Nghiên cứu về Kinh tế và Bản sắc của người H’mông ở Việt Nam (Phần 1)
Jean Michaud
Người dịch: Phan Ngọc Chiến
Người hiệu đính: Lương Văn Hy
Tôi sẽ không cố gắng giải nghĩa người H’mông là ai trong bài viết này, ngay cả người H’mông ở Việt Nam, bởi vì đó là một việc làm không thực tế và có lẽ mang nặng những giả định về bản chất. Thay vào đó, tôi sẽ cố gắng khảo sát một vài khía cạnh về bản sắc của người H’mông bằng cách giải mã và diễn giải những hoạt động kinh tế của họ. Như Godelier đã viết (1976:528), có hai cách tiếp cận để mô tả và giải thích cơ cấu kinh tế, một cách quy chiếu về kinh tế chính trị, và cách kia là về lịch sử kinh tế. Để giải thích những vấn đề hiện nay tốt, thì chúng ta cần đi ngược dòng thời gian để có thể xem xét những cách hành xử hay tập quán của người H’mông trong bối cảnh của chúng. Nền kinh tế H’mông sẽ được xem xét qua một địa điểm cụ thể để chúng ta có thể xác định được những giai đoạn mà nền kinh tế này đã đi qua để đến được tình trạng hiện nay, và mục đích của tôi là tìm được những cái liên tục qua thời gian.
Trường hợp của hai nhóm người H’mông ở khu thung lũng cao nhất ở phía Bắc Việt Nam được giới thiệu ở đây, một nhóm sinh sống ngay ở phía Tây của sông Hồng, nhóm kia ở phía Đông, đều thuộc tỉnh Lào Cai, là ranh giới của Việt Nam và Trung Quốc (xem Bản đồ 1). Hai vùng này nằm ở những vùng núi cao nhất Việt Nam và nằm trong vùng cao nguyên Bắc Bộ, giao tiếp với vùng lãnh địa nói tiếng Thái. Từ ít ra là hai thế kỷ nay, hai vùng này đã có những nhóm người H’mông khá lớn cư trú. Sau khi định cư ở đó, người H’mông đã nằm trong hệ thống chính trị của những lãnh tụ người Thái vốn đã cai quản vùng núi này từ nhiều thế kỷ, nhất là người Thái trắng ở vùng Sip Song Châu Thái ở phía Tây sông Hồng, và người Tày, Nùng ở phía Đông sông Hồng. Trong nghiên cứu của mình về những hệ thống chính trị nói tiếng Thái ở miền Bắc Đông Dương, Condominas (1976) cho thấy là những lãnh địa phong kiến này có kết nối về mặt lịch sử qua một hệ thống cống nạp, hầu hết ở vai trò chư hầu của các vương quốc vùng đồng bằng (Kinh, Thái Lan, Miến Điện, Lào và Trung Quốc). Ở miền Bắc Việt Nam, những lãnh chúa người Thái cạnh tranh với những lãnh chúa nói tiếng Thái khác (Lue, Yuan, Nùng, Zhuang). Nhưng tất cả các lãnh chúa này đòi cống nạp của những chư hầu của họ sống ở những đỉnh nằm gọn trong vùng lãnh địa của họ. Ưu thế về mặt tổ chức quân sự, dân số đông hơn, và vị trí thương mại giữa vùng núi cao và vùng đồng bằng của những muang phong kiến nói những ngôn ngữ Thái này đã tạo điều kiện cho hệ thống cống nạp phong kiến này và bảo đảm cho họ nắm giữ một vị trí chủ chốt kiểm soát tất cả những buôn bán giữa vùng cao và thấp, gồm cả buôn bán thuốc phiện với lợi nhuận rất cao.
