NGỮ NGHĨA _ VĂN HOÁ của các THÀNH TỐ chỉ ĐỘNG VẬT trong THÀNH NGỮ TÀY _ VIỆT

TRỊNH THỊ HÀ
(ThS, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam)

1.

     Thành ngữ chứa các thành tố chỉ động vật là mảng đề tài phong phú và lí thú, thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) [11], động vật được định nghĩa “d. Sinh vật có cảm giác và tự vận động được. Người, thú, chim, sâu bọ đều là động vật”. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, để phù hợp với hướng nghiên cứu của mình, chúng tôi chủ trương chia động vật ra thành hai nhóm: (1) nhóm chỉ con người; (2) nhóm chỉ các động vật khác như thú, chim, sâu bọ,… Chúng tôi thống nhất với tên gọi chung của nhóm (2) là nhóm chỉ động vật. Thành ngữ có chứa thành tố chỉ động vật (thành ngữ động vật) được hiểu là những thành ngữ mà trong cấu tạo của chúng có những từ ngữ chỉ con vật, ví dụ, thành ngữ Tày: nả lình căng (mặt đười ươi), pấu pí xu vài (thổi kèn vào tai trâu), ma háu dạng (chó sủa trăng); thành ngữ Việt: khoẻ như trâu, nước đổ đầu vịt, đầu voi đuôi chuột,… Những từ ngữ như: lình căng (đười ươi) vài (trâu), pất (vịt), ma (chó), voi, chuột,… được gọi là thành tố chỉ động vật.

     Đây là nhóm thành ngữ phản ánh chiều sâu văn hoá, thể hiện nét độc đáo trong tư duy, trong cách nhìn, cách cảm và lối nghĩ của mỗi dân tộc đối với hiện thực khách quan. Cùng chỉ một khái niệm, một hiện tượng, một trạng thái tình cảm,… nhưng mỗi dân tộc lại có cách lựa chọn những thành tố động vật khác nhau để diễn đạt, góp phần tạo nên nét tương đồng và dị biệt giữa nền văn hoá này với nền văn hoá khác. Chính vì vậy, thành ngữ nói chung, nhóm thành ngữ này nói riêng được coi là tấm gương phản chiếu giá trị ngữ nghĩa – văn hoá và quan niệm nhân sinh độc đáo trong tâm hồn của người dân lao động.

2. Ngữ nghĩa văn hoá của các thành tố chỉ động vật trong thành ngữ Tày – Việt

     2.1. Tên gọi động vật là đơn vị từ ngữ nói chung, có ý nghĩa văn hoá nhất định. Các con vật với tên gọi của nó đã đi vào đời sống ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất, ngày càng trở nên phong phú về mặt nhận thức và biểu hiện. Nguyễn Thúy Khanh [7] cho rằng thế giới động vật gắn bó, gần gũi với con người từ thuở khai thiên lập địa và mỗi tên gọi động vật thường gợi lên trong ý thức của người bản ngữ một sự liên tưởng nào đó, gắn liền với những thuộc tính, đặc điểm của con vật. Liên tưởng là một trong những mối quan hệ cơ bản thể hiện rõ trong từ vựng ngữ nghĩa. Sự liên tưởng phụ thuộc vào những đặc điểm của sự vật mà từ đó định danh, hay nói cách khác, phụ thuộc vào những đặc điểm mà người bản ngữ đã quan sát mà nhìn nhận qua lăng kính của họ.

     Quá trình liên tưởng thường dẫn đến nghĩa bóng, nghĩa chuyển, thông qua một số phương thức như ẩn dụ, hoán dụ. Đây cũng là quá trình hình thành nghĩa biểu trưng từ tên gọi của một số động vật. Nó phản ánh cách cảm, lối nghĩ, cách đánh giá các sự vật, hiện tượng là tích cực hay tiêu cực, là tốt hay xấu, liên quan đến việc gán cho chúng những thuộc tính, những đặc điểm của con vật nào đó. Vì vậy, nghĩa biểu trưng là một trong những nghĩa văn hoá của từ ngữ chỉ động vật. Nó vừa có tính chất đặc thù của mỗi cộng đồng ngôn ngữ riêng biệt, vừa có tính chất phổ quát ở nhiều ngôn ngữ.

