượng tướng của Tần Thủy Hoàng/ giỏi dùng binh, bình định các nước Triệu, Yên, Kế. Đến khi hội nghị đánh đất Kinh, Tiễn xin sáu chục vạn quân. Tần thủy Hoàng cười là nhát, dùng Lý Tín. Tiễn cáo bịnh về nhà. Tín thua, Thủy Hoàng đến tạ lại Vương Tiễn rồi lại dùng Tiễn đi bình đất Kinh.
8 Nước Triệu là một trong thất hùng thời chiến quốc. Thủ đô là Tấn dương, thành cũ ở phía bắc huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây ngày nay. Nước Triệu gồm nam bộ tỉnh Hò Bắc, đông bộ tỉnh Sơn Tây, và khu vực bắc ngạn sông Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam hiện nay. Sau Triệu bị Tần diệt.
9 Dịch thủy: tên sông, nay ở huyện Dịch, tỉnh Hà Bắc.
10 Phàn tướng quân tức Phàn Ô Kỳ là tướng giỏi nước Tần, Ô Kỳ nhận việc tướng quốc Lã Bất Vi sai làm phó tướng cho Trường An quân (tên là Thạch Kiệu và là đích tử của Tần Trang Tương vương) đem binh di đánh Triệu. Ô Kỳ mách Thạch Kiệu biết việc Lã Bất Vi dâng vợ có nghén sẵn cho Tần Trang tương vương (Tử Sở), sau sinh ra dương kim Tần vương Chính (tức Tần Thủy Hoàng), Ô Kỳ còn quyết tâm giúp Thành Kiệu trừ Bất Vi, giết Tần vương Chính đặng phò Thành Kiệu lên ngôi. Thành Kiệu nhu nhược còn Phàn Ô Kỳ tuy sức khỏe nhưng kém mưu lược nên việc không thành. Phàn Ô Kỳ sau bị Vương Tiễn đánh thua phải bôn đào sang nước Yên. Thành Kiệu bị giết, cả họ Phàn Ô Kỳ cũng bị tru lục.
11 Đốc Kháng còn có âm là Đốc Cang. Tên một khu đất tốt của nước Yên thời chiến quốc, Nay ở phía đông nam huyện Trác, đất Kinh Triệu còn có nền Đốc Kháng.
12 Trủy thủ (trủy : cái thìa). Lưỡi đao đều giống như cái thìa, ngắn mà tiện dụng.
13 Từ Phu Nhân : Tên một người đàn ông ở nước Triệu, chứ không phải đàn bà.
14 Người mà Kinh Kha muốn chờ tên là Cấp Nhiếp. Cấp Nhiếp là tay võ nghệ siêu quần, bạn với Kinh Kha.
15 Tiếu tổ: Đời xưa con vua Hoàng Đế là Luy tổ ham đi chơi xa rồi chết đường. Người sau coi Luy tổ là thần xuất hành. Mỗi khi đi xa lại làm lễ tế gọi là lễ Tiếu tổ.
16 Cao tiệm Ly người nước Yên ở vào thời Chiến quốc, giỏi nghề gẩy đờn trúc chơi thân vói Kinh Kha. Kinh Kha hành thích Tần vương việc không thành bị giểt. Sau Cao Tiệm Ly vào đánh đàn cho Tần vương nghe, Y thừa cơ lấy đàn phang Tần vương để báo thù cho nước Yên nhưng không trúng. Rồi Ly bị giết.
17 Ngũ âm là Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Trong ngũ âm điệu Chủy đã kích thích lòng người, đến “Biến Chủy” càng khiến người nghe phải đau xót.
18 Đàn diệu “Vũ” tiếng lên bổng mà hùng tráng.
19 Trung thứ tử: Một chức quan đời Tần ngang vơi chứt Thị trung.
20 Cửu tân là một điển lễ tiếp tân khách trong hàng cửu phục, còn gọi là cửu nghi: công, hầu, bá, tử, nam, công, khanh đại, phu, sĩ.
21 Hàm Dương nay là Tây An, lỵ sở tỉnh Thiềm tây, phía tâỵ còn di tích Vị thành, Nhà Tần đóng đô ở Hàm Dương.
22 Dật: một đơn vị về trọng lượng đời cổ ăn 24 lạng tức là một cân rưỡi tàu (mỗi cân là 16 lạng?.
23 Kế thành là tên đất. Đời Hán đổi là huyện Võ Chung. Đường gọi là Kế Châu, quận lỵ quận Ngư Dương. Đến đời Minh, Thanh, thì thuộc về phủ Thuận Thiên nay là huyện Kế đất Kinh Triệu.
24 Liêu Đông: tên một quận đời Tần, nay ở phía nam tỉnh Liêu Ninh, phía đông sông Liêu Hà, vì thế có tên là Liêu đông.
25 Lý Tín là tướng nước Tần thời chiến quốc, giúp Tần thủy Hoàng diệt yên. Những tướng giỏi họ Lý dời Hán sau này như Lý Quăng, Lý Lăng là dòng dõi Lý Tín. Người thời bấy giờ kêu bằng họ Lý ở đất Lũng Tây.
26 Trước kia nước Đại ở phía bắc Thường Sơn, sau Đại bị Triệu diệt, con cháu vua Đại này đều lấy chữ Đại làm họ.
(Trích dịch Chiến-quốc sách)
Nguồn: VĂN – HÓA NGUYỆT – SAN
TẬP-SAN NGHIÊN-CỨU VÀ PHỔ-THÔNG, NĂM THỨ XVI, Số 1&2 (tháng 9&10, 1967)
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
Lời bàn của dịch giả: Quý độc giả vui lòng xem file PDF đính kèm bên dưới.
| Download file (PDF): Kinh Kha hành thích vua Tần (Tác giả: Thứ Lang) |