Trước tiên, để hiểu điều kiện lịch sử của vùng, và tác động ngày nay của những điều kiện này đến kinh tế người H’mông, chúng ta sẽ tìm hiểu lịch sử cư trú của vùng và phác họa xem nền kinh tế của vùng cao nguyên đã được hình thành ra sao và đã bị chủ nghĩa thực dân tác động như thế nào. Sau đó chúng ta sẽ đề cập đến ảnh hưởng của chế độ tập thể xã hội chủ nghĩa, tiếp nối bởi sự mở rộng của thị trường tự do từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Chúng ta cũng thảo luận về những tác động của việc vùng này bị/được kết hợp về mặt hành chính vào chế độ thực dân Pháp, và vào nhà nước cách mạng, và lưu ý đến những ảnh hưởng hay thay đổi khi những người nông dân và lái buôn người Kinh tràn đến từ những vùng đồng bằng đông dân trong quá trình di dân vào những năm 1960 (xem Hardy, 2002). Hoàn cảnh của hai nhóm người H’mông ở phía Bắc Việt Nam sẽ được phân tích qua ba giả thuyết, mỗi giả thuyết sẽ đưa ra các câu trả lời cho một loạt các câu hỏi cốt yếu của bài viết này: Cộng đồng người H’mông đã kiên trì vượt qua mọi biến động chính trị và kinh tế như thế nào? Tại sao người H’mông vẫn cho rằng việc duy trì hệ thống kinh tế của họ là điều họ đáng làm, trong khi những làn sóng lịch sử đã cuốn trôi đi biết bao bộ lạc, vương quốc, đế chế và các nền cộng hòa? Và trên hết, nền văn hóa đóng vai trò gì trong sự kiên trì bền bỉ này?
1. Cơ cấu Kinh tế của người H’mông ở miền Bắc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Để bắt đầu, chúng ta có thể nói ngắn gọn rằng trước thời gian tiếp xúc với người châu Âu vào cuối thế kỷ 19, những người dân vùng cao nguyên này tượng trưng cho một mẫu chuẩn về cư dân “bộ tộc” (“tribal”) mà Sahlins (1968) nổi danh từng miêu tả. Họ đa phần là những người làm rẫy, chẳng hạn như là những người du canh đi khai khẩn đất hoang và luân canh, tuy nhiên cũng có một số ít trong số họ là những nông dân định canh. Trong cả hai trường hợp thì việc buôn bán đều đóng vai trò quan trọng, đứng thứ hai trong cơ cấu kinh tế của họ sau chỗ dựa chính là nông nghiệp, săn bắn và hái lượm các sản vật trong rừng. Một đóng góp quan trọng trong hoạt động trồng trọt truyền thống của họ được xuất hiện vào thế kỷ XIX khi cây thuốc phiện trở thành hoạt động trồng trọt chính của một số lớn người dân. Bất chấp tính thương mại cao và có phần bất bình thường của cây trồng này, về cách tổ chức kinh tế chung của họ, nhóm cư dân H’mông này vẫn dựa vào mô hình sản xuất hộ gia đình, là mô hình đặt trọng tâm vào nhu cầu tái sản sinh cơ bản (hay còn gọi là sinh kế) trong đó “số miệng” cần phải nuôi và số người có thể lao động trên đồng ruộng quyết định mức độ khối lượng sản phẩm đầu ra. Trong bối cảnh nền kinh tế tự cung tự cấp như vậy, cơ cấu lao động liên tục biến đổi trong mỗi hộ gia đình, phụ thuộc vào sự cân bằng giữa hai thông số nêu trên, và bản thân những con số này cũng tự thay đổi để tuân theo chu kỳ sống của mỗi gia đình. Chính điểm cân bằng này, tuy dao động không ngừng nhưng không có những mâu thuẫn, đảm bảo cho sự ổn định của hệ thống và đảm bảo cho sự thành công như đã từng được Chayanov (1925) đúc kết thành lý luận nổi tiếng.