     Nhiều nhà nghiên cứu thành ngữ cho rằng nghĩa của thành tố động vật trong thành ngữ chính là nghĩa biểu trưng của thành ngữ. Tác giả Đỗ Hữu Châu xem tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa số một của thành ngữ: “ngữ cố định lấy vật thực việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến, khái quát (…). Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn” [3, 82]. Như vậy, ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ được hiểu là toàn bộ những ý nghĩa khái quát từ hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả, đề cập, gọi tên trong thành ngữ. Hiểu theo cách này, mọi thành ngữ có thành tố chỉ động vật đều mang nghĩa biểu trưng.

     Trịnh Cẩm Lan đã có những công trình nghiên cứu ý nghĩa và thú vị về tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt có các thành tố chỉ con vật. Theo tác giả, “những cảm nhận của người Việt về các con vật được bộc lộ qua thành ngữ, tạo ra những biểu tượng, những biểu tượng này cho phép hình dung con vật biểu trưng cho cái gì, cho thuộc tính gì” [9]. Trịnh Cẩm Lan cho rằng đi tìm những giá trị biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố liên quan đến tên gọi các con vật thực chất là tìm ra những giá trị ngữ nghĩa mà người Việt đã gán cho những con vật hay gán cho những đặc điểm, những tình thế, những hoạt động của những con vật đó theo cách cảm nhận của họ.

     Phan Văn Quế [12] tiếp cận vấn đề nghĩa của thành ngữ động vật theo quan điểm ngữ nghĩa – văn hoá, coi nghĩa của từ là một phiến đoạn văn hoá nên cách nhìn nhận về vấn đề biểu trưng trong thành ngữ cũng rất thống nhất với các tác giả khác. Ông cho rằng có một số lớn thành tố chỉ động vật trong các thành ngữ mang nghĩa biểu trưng, nhất là khi những thành ngữ đó có dạng so sánh, kiểu như: bẩn như chó, chậm như rùa, khoẻ như vâm, nhát như cáy,… trong thành ngữ tiếng Việt và as blind as a bat (mù như dơi); as like a horse (ăn khoẻ như ngựa), as quyet as a mouse (lặng lẽ như chuột), work like a dog (làm cật lực như chó),… trong thành ngữ tiếng Anh. Ngoài ra, tác giả cho rằng, còn có nhiều thành ngữ động vật khác rất khó hình dung ra tính biểu trưng của nó. Chẳng hạn, trong thành ngữ chửi như chó ăn vã mắm, chó ăn vã mắm biểu trưng cho hành động chửi; chó phải pháo trong thành ngữ chạy như chó phải pháo biểu trưng cho sự sợ hãi,… Chúng tôi nhận thấy, những thành ngữ kiểu này chỉ phản ánh cách cảm nhận và so sánh theo kiểu của cộng đồng người Việt, chứ không khắc hoạ nên một hình tượng điển hình như trong trường hợp các thành ngữ so sánh nhát như cáy, ngang như cua, chậm như rùa, ngu như bò, dai như đỉa,… (cáy là điển hình của sự nhút nhát, cua là điển hình cho sự ngang ngạnh, rùa điển hình cho sự chậm chạp, điển hình cho ngu dốt,…).

