Một số nét VĂN HOÁ VÙNG MIỀN biểu hiện qua CUỘC THOẠI MUA BÁN ở CHỢ ĐỒNG THÁP

TRẦN THANH VÂN
(Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Đồng Tháp)

1.

     Ngôn ngữ vừa là thành tố của văn hoá, vừa là phương tiện biểu hiện văn hoá. Việt Nam là quốc gia có nền văn hoá dân tộc đậm đà bản sắc và thống nhất nhưng đa dạng, giàu sắc thái biểu hiện. Mỗi vùng miền khác nhau sẽ có nét văn hoá – ngôn ngữ riêng, mang màu sắc địa phương nằm trong nền văn hoá – ngôn ngữ chung của đất nước. Nam Bộ là một vùng đất mới, vùng phương ngữ mới, có lịch sử hình thành khoảng hơn 300 năm nhưng vùng đất này cùng với con người nơi đây đã sớm tạo nên những nét dấu ấn văn hoá – ngôn ngữ mang đặc trưng riêng. Trong các tỉnh thuộc vùng đất Nam Bộ, Đồng Tháp là một tỉnh còn bảo lưu rất nhiều đặc trưng của vùng miền Tây Nam Bộ. Từ những khảo sát, nghiên cứu các cuộc giao tiếp mua bán diễn ra ở các chợ thuộc tỉnh Đồng Tháp, chúng tôi phần nào hiểu được một số nét văn hoá vùng Nam Bộ được thể hiện trong đó. Bởi lẽ, trong việc tìm hiểu văn hoá địa phương Nam Bộ thì nghiên cứu ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày của những con người sống trên vùng đất Nam Bộ là một bộ phận quan trọng. Những nét văn hoá vùng miền được thể hiện qua khảo sát 2000 cuộc thoại mua bán được chúng tôi xem xét trên các góc độ khác nhau. Cụ thể, chúng tôi đã đứng trên góc độ ngôn ngữ, cách thức giao tiếp và sản phẩm mua bán để xem xét.

2.

     Trước hết, đứng trên góc độ ngôn ngữ để xem xét, chúng tôi thấy một trong những yếu tố làm nên đặc trưng văn hoá vùng Nam Bộ thể hiện qua các cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp, đó là sự xuất hiện đậm đặc của các yếu tố ngôn ngữ mang đặc trưng phương ngữ. Yếu tố ngôn ngữ phải kể đến đầu tiên là từ xưng hô và từ tình thái. Ngoài các từ xưng hô và từ tình thái nằm trong vốn từ vựng toàn dân, người Đồng Tháp trong giao tiếp mua bán đã sử dụng phần lớn từ xưng hô và từ tình thái mang đậm sắc thái vùng miền. Các từ xưng hô và từ tình thái khi đi vào sử dụng thường thiên về biểu hiện sắc thái biểu cảm thân mật. Cụ thể, khi sử dụng từ xưng hô, người Đồng Tháp trong giao tiếp mua bán chủ yếu sử dụng từ xưng hô có nguồn gốc từ danh từ thân tộc. Người bán và người mua ở chợ Đồng Tháp mong muốn qua cách xưng hô này để gắn kết tình cảm, thu hẹp khoảng cách với đối tượng giao tiếp trong mua bán, tạo nên sự thân mật, gần gũi. Các từ xưng hô dân tộc được sử dụng ở đây ngoài các từ bác, chú, anh, chị, em,… còn có một số lượng lớn từ xưng hô gắn với đặc trưng địa phương Nam Bộ như: má, thím, nội, ngoại, ổng, bả, chỉ,…

     (1) Cá lóc đi nội, nội mua con làm dùm nội!

     (2) Ngoại mua cho con đi!

     (3) Má mua tiếp con làm dùm má!