Những yếu tố quan trọng khác về tổ chức kinh tế của người H’mông sẽ trở nên sáng tỏ khi tôi bắt đầu trình bày lịch sử xâm nhập của nhóm người này vào nền kinh tế vùng của miền Bắc Việt Nam.
1.1. Các vùng cao nguyên ở miền Bắc Việt Nam vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến Việt Nam (giữa thế kỷ XIX)
1.1.1. Cấu trúc kinh tế vùng cao nguyên trước khi bị thuộc địa hóa
Khi đặt chân đến vùng cao của Bắc Kỳ, nay là miền Bắc Việt Nam, người Pháp thấy có nhiều nhóm người sinh sống trên vùng thung lũng cao của các sông như sông Đà, sông Lô và sông Hồng. Những người dân vùng cao này đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi những vùng chuyển tiếp của khối núi Đông Nam Á thành một không gian với những giao tiếp xã hội, cũng giống như người Punan ở vùng sâu tại đảo Borneo mà Rousseau đã mô tả (1990:243). Họ chiếm giữ những khu đất cao mà chắc sẽ bị bỏ hoang nếu không có họ, chính vậy mà họ đã góp phần vào việc duy trì mối quan hệ giữa các cộng đồng trung du láng giềng và cộng đồng vùng đồng bằng, những người mà nếu không có họ, sẽ chỉ thi thoảng mới mạo hiểm đi qua vùng này.
Phần lớn những người láng giềng của những người dân vùng cao này là nông dân định canh nói tiếng Thái, ở giữa [vùng cao và vùng đồng bằng] và tổ chức thành những lãnh địa phong kiến, mang phong cách Muang (Condominas, 1976). Những thủ lĩnh người Thái ở vùng trung du có nhiều lý do để cho phép những cư dân mới định cư tại các vùng núi cao, và thậm chí còn mời họ định cư ở đó (có điểm tương đồng với tình hình ở Borneo). Về mặt lợi ích kinh tế, những dân nhập cư này có thể cung cấp cho những lái buôn người Thái thêm sản phẩm rừng núi cao với giá lao động rẻ hơn, những lái buôn này mua và bán lại những lâm sản của vùng núi cao đó kiếm lời ở các chợ vùng trung du hoặc bán cho các nhà buôn từ vùng đồng bằng. Về mặt an ninh, những người dân vùng cao có vai trò làm lính gác phạm vi ngoài thái ấp của người Thái nơi họ báo trước được sự tấn công từ bên ngoài và giữ vai trò phòng thủ phía ngoài – nếu những người lính gác này không muốn đào tẩu. Về mối quan hệ quyền lực, trong người Thái, tầng lớp quý tộc/trưởng giả thừa kế quyền lãnh đạo xã hội nông nghiệp và thống trị các vùng trung du – cao nguyên, thung lũng và lòng chảo. Họ có khả năng định đoạt quyền tham gia vào hầu như mọi giao dịch buôn bán đối với các thị trường lớn ở vùng châu thổ. Một trong nhiều thí dụ là dòng họ Đèo ở Lai Châu, mà Lefèvre – Pontalis (1902) đã thường qua lại và đã mô tả khi thám hiểm vùng cao của Đông Dương. Những lãnh tụ họ Đèo đòi hỏi cống nạp, lao động không công, và nhiều loại thuế. Họ mở những mạng lưới thương mại đến những nơi xa xôi và duy trì một dòng chảy hàng hóa không ngừng với những chợ người Kinh trên dòng sông Đà và sông Lô. Nhiều người truyền giáo, thám hiểm và quản lý hành chính người Pháp kể lại rằng một số dân trên núi, đặc biệt là nhóm người nói tiếng Môn – Khmer, bị bắt phải phụ thuộc kinh tế gần như hoàn toàn vào những thủ lĩnh người Thái và người Trung Quốc, những kẻ coi họ như là nguồn lao động không công và đôi khi như nô lệ của mình. Chỉ những người dân vùng cao nóng nảy nhất như người H’mông, hay những người sở hữu những sản phẩm ưa chuộng nhất, mới hy vọng không phải chịu thông lệ áp bức này (tham khảo thêm Diguet, 1908).