     Để lí giải điều này, có thể thống nhất với cái mà Dương Kì Đức gọi là “nghĩa văn hàm” [4] mà chúng tôi đã đề cập ở nội dung trước. Nói cách khác, khi các từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ gợi lên một điều gì đó tức là đã gửi gắm hàm ý của một cộng đồng tộc người. Dù các thành tố chỉ động vật trong thành ngữ mang nghĩa biểu trưng điển hình, kiểu như ngu như bò hay chậm như rùa,… hoặc chỉ phản ánh cách cảm nhận theo kiểu của cộng đồng người Việt, kiểu ngay lưng như chó trèo chạn,… mà không khắc hoạ nên hình tượng điển hình thì cả hai trường hợp này đều là kết quả của sự liên tưởng, liên hội theo cách riêng của một cộng đồng tộc người. Vì vậy, để giải quyết thoả đáng tất cả những trường hợp trên của các thành tố chỉ động vật trong thành ngữ, quan điểm của chúng tôi là quy chúng về một loại chung, đó là nghĩa văn hoá đặc thù tộc người, bao gồm tất cả nội dung của nghĩa văn hoá này. Thực tế cho thấy, mỗi tộc người tương ứng với một nền văn hoá. Hay nói cách khác, các tộc người khác nhau sẽ có các nền văn hoá khác nhau. Cố nhiên, tộc người không phải là một “hòn đảo” giam hãm chính nó, “đóng khung” văn hoá của chính nó. Bởi ngoài nghĩa văn hoá đặc thù tộc người, nghĩa của thành ngữ động vật còn mang tính phổ quát. Tức là, thể hiện văn hoá chung của cộng đồng loài người, văn hoá chung liên tộc người và văn hoá đặc thù cho mỗi cộng đồng tộc người.

     2.2. Với cách tiếp cận rộng như vậy, sẽ thuận lợi hơn trong việc xử lí đối với các hàm ý mà một cộng đồng tộc người muốn gửi gắm qua các thành ngữ có các thành tố chỉ động vật. Mỗi thành tố chỉ động vật đều có tính đa nghĩa, biểu hiện phong phú nội dung ngữ nghĩa văn hoá đặc thù tộc người. Hay nói cách khác, mỗi thành tố động vật được liên tưởng đến các đặc điểm, tính chất khác nhau, gắn liền với nhận thức và tư duy của mỗi dân tộc. Mặc dù cùng khai thác một đặc điểm, tính chất nào đó của con vật nhưng mỗi dân tộc lại có sự liên tưởng khác nhau. Xin được dẫn một ví dụ sau:

Pja (cá) (thành ngữ Tày)

     Người chín chắn, linh hoạt, chủ động (chiêm pja dằng khương (nhìn cá sắm giỏ), chập pja au pja, chập hoi au hoi (gặp cá lấy cá, gặp ốc lấy ốc))

     Người sống thực tế, không viển vông, mơ hồ (tua pja đảy tua khảu khương (con cá được là con bỏ giỏ))

     Người gặp may mắn (nặm chập pja, ma chập chủa (nước gặp cá, chó gặp chủ)) Người đứng đầu (nặm nọi pja bú hết tầu (nước nhỏ cá bống làm chỉ huy /vua))

     Kẻ hư hỏng, xấu xa (pja nẩu tẳm đúc (cá thối từ xương), pja nẩu chang đúc nẩu oóc (cá thối từ xương thối trước), pja lài kin lủc/ pja đúc kin đươn (cá chuối ăn con, cá trê ăn giun))

     Kẻ gặp nguy hiểm (mèo hăn pja chí (mèo thấy cá nướng), pja ngù chập nạc, ni hác chập slưa (cá trốn rắn lại gặp phải rái cá, người chạy giặc Tầu lại gặp hổ), pja thư bết (cá cắn câu)) Cuộc sống giàu có, sung túc (thôm pja nà khẩu (ao cá ruộng lúa))

     Sự khánh kiệt về kinh tế (vằng lẩc sliểu pja liệng nảc/ phja eng sliểu mác liệng lình (vực sâu thiếu cá nuôi rái cá; núi nhỏ thiếu quả nuôi khỉ))

(thành ngữ Việt)

Người đi xa (bóng chim tăm cá)

     Người đạt được thành công (cá vượt vũ môn, cá chép hoá rồng) Người có chí khí lớn (bể rộng cá nhảy, trời cao chim bay) Người mạnh mẽ (cá mạnh nhờ nước)

     Người khó bị mua chuộc (cá no khó nhử) Người gặp may (cá gặp nước, rồng gặp mây) Người bị mất tự do (cá chậu chim lồng)

     Người đang gặp khó khăn, nguy hiểm (lúng túng như cá vào rọ, cá nằm trên thớt, cá nằm dưới dao)

