NHÂN VẬT THẦN KỲ TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM (Khảo sát qua truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam)
MAGICAL CHARACTERS IN YOUNGER SIbLING TYPED-STORIES
(Studying through Vietnamese legend stories)
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
(Ths. GVC Khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP Hà Nội 2
Hiện đang là NCS chuyên ngành VHDG – Trường ĐHSP Hà Nội (T9/2012))
TÓM TẮT
Trong hệ thống nhân vật của kiểu truyện người em, nhân vật thần kỳ có một vị trí nhất định trong toàn bộ kết cấu cốt truyện. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhân vật thần kỳ xuất hiện với một tần số dày đặc và được biểu hiện qua nhiều hình thức phong phú, sinh động: Nhân vật thần kỳ là thần, tiên, bụt; nhân vật thần kỳ là các con vật, đồ vật được gán cho những đặc điểm, thuộc tính giống như con người; nhân vật thần kỳ là người vợ, người chồng mang lốt của người em hiền lành, nhân hậu. Có mặt trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nhân vật thần kỳ tham gia vào việc phát triển tình tiết và giải quyết xung đột truyện đồng thời đóng vai trò trợ lực cho nhân vật người em vượt qua thử thách, đi đến kết thúc thắng lợi, làm thỏa mãn ước mơ công lý của tác giả dân gian.
ABSTRACT
Magical characters in younger sibling typed-stories In the character system of younger sibling typed-stories, magical characters play certain roles in the whole plot. Through investigation, we discover that magical characters densely appear and are lively expressed in various ways. For example, magical characters are titans, fairies, Buddha; animals or things carrying human characteristics; wives and husbands in good younger sibling’s clothing. Be present in particular situations, magical characters are involved in detail developing and conflict resolving. They also help younger sibling characters overcome challenges with victory in the end, satisfying authors’ desire for justice.
x
x x
1. Mở đầu
Đóng vai trò là nhân vật phụ trong hệ thống nhân vật của truyện cổ tích nói chung và kiểu truyện người em nói riêng, nhân vật thần kỳ có một vị trí nhất định trong toàn bộ kết cấu cốt truyện. Sự có mặt của nhân vật thần kỳ đã góp phần làm nên vẻ đẹp kỳ diệu của những câu chuyện kể mà ở đó: “lý tưởng thẩm mỹ toát ra từ những biến hóa thần kỳ của bản thân nhân vật hoặc của những vật thiêng, những ý niệm thiêng được coi là lực lượng phù trợ của những con người bất hạnh” [1]. Xuất hiện trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, nhân vật thần kỳ có vai trò quan trọng trong việc phát triển tình tiết và giải quyết xung đột truyện. Có thể thấy, xung đột giữa hai lực lượng đối lập trong truyện cổ tích luôn luôn được giải quyết bằng sự can thiệp của nhân vật thần kỳ. Kiểu “nhân vật” đặc biệt này rõ ràng không tồn tại trong thế giới thực tại nhưng lại cực kỳ phổ biến trong thế giới vừa “huyễn hoặc” vừa “xác thực” của truyện cổ tích, phần nào giúp con người thỏa mãn những ước mơ mà họ chưa đạt được trong thực tế.
2. Nội dung nghiên cứu
Trong kiểu truyện người em, nhân vật thần kỳ xuất hiện với một tần số dày đặc và được biểu hiện qua nhiều hình thức phong phú, sinh động.