     Với cách xưng hô như vậy, người mua hàng thật khó để từ chối. Không những vậy, để gia tăng sự gần gũi, thân mật trong mua bán, người bán trong giao tiếp với người mua thường tự xưng mình là con trong lúc trên thực tế người bán ở vai cháu hoặc một vai khác. Như vậy, lấy con làm yếu tố trung tâm để xưng gọi không chỉ được sử dụng phổ biến trong giao tiếp gia đình của người Nam Bộ mà còn được dùng rộng rãi ngoài xã hội. Cách xưng gọi này làm cho khoảng cách tình cảm giữa người bán và người mua thêm phần đầm ấm, mật thiết. Cảm giác thân mật, gần gũi gia tăng lên rất nhiều.

     Người Đồng Tháp nói riêng, người Nam Bộ nói chung không chỉ sống tình cảm mà còn rất thoải mái, cởi mở và nhiều lúc có phần xuề xoà. Khảo sát 2.000 cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp, chúng tôi thấy trong lối xưng hô của họ không coi trọng nhiều đến ngôi thứ, vai vế, thứ bậc lớn nhỏ. Có những từ xưng hô được dùng ở mọi độ tuổi. Chẳng hạn như xưng hô theo thứ tự sinh. Người bán khi xưng hô với người mua lớn tuổi hơn, nhỏ tuổi hơn hoặc có thể ngang bằng, họ đều có thể dùng từ chỉ thứ tự sinh trong gia đình để hô. Với người mua già cũng gọi là , người mua ít tuổi cũng gọi là , người mua ngang bằng tuổi cũng gọi là mà không phải thêm các yếu tố như em Tư, chị Tư, ông Tư… Cách xưng hô này đã phản ánh chân thực thói quen sử dụng ngôn ngữ của người Nam Bộ. Đây cũng là một nét văn hoá xưng hô riêng khác hẳn với văn hoá xưng hô của người Bắc Bộ – chú trọng nhiều đến yếu tố tuổi tác, xưng hô phải tôn trọng trật tự tôn ti, thứ bậc, lớn nhỏ.

     Đứng trên góc độ ngôn ngữ để xem xét, trong giao tiếp mua bán ở chợ Đồng Tháp, chúng tôi còn thấy sự xuất hiện đậm đặc của các từ tình thái: nghen, nè, he, nghe, ngheng, hen, coi, luôn…

     (4) Chị, cá rô mập nghen chị!

     (5) Cá mới đem lên nè, ngon lắm nè!

     (6) Mua tiếp con nghe chú!

     Đây là lớp từ mang tính biểu cảm cao. Với sự xuất hiện nhiều của các từ tình thái, đặc biệt là các từ mang đặc trưng phương ngữ đã giúp tạo nên một ngôn ngữ diễn đạt đầy cảm xúc và bộc lộ được cái chân thật, nhẹ nhàng, thân mật trong cách nói năng của con người nơi đây.

     Qua lớp từ xưng hô và từ tình thái, chúng tôi phần nào thấy được cách ứng xử của con người nơi đây. Trong giao tiếp, họ luôn hướng tới biểu thị tình cảm thân mật, gần gũi, lấy yếu tố tình cảm làm trọng. Có lẽ vì vậy mà thông qua cách nói năng của người Nam Bộ, chúng ta cảm nhận được sự chân thật, mộc mạc. Nguyên tắc “mua bán thiếu chịu” được thể hiện trong giao tiếp mua bán của người Đồng Tháp có lẽ cũng bắt nguồn từ cách ứng xử lấy tình cảm làm trọng trong cuộc sống của họ. Đây cũng là điều khác hẳn với văn hoá mua bán của người miền Bắc, đó là “tiền trao cháo múc”, không có tiền thì không giao hàng. Sống lấy tình cảm làm đầu nên trong giao tiếp mua bán ở chợ Đồng Tháp, người bán luôn muốn giữ gìn những mối quan hệ với những khách hàng mà họ cho là “khách ruột”, “khách quen”.