     Món ăn ngon/ Người có đời sống sung túc (m cá chả chim, cơm trắng cá ngon, cơm gà cá gỏi)

     Kẻ hư hỏng, xấu xa (cá mè một lứa, lòng cá dạ chim, cá vàng bụng bọ, con cá thối hôi cả giỏ) Kẻ tham lam (cá chết vì mồi, có cá mòi đòi cá chiên, con rô cũng tiếc con giếc cũng muốn, một con cá lội mấy người buông câu)

Kẻ vô ơn (được cá quên chài)

     Kẻ chuyên ức hiếp người khác (cá mè đè cá chép, cá lớn nuốt cá bé)

     Như vậy, khi tên gọi động vật là thành tố trong các thành ngữ, nội dung ngữ nghĩa – văn hoá của các thành tố đó chính là việc liên tưởng chúng tới cái gì, là cách cảm nhận, cách đánh giá các con vật đó tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực. Chẳng hạn, trong cảm nhận của người Tày, mỗi khi nhắc đến mạ (ngựa) là liên tưởng đến sự hung hăng, ác độc: nả mạ hua vài (mặt ngựa đầu trâu); hay liên tưởng đến những thói hư tật xấu của con người, như sự keo kiệt, bần tiện: án mò án mạ (đếm bò đếm ngựa); thói a dua: mò fằng mạ tố fằng (bò động đực, ngựa cũng động đực), sự chủ quan, không nghiêm túc trong công việc: tấy quân đẳng sân đăng mạ (trẩy quân đến nơi mới xỏ sẹo cho ngựa); sự lục đục, mất đoàn kết nội bộ: lảm hang mạ tò tản (buộc đuôi ngựa đá nhau),… Sự cảm nhận, đánh giá của người Tày về mhầu hết đều thiên về nghĩa tiêu cực. Khác với sự liên tưởng của người Tày, trong tâm thức của người Kinh, ngựa thiên nhiều về nghĩa tích cực. Ngựa tiêu biểu cho người xông xáo, tháo vát (chạy như ngựa, chạy như ngựa vía); người có tình có nghĩa, không quên cội nguồn (con ngựa hồi tàu); người dám xả thân vì nghĩa lớn (da ngựa bọc thây, da ngựa bọc xương); người thẳng thắn, bộc trực, không thâm hiểm, lắt léo (thẳng như ruột ngựa, ruột ngựa phổi bò); người tài giỏi nhưng nhiều tật (ngựa hay lắm tật),…

     Mặt khác, qua khảo sát, có thể nhận thấy có nhiều con vật được cả hai dân tộc Tày và Kinh liên tưởng giống nhau về một số đặc điểm tính chất nào đó, tức là thống nhất về ý nghĩa biểu trưng. Điều đó cũng dễ lí giải bởi đây là hai dân tộc anh em, có lịch sử hàng ngàn năm giao lưu văn hoá, có sự hoà hợp nhân chủng nên ảnh hưởng sâu sắc với nhau. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hoàn toàn trùng khít về ý nghĩa biểu trưng bởi mỗi dân tộc luôn có sự liên tưởng, liên hội theo cách riêng của mình. Chẳng hạn, cả hai dân tộc Tày và Kinh đều cho rằng vài (trâu) là con vật ngu dốt, đần độn, thiếu suy nghĩ; ngù (rắn) với nọc độc, sự tráo trở và những cú tấn công bất ngờ, được biểu trưng cho sự thâm hiểm, độc ác. Ngoài ra, người Tày còn liên tưởng vài đến sự may mắn, thoải mái, vui vẻ: vài ké chập pàn nhả ón (trâu già gặp đám cỏ non) vài khảu chả (trâu vào ruộng mạ); sự thô thiển, trơ trẽn, không biết xấu hổ là gì: nả na bặng nả vài (mặt dày như mặt trâu), nả pè bặng hi vài luộn (mặt bự như lồn trâu chửa). Hay ngù còn biểu trưng cho bản lĩnh, cho sự kiên cường, không nề gian nguy: căm cò ngù (cầm cổ rắn), kẻ slửa nòn vạ ngù (cởi áo nằm cùng rắn). Trong tâm thức của người Kinh, trâu biểu trưng cho người có bản lĩnh (có ăn có chọi mới gọi là trâu), người tài giỏi (trâu hay chẳng ngại cày trưa), người có phản ứng dữ dội (lồng lên như trâu điên), người nhiệt tình nhưng thiếu suy nghĩ (hùng hục như trâu húc mả), người hay đố kị, ganh ghét (trâu buộc ghét trâu ăn, trâu cày ghét bò buộc),… Còn rắn biểu trưng cho người khôn ngoan (rắn khôn giấu đầu), người có tham vọng lớn (rắn con lăm nuốt cả voi), kẻ không biết tuỳ thời (rắn đói lại chê nhái què),…