Người H’mông có ba cấp độ trao đổi khá rõ rệt. Nếu chúng ta mô tả theo thuật ngữ đơn giản nhưng rất thích hợp của Marshall Sahlins (1968:84-86), khi người H’mông trao đổi giữa những tộc họ H’mông hay những nhóm đồng minh, thì họ theo mô thức trao đổi qua lại đoàn kết (generalized reciprocity), không được phép kiếm lời và chỉ để duy trì những quan hệ xã hội thiết yếu. Cách hỗ tương qua lại này diễn ra dưới dạng trao đổi hàng hóa trong những dòng chảy nối tiếp nhau và bổ sung cho nhau: lâm sản vùng này được trao đổi với lúa gạo vùng khác; gà vịt được dùng để đổi lấy những hàng hóa hay dịch vụ đặc biệt như súng hay cái bùa của một thầy pháp (shaman) nhiều quyền lực. Sự trao đổi thành viên qua hôn nhân giữa các tộc họ là điều thường xuyên xảy ra. Còn việc trao đổi với những người H’mông không có họ hàng, người thuộc các tộc người khác, và nhất là người Thái và người Hoa sống ở quanh họ, thì đấy là trao đổi cân đối (balanced reciprocity): trong hình thái trao đổi này, người ta có thể kiếm lời nhưng ước muốn duy trì quan hệ lâu dài với những đối tác thương mại cũng tác động đến việc kiếm lời. Còn trong trao đổi với những đối tác không có quan hệ họ hàng ở những nơi xa xôi, thì quan hệ qua lại có thể “tiêu cực” (negative reciprocity): việc kiếm lời càng nhiều càng tốt, ngay cả hình thức “ăn cắp”, được chấp nhận vì người ta không kỳ vọng tiến xa hơn trong quan hệ buôn bán. Ba hệ thống trao đổi rạch ròi ở miền núi này là một phần của một hệ thống quan hệ thương mại rộng lớn hơn mà trong đó người Thái ở vị trí mạnh hơn và kiếm lời từ những cuộc trao đổi với đối tác vùng đồng bằng bằng cách khai thác khả năng sản xuất của những người ở vùng cao. Những người này không nghiêng về giải pháp bỏ đi nơi khác vì họ cũng hưởng lợi từ quan hệ với người Thái trong một chừng mực nào đó. Nhờ có mạng lưới thương mại vươn tận đến Luang Phrabang và Hà Nội, người Thái thông báo cho những người khác sống ở vùng cao về những sản phẩm cụ thể nào được giá ở vùng đồng bằng, chẳng hạn như thuốc phiện, gỗ quan tài, cũng như những thực vật và động vật khác của vùng núi cao. Những sản phẩm này được trao đổi để lấy những món hàng khó tìm ở vùng núi, trong đó có muối, thuốc súng, kim loại, hàng hóa được chế tạo và mang đến từ những chợ xa xôi. Thông tin hữu hiệu đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống buôn bán này, và những ngôn ngữ được sử dụng phổ biến như các thứ tiếng Hoa, Thái, Việt đóng một vai trò giúp cho hệ thống tồn tại.
Mặc dù có rất nhiều ấn phẩm tiếng Hoa với những phân tích hẹp và khá kinh điển theo hướng Mác-xít, những lý luận về những hoạt động kinh tế của người H’mông gốc Hoa vẫn đang phát triển. Chẳng hạn như câu hỏi về sự xuất hiện của tiền và việc người H’mông sử dụng tiền cần được làm sáng tỏ. Những người thực dân Pháp đến Đông Dương có ghi chép là khi họ tiếp xúc với người H’mông thì bạc cũng như nhiều loại tiền địa phương cùng được dùng trong những mạng lưới trao đổi ở Bắc Bộ. Trước đó, thì chắc chắn là những người di dân H’mông đã dùng tiền Trung Quốc vốn đã lưu hành từ lâu ở vùng núi cao. Vấn đề thuốc phiện, có lẽ là loại cây được người H’mông trồng để buôn bán nhiều hơn cả, cũng làm nổi lên vài câu hỏi lý thú.