     Bên cạnh lớp từ xưng hô và từ tình thái, trong các cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp còn xuất hiện lớp từ mang tính biểu cảm, thể hiện rõ tính địa phương, giàu sắc thái đánh giá, ít tìm thấy ở vùng miền khác. Đó là các từ ngữ diễn đạt mức độ cao như: ngon thấy ghê, ngon quá trời, rẻ thấy mồ, mắc gần chết, mắc thấy ớn, bự bành ki, mập chảy mỡ, chua lét vàng khè, ốm nhom ốm nhách

     (7) Cá ốm nhom ốm nhách không có giá đó đâu bà ơi!

     (8) Xoài chua lét bớt đi!

     (9) Mập chảy mỡ mà bảo là lóc đồng thứ thiệt!

     (10) Mắc thấy ớn!

(11) Mắc gần chết!

     Lớp từ ngữ này được sử dụng rất nhiều trong các tham thoại mua bán. Nó góp phần phản ánh cách đánh giá của người Nam Bộ nói chung, người Đồng Tháp nói riêng và thông qua đó cũng phản ánh tính cách của người Nam Bộ là luôn hướng về cái lớn, muốn nhấn mạnh những gì mình yêu thích hoặc chán ghét thì cũng biểu hiện thái độ một cách rõ ràng, dứt khoát. Khi diễn đạt tính chất của một sự vật, hiện tượng, họ không thích dùng nhiều những từ ngữ trung tính, những lời lẽ nhàn nhạt, mà chuộng dùng những từ ngữ tạo được ấn tượng mạnh ở người tiếp nhận.

     Cùng với từ xưng hô, từ tình thái và các từ mang tính biểu cảm, chúng tôi còn bắt gặp từ chỉ đơn vị đo lường mang đặc trưng riêng. Nếu chỉ dùng cân, lít, kí để tính là chuyện bình thường nhưng với những con người nơi đây, nhất là ở các vùng nông thôn, người ta vẫn còn giữ đơn vị đo lường là “chục đủ đầu” để tính đếm một số mặt hàng như: trái cây, bắp, hột (trứng) vịt… Chục đủ đầu có số lượng biến thiên từ 12, 14, 16, 18. Cách tính đếm này đã thể hiện tính phóng khoáng, rộng rãi của người dân Nam Bộ, đồng thời cho thấy một vùng sông nước giàu sản vật hoa trái. Tính phóng khoáng, rộng rãi đó còn thể hiện ngay trong cuộc thoại mua bán ở phần kết thoại. Sau khi người mua đồng ý mua hàng, lúc giao hàng cho người mua, người bán còn cho thêm người mua một ít hàng nữa. Dù món hàng người bán cho thêm không nhiều, chỉ một ít hành ngò (mùi), một ít rau thơm, một ít dưa leo hay vài ba trái ớt… nhưng đó là hành động tự nhiên, họ cảm thấy rất vui vẻ, thoải mái.

3.

     Đặc trưng văn hoá vùng miền còn thể hiện qua cách thức giao tiếp. Kết quả khảo sát tư liệu từ 2.000 cuộc thoại mua bán cho thấy: cả người mua và người bán đều chọn lối giao tiếp trực tiếp nhiều hơn giao tiếp gián tiếp. Cụ thể, hành động mặc cả trực tiếp xuất hiện với tần số cao hơn hành động mặc cả gián tiếp. Lối chê trực tiếp cũng nhiều hơn chê gián tiếp. Hành động từ chối trực tiếp cũng được lựa chọn nhiều hơn hành động từ chối gián tiếp. Cùng với việc ưa dùng cách nói trực tiếp, họ còn dùng các biểu thức ngôn ngữ rất ngắn gọn. Chẳng hạn, dùng từ nhiêu thay thế cho kết cấu hỏi bao nhiêu. Trong cách nói của họ có kiểu rút gọn: trong + ấy → trỏng; bên + ấy → bển; từ hôm ấy đến hôm nay → hổm rày… Ngay cả hiện tượng mặc cả là một quá trình diễn ra khá phức tạp trong các cuộc giao tiếp mua bán thì ở chợ Đồng Tháp cũng diễn ra ngắn gọn và kết thúc nhanh chóng. Cuộc thoại mặc cả một lần chiếm số lượng nhiều hơn cuộc thoại mặc cả nhiều lần. Các tham thoại mặc cả ngắn gọn, ít mang tính lập luận. Phần kết thúc cuộc thoại mua bán cũng rất ngắn. Cuộc thoại mua bán kết thúc bằng các hành động ngôn ngữ, tuy có được sử dụng nhưng không nhiều. Tất cả những điều đó đều thể hiện thói quen ứng xử của người dân nơi đây: bộc trực, thẳng thắn, thích sự ngắn gọn, ít rào đón, đưa đẩy. Đây là một nét văn hoá ứng xử riêng khác với văn hoá ứng xử trong mua bán ở chợ của người miền Bắc. Người miền Bắc thường có thói quen sử dụng hành động chào hàng mời mua hàng, hỏi giá hàng, giới thiệu hàng với các tham thoại dài, mang tính lập luận, tạo thành các biểu thức ngữ vi đầy đủ thành phần, có khi rào trước đón sau dài dòng để làm vừa lòng người mua.