2.1. Nhân vật thần kỳ là thần, tiên, bụt
Nhân vật thần kỳ là thần bao gồm các dạng với những tên gọi khác nhau: Dàng, trời – ông mặt trời, thần, thần núi – sơn thần, thần sét – thiên binh, thần đất – thổ địa, thần rừng, ông Tà… Dấu vết thần thoại còn khá đậm nét ở kiểu nhân vật này. Dựa trên những “mảnh vỡ” thần thoại về thế giới thần linh, truyện cổ tích đã kế thừa và sáng tạo một kiểu nhân vật thần kỳ khá độc đáo và khác về chất so với thần thoại. Những vị thần mưa, thần sét, thần đất, thần rừng… không còn mang chức năng, hành trạng gắn với thế giới tự nhiên kỳ vỹ mà mang dáng dấp đời thường, gần gũi với con người. Thần biết thấu hiểu, biết sẻ chia với nỗi bất hạnh của con người, biết phân biệt phải trái, tốt xấu, biết đứng về phía người tốt và có tác động tích cực đến cuộc đời nhân vật. Ông Tà hay còn gọi là Niếc Tà là vị thần bảo vệ phum sóc trong một truyện kể của người Khơ – me, chứng kiến nỗi vất vả của người em, thấy thương tình chàng trai thật thà và siêng năng nên báo mộng chỉ đường cho chàng đi lấy cái cối xay thần (Cối xay thần – Dân tộc Khơ – me); nghe tiếng sáo vi vu, day dứt của người em đang gặp nạn như muốn giãi bày nỗi niềm u uẩn, trời bèn sai thiên binh xuống trần tìm người thổi sáo và hỏi cho rõ nguồn cơn (Người vợ cá – Dân tộc Mông); mỗi lần bị anh lấy mất của, người em khóc chán lại đem khèn ra thổi, gửi gắm nỗi lòng cay cực của mình theo tiếng gió. Một hôm Dàng chợt nghe thấy tiếng khèn buồn như “tiếng con vượn ốm lạc đàn” bèn bảo con gái xuống dưới trần bầu bạn, giúp đỡ (Sự tích chim thù thì – Dân tộc Vân Kiều)… Rõ ràng là nhân vật thần không còn là hiện thân của tự nhiên và thể hiện sức mạnh điều tiết tự nhiên như trong thần thoại mà được hiện thực hóa, trở nên gần gũi với con người.
Bên cạnh thần, tiên bụt cũng là nhân vật thần kỳ có tỉ lệ xuất hiện khá cao. Kiểu nhân vật này vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo. Nói về nguồn gốc nảy sinh truyện cổ tích nói chung, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cũng nhấn mạnh: “Truyện cổ tích chủ yếu sản sinh trong thời kỳ phong kiến. Lúc đó chính là lúc tôn giáo phát triển mạnh mẽ… Các tôn giáo đã dùng nhiều hình thức để tuyên truyền thế giới quan của mình và đã không quên hình thức truyện kể dân gian. Ở nước ta, đạo Phật đã dùng Phật thoại và đạo Tiên đã dùng Tiên thoại để làm cho giáo lý của mình được đi sâu vào quần chúng nhân dân” [4]. Khác với nhân vật bụt, thường được biết tới với đặc điểm giới tính nam – ông bụt, thì tiên lại được biết tới với cả hai giới tính nam hoặc nữ – ông tiên hoặc bà tiên (cô tiên). Trong kiểu truyện người em nhân vật thần kỳ là tiên, bụt ít khi trực tiếp xuất hiện và biến đi trong nháy mắt với hình hài của đấng cứu người theo kiểu một ông già râu tóc bạc phơ có mặt khi nhân vật chính gặp thử thách (Tấm Cám, Cây tre trăm đốt…) mà chủ yếu bằng hình thức “giấu mình” qua một diện mạo khá tầm thường: “một ông lão gày gò rách rưới nằm mê man lại phóng uế ra bên cạnh, mùi hôi thối xông lên nồng nặc” (Bính và Đinh – Dân tộc Việt); “một ông lão ăn mày rách rưới lần vào ngõ nhà người anh xin ăn” (Hai anh em và con chó đá – Dân tộc Việt); “một ông già đầu tóc bạc phơ, râu dài chấm ngực, quần áo rách như lá chuối” (Tiên thử lòng người – Dân tộc Giáy)… Diện mạo bề ngoài của nhân vật luôn đem lại sự thương cảm đối với nhân vật chính và sự rẻ rúng khinh miệt đối với nhân vật đối thủ. Đây cũng là điểm gặp gỡ với truyện cổ tích trên thế giới. E.M.Mê-lê-chin-xki cũng đã tổng kết trong công trình nghiên cứu của mình: “Trong nhiều truyện hoang đường của các dân tộc, các vị thần linh, tiên thường xuất hiện trong hình dáng phụ nữ, người nghèo, ăn mặc bẩn thỉu… và thử lòng người đời” [5]. Ở một số truyện nhân vật thần kỳ xuất hiện trong giấc mơ của nhân vật chính diện: trong giấc ngủ say, người em gặp một người già dáng hiền hậu, dặn rằng: “Người kia đền gì cũng đừng lấy, chỉ đòi con cáo ở núi đá đen mà thôi!” (Người em tài giỏi – Dân tộc Mông); người em mơ thấy một cụ già râu tóc bạc phơ nói: “Khi lũ khỉ đến, cháu hãy nằm im giả chết, đàn khỉ sẽ khiêng cháu đi, đến hang cháu thấy gì lấy đấy nhớ mang theo túi” (Hai anh em mồ côi – Dân tộc Giáy) người em mơ thấy Dư Nhung, được