Trong bối cảnh thiếu hụt các bằng chứng trực tiếp, được ghi chép, dựa vào tài liệu khái quát về xã hội sống dựa vào nghề làm vườn, chúng ta có thể hình dung những giao dịch đầu tiên giữa người H’mông là dựa trên sự trao đổi hàng hóa và chỉ gồm các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm thông thường từ rừng. Ví dụ như để trả cho khoản tiền lớn nhất trong cuộc đời của mình, người con rể tương lai (và gia đình phía anh ta) biếu tặng người bố vợ tương lai (và gia đình vợ) một lượng những sản vật thông thường này và có thể cả sức lao động trong một quãng thời gian được thỏa thuận. Sau này, vào một khoảng thời gian không xác định được chính xác, việc sử dụng tiền xu bằng đồng và bằng thỏi bạc đã được đưa vào các hoạt động mua bán, trao đổi, việc này đạt được nhờ các hoạt động thương mại với các cư dân láng giềng và tượng trưng cho một trong những hình thức sử dụng tiền đầu tiên, nếu như đó không phải là hình thức sử dụng tiền đầu tiên mà người H’mông dùng để trao đổi.
Tuy nhiên, theo ý kiến của một vài chuyên gia về dân cư vùng núi, chính sự trồng trọt cây thuốc phiện và sự buôn bán nguyên liệu dẫn xuất là cây thuốc phiện này đã dẫn đến sự thay đổi sâu sắc và lâu dài trong tổ chức kinh tế của người H’mông. Chúng ta không thể chỉ trong một vài câu chữ mà có thể tóm tắt hết lịch sử về sự phát triển ở quy mô lớn của nền trồng trọt cây thuốc phiện trên các vùng cao của vùng Tây Nam Trung Quốc, đã bắt đầu có từ khoảng thế kỷ thứ XVIII và phát triển nhanh chóng vào nửa cuối thế kỷ XIX (so sánh với Dikötter và các tác giả khác, 2004). Nghiên cứu này của tôi tập trung vào thực tế là cơ hội này đã được nhiều nhóm cư dân vùng cao nắm bắt nhanh chóng bởi sự phù hợp của nơi họ sinh sống với loại cây trồng nhạy cảm này cũng như mạng lưới trao đổi trong vùng của họ thuận lợi cho sự buôn bán sản phẩm này (so sánh với Chouvy, 2002). Đối với người H’mông, hoạt động kinh tế của họ dựa vào việc trồng trọt và trao đổi ở quy mô nhỏ lượng sản phẩm dư thừa và đòi hỏi việc sử dụng những loại tiền địa phương khác nhau ở mức độ vừa phải. Nền kinh tế H’mông sau đó đã hợp nhất cây trồng có tính thương mại cao này, là cây trồng mà trong trường hợp không bán thì người sản xuất không thể dễ dàng sử dụng được, nhưng lại hoàn toàn có thể chuyển đổi thành tiền mặt (vì cầu thường lớn hơn cung), và có lãi suất rất lớn. Một cây trồng, có thể nói là có giá trị sử dụng thấp đối với người trồng, nhưng lại có giá trị cao khi trao đổi. Các tác động của việc sản xuất và buôn bán thuốc phiện tới kinh tế hộ của người H’mông là đáng kể và chúng đã làm thay đổi sự cân bằng về văn hóa và toàn bộ các hoạt động liên quan tới nó (Geddes, 1976; Culas, 1999).