     Để xác định giá trị biểu trưng của thành tố chỉ động vật trong thành ngữ Tày – Việt, chúng tôi chủ yếu dựa vào logic hình thức và logic ngữ nghĩa của thành ngữ. Logic hình thức được áp dụng với loại thành ngữ có các thành tố chỉ động vật mang nghĩa biểu trưng điển hình (thường là dạng thành ngữ so sánh), kiểu rèng pện vài (khoẻ như trâu), rại bặng ma cầu (dữ như chó đẻ), tăn bặng bẻ bot (dốt đặc như dê mù), khoái pện chỏn (nhanh như sóc),… trong thành ngữ động vật Tày hay ngu như bò, chậm như rùa, nhát như cáy, ngang như cua,… trong thành ngữ động vật Việt. Tương tự, đối với những thành ngữ kiểu xanh đít nhái, cáo già không ăn gà hàng xóm, thẳng ruột ngựa, vểnh râu cáo, trơ mắt ếch,… trong thành ngữ động vật tiếng Việt hay nả đeng nả lình căng (mặt đỏ (như) mặt đười ươi); au khôn tấu (lấy lông con rùa); lăp lí tha lây (ti hí mắt lươn); pha hốt cò (ba ba rụt cổ); nộc thảy mì kỉ lai lào (chim chích có được mấy mỡ),… trong thành ngữ động vật Tày thì việc xác định giá trị biểu trưng ngữ nghĩa cũng tương tự như với loại thành ngữ động vật mang nghĩa biểu trưng điển hình mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên. Các yếu tố được đề cập ở thành tố phụ có mối liên hệ đến con vật (hoặc bộ phận con vật) biểu trưng cho đặc điểm, tính chất, hoạt động,… nêu ở thành tố chính. Cụ thể: đít nhái là xanh; cáo già không bao giờ bắt trộm gà gần nơi nó ở, do chúng sợ hang ổ bị phát hiện; ruột ngựa là thẳng; cáo thường vểnh râu lên sau khi ăn uống no say; mắt ếch lúc nào cũng mở to; nả (mặt) lình căng (đười ươi) có màu đỏ trông rất đáng sợ; tấu (rùa) không có lông; tha (mắt) lây (lươn) là ti hí; (cổ) của pha (ba ba) luôn rụt lại; nộc thảy (chim chích) bé nhỏ nên lượng mỡ không đáng kể.