4.

     Nhắc đến chợ Đồng Tháp, chỉ qua giao tiếp mua bán nhưng người ta cũng ít nhiều hình dung được về Đồng Tháp. Đó là một vùng sông nước mênh mông, ruộng đồng trải rộng, đất đai phì nhiêu. Chính điều này cũng góp phần thể hiện văn hoá miệt vườn, văn hoá sông nước vùng Nam Bộ. Chợ thường nằm ở các ngã ba, ngã tư sông hoặc ven sông, ven đường (chợ chổm hổm). Các mặt hàng bày bán ở chợ ngoài mặt hàng chung như: giày dép, quần áo, hàng nhựa, hàng thịt… còn có một số lượng rất lớn các mặt hàng mang tính chất vùng miền. Đó là các loại trái cây (sản phẩm thiên nhiên, miệt vườn) và cá, tôm, lươn, cua… (sản phẩm vùng sông nước). Các mặt hàng này rất đa dạng về chủng loại. Nhắc đến cá có rất nhiều tên gọi như: cá buôi, cá chốt, cá kèo, cá linh, cá lưỡi trâu, cá he, cá dãnh, cá ngát, cá dứa, cá neo, cá hú, cá tra, cá bông lau, cá chèn… Nhắc đến quả cũng có hàng trăm tên gọi như: quả sầu riêng, quả măng cụt, quả chôm chôm, quả sơ ri, quả thốt nốt, quả boòng boong… Sự xuất hiện đậm đặc các từ ngữ gọi tên các mặt hàng thuộc sản phẩm miệt vườn và sản phẩm vùng sông nước được bày bán ở chợ Đồng Tháp như vậy đã góp phần thể hiện dấu ấn văn hoá địa phương của miền đất này. Thông qua tên gọi các mặt hàng, chúng ta hiểu rõ hơn về văn hoá vật chất của người Đồng Tháp nói riêng và người Nam Bộ nói chung.

5.

     Tóm lại, khảo sát các cuộc thoại mua bán của cư dân Đồng Tháp nói riêng và cư dân Nam Bộ nói chung, qua ngôn ngữ giao tiếp mua bán tự nhiên giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số nét đặc trưng văn hoá vùng miền được thể hiện trong đó. Đó là sự xuất hiện đậm đặc các yếu tố ngôn ngữ mang đặc trưng phương ngữ, là lối ứng xử mang đậm bản sắc văn hoá của cư dân vùng sông nước: luôn lấy tình cảm làm trọng, sống cởi mở, phóng khoáng, ít dài dòng đưa đẩy và nét văn hoá miệt vườn, văn hoá vùng sông nước cũng được thể hiện rõ trong các cuộc thoại mua bán.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Thêm, Những vấn đề văn hoá học, lí luận và ứng dụng, NXB Văn hoá – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2013.

2. Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007.

3. Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.