Thanh toán bằng bạc trở thành phương thức được ưa chuộng hơn để mua bán thuốc phiện, đồng thời bạc cũng trở thành hình thức tích lũy của cải được ưa chuộng hơn khi kén vợ gả chồng. Điều này cho phép giả định rằng, một lần nữa không có minh chứng, bạc dù đã được lưu hành từ vài thế kỷ qua ở miền núi, cuối cùng đã trở thành một phương thức trao đổi chính của vùng miền núi chính là nhờ sự xuất hiện của cây thuốc phiện – như là loại cây trồng ra tiền. Khoảng cuối thế kỷ XVIII, sự thịnh vượng của hộ (do loại cây này đem lại) đã đòi hỏi một đồng tiền hiệu lực hơn và cuối cùng đã thu hút được một khoản bạc lớn lên vùng núi. Các hộ gia đình và dòng họ H’mông nào thành thạo trong sản xuất thuốc phiện (có kiến thức, đủ lao động cần thiết, quyền sử dụng đất, bảo vệ cẩn thận khỏi trộm cướp, v.v.) thì tích lũy được của cải, luôn được giữ bằng cách cất giấu, chôn vùi dưới đất đồng xu và thỏi bạc, và phô trương làm đồ trang sức cá nhân, hoặc làm vốn đầu tư dưới dạng đất trồng và vật nuôi. Những hộ gia đình này đồng thời có thể lấy thêm nhiều vợ, thành những gia đình đa thê vương giả và đông con. Robert Cooper (1984), khi nghiên cứu về người H’mông ở Thái Lan vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, vào thời điểm bước ngoặt khi mà sự sản xuất thuốc phiện ở quy mô lớn không thể tiếp tục được nữa do luật pháp nhà nước trở nên chặt chẽ, đã tuyên bố rằng, xét trên tính lịch sử, thuốc phiện chính là phương tiện góp phần du nhập một hình thức tiền tệ riêng cho hoạt động kinh tế của người H’mông, mà sau đó chính là nguyên nhân của sự xuất hiện các tầng lớp xã hội sơ đẳng. Ông đã chứng minh một cách rất thuyết phục rằng ở miền Bắc Thái Lan, các gia đình H’mông do đã tích lũy được vốn nhờ buôn bán thuốc phiện, nên khi việc sản xuất này bị kiểm tra tăng cường, đã có thể chuyển đổi thành công sang các hoa lợi khác như khoai tây hoặc bắp cải, vì vậy có điều kiện tiếp tục làm giàu. Đáng chú ý trong thảo luận của chúng ta là, nguồn của cải này luôn được chuyển hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ một lượng không đáng kể được chuyển sang dành cho việc tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp mới.
1.1.2. Hai nhóm người địa phương từ tỉnh Lào Cai
Ở phần này, chúng ta phân tích một cách sâu sắc hơn về những nhóm H’mông địa phương, là những người có thể tiêu biểu hơn cho di sản lịch sử này. Những lái buôn người Việt, Quảng Đông, Vân Nam, trong nhiều kiểu kết hợp khác nhau, đã có mặt từ xa xưa tại các vị trí chiến lược, nơi những dòng sông lớn chảy từ các vùng cao nguyên ở miền Bắc Việt Nam gặp nhau. Các tài liệu lưu trữ và khảo sát đương thời vào đầu thế kỷ XX nêu rằng những nhà buôn này muốn thu mua cả gỗ hóa thạch và gỗ thẳng dùng làm quan tài – chủ yếu là các cây vân sam, cây bách, cây thông trắng và thông đỏ – cũng như một số lâm sản động, thực vật như các loại chim cá, các loại cây thuốc, gạc hươu hoặc mật gấu (Dupuis, 1879; Diguet, 1908; Abadie, 1924; và đặc biệt Savina, 1924:202, 221-2). Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XIX, thuốc phiện chính là loại cây trồng thương mại quan trọng nhất ở vùng núi, nên nó đã được phổ biến rộng rãi. Những nhà buôn trên có mặt ở nhiều địa phương (xem Bản đồ 1): về phía Tây các thị trấn của Mường Thanh (Điện Biên Phủ), dọc biên giới với Lào và Mường Lay (Lai Châu) trên sông Đà, ở trung tâm của Sip Song Châu Thái (lãnh thổ của người Thái trắng); ở trung tâm của các chợ lớn ở Yên Bái và Lào Cai trên sông Hồng; về phía Đông của Hà Giang và Tuyên Quang trên sông Lô; cả ở Cao Bằng trên sông Bằng Giang. Đặt địa bàn ở đây với mục đích chính là để mua các sản phẩm này để đổi lấy những hàng hóa mang đến từ vùng đồng bằng, các thương gia người Việt, Quảng Đông và Vân Nam duy trì việc buôn bán với những cư dân vùng cao thông qua người Thái của vùng đệm. Một số lượng lớn các điểm giao dịch phụ được trải rộng giữa các địa bàn thương mại lớn, gồm có các thị trấn nhỏ ở Sa Pa và Bắc Hà, những nơi hiện đã trở thành trung tâm hành chính của hai huyện cùng tên của tỉnh Lào Cai, là nơi mà chúng ta sẽ thảo luận ngắn gọn về chúng dưới đây.
Ở huyện Sa Pa, nằm ở phía Tây sông Hồng và ở huyện Bắc Hà – nằm ở phía Đông của sông Hồng, người H’mông, đa phần dùng tiếng bản địa là H’mong Leng, dường như đã chọn lựa các chiến lược chuyên môn hóa khác nhau từ trước đó. Như đã nêu trên, hoạt động chính của kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp của người H’mông ở Sa Pa được dựa vào cây lúa nước ngay từ những năm đầu khi họ chuyển đến, kết hợp với nhu cầu thấp về hàng hóa từ bên ngoài, không kể những thứ đã đề cập đến ở trên, đã cho phép bớt lệ thuộc vào thị trường. Tuy vậy ở Bắc Hà, chủ yếu do vị trí nằm trên tuyến đường thương mại từ Vân Nam đến Bắc kỳ vượt qua các nhánh của sông Lô (Bonifacy, 1904), các đồn điền trồng cây ăn quả, rồi bán ở chợ trong vùng. Việc kinh doanh sản xuất rượu ngô cùng với thuốc phiện là yếu tố duy trì vị trí của nhóm phía Đông sông Hồng trong mạng lưới các chợ cấp khu vực và cấp quốc gia. Hai cộng đồng này, tuy chỉ cách nhau khoảng một trăm cây số nhưng nằm trên hai lưu vực tiêu nước khác nhau – Sa Pa nằm trong lòng chảo sông Hồng, Bắc Hà nằm trong lòng chảo sông Lô – do đó bị cuốn theo các sức hút kinh tế khác biệt và các thị trường cũng như bạn hàng buôn bán khác nhau. Các bạn hàng từ lâu đời của phía Sa Pa là người Thái trắng của Sip Song Châu Thái và đại diện của họ; phía Bắc Hà, vai trò này được thay bằng người Thổ (nay gọi là người Tày) và người Nùng, là hai nhóm khác thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Những ảnh hưởng khác nhau trong hai vùng đóng vai trò quan trọng trong các diễn biến lịch sử tiếp theo liên quan đến quá trình giành độc lập của đất nước (McAlister, 1967; Michaud, 2000) và đến sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường vào thời kỳ Đổi mới.
Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam:
Những cách tiếp cận nhân học – Quyển 1: Môi trường và Kinh tế.
Ban Biên soạn: 1. GS.TS. Lương Văn Hy 2. GS.TS. Ngô Văn Lệ
3. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiệp 4. PGS.TS. Phan Thị Yến Tuyết
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)