     Tuy nhiên, đối với một số trường hợp, người nghiên cứu có thể phải dựa vào những tri thức văn hoá dân gian, những quan niệm nhân sinh đã có của chủ thể sáng tạo. Bởi việc xác định giá trị biểu trưng trên thực tế có thể xảy ra theo nhiều hướng khác nhau. Vì vậy, chúng tôi áp dụng logic ngữ nghĩa để xác định giá trị biểu trưng cho những thành ngữ loại này. Điển hình là những trường hợp mà thành ngữ có ý nghĩa được tạo ra theo cơ chể tạo nghĩa ẩn dụ, kiểu bả tồng niếng (động đậy như con niếng) trong thành ngữ động vật Tày hay chó mặc váy lĩnh trong thành ngữ động vật Việt. Với thành ngữ Tày bả tồng niếng thì niếng biểu trưng cho những đứa trẻ hiếu động. Ý nghĩa biểu trưng này được tạo ra trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá của người Tày khi quan sát niếng. Theo [1], “niếng là một loại côn trùng cánh cứng, sạch sẽ như con cánh cam, đôi cánh màu xanh biếc ánh đẹp. Con niếng luôn động đậy nhất là khi bị lật ngửa. Những bộ phận của con niếng như đầu, ngực, bụng, tám chân đều hoạt động không lúc nào ngơi. Để chỉ những đứa trẻ khoẻ, hoạt động lành mạnh, có ý động viên khen ngợi sự hoạt động tích cực của những đứa trẻ hiếu động.” Với thành ngữ Việt chó mặc váy lĩnh, theo [6] được khai thác theo hai nghĩa: 1. “đua đòi một cách kệch cỡm, lố lăng, ví như loài chó mặc váy lĩnh thì càng chướng mắt, ngược đời hơn.”; 2. “chuyện hoang đường, ngược đời, không thể có được.” Chúng tôi nhận thấy, ý nghĩa (1) được tạo ra trên cơ sở sự tương phản ngữ nghĩa giữa chó (xấu xí, không bao giờ mặc gì) và y lĩnh (thứ quý hiếm, đẹp, chỉ dành cho con người) để nhấn mạnh sự chướng mắt, ngược đời. Vì vậy, ở ý nghĩa (1), chó biểu trưng cho những kẻ xấu xí, kệch cỡm. Với ý nghĩa (2), chó trong quan niệm của người Việt là một con vật hạ đẳng, biểu trưng cho những kẻ thấp hèn, đáng khinh bỉ. Bởi theo những tri thức văn hoá dân gian, váy lĩnh là thứ quý hiếm và sang trọng, thể hiện rõ đẳng cấp của người sử dụng. Ngày xưa, chỉ có những bậc vua chúa, quan lại mới có để mặc còn đối với những người bình dân thì váy lĩnh là loại xa xỉ phẩm, dù cho có nằm mơ cũng không dám ước, huống chi là chó – một con vật hạ đẳng, xấu xí, bẩn thỉu, không bao giờ mặc gì, biểu trưng cho những kẻ thấp hèn, đáng khinh bỉ.

3.

     Thành ngữ nói chung, thành ngữ Tày – Việt chứa các thành tố chỉ động vật nói riêng được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Đây chính là di sản văn hoá, là “kho báu lưu giữ trầm tích của mỗi dân tộc” [7], thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của những cộng đồng tộc người thuộc các nền văn hoá khác nhau. Tìm hiểu về ngữ nghĩa – văn hoá của nhóm thành ngữ này, chúng ta sẽ hiểu biết hơn về cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ Tày – Việt, hiểu biết hơn về các dân tộc anh em và yêu quý hơn nền văn hoá các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Triều Ân – Hoàng Quyết, Từ điển thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày, NXBVăn hoá dân tộc, Hà Nội, 1996.

2. Lương Bèn (chủ biên), Từ điển Tày – Việt, NXB Đại học Thái Nguyên, 2011.

3. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1981.

4. Dương Kì Đức, Trường nghĩa của một thực từ, Kỉ yếu Ngữ học trẻ, Hà Nội, 1996.

5. Hoàng Văn Hành (chủ biên), Kể chuyện thành ngữ – tục ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.

6. Vũ Quang Hào – Vũ Thuý Anh, Từ điển thành ngữ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1986.

7. Nguyễn Thúy Khanh, Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga), Luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học, 1996.

8. Hoàng Ngọc La – Hoàng Hoa Toàn – Vũ Anh Tuấn, Văn hoá dân gian Tày, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2002.

9. Trịnh Cẩm Lan, Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên nền cứ liệu thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1995.

10. Hoàng Văn Ma – Lục Văn Pảo, Từ điển Việt – Tày – Nùng, NXB Từ điển Bách khoa, 2005.

11. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2000.

12. Phan Văn Quế, Ngữ nghĩa của thành ngữ – tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh, Luận án PTS Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học, 1996.

13. Nguyễn Như Ý – Hoàng Văn Hành – Lê Xuân Thại – Nguyễn Văn Khang – Phan Xuân Thành, Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.

14. Nguyễn Như Ý, Thành ngữ tiếng Việt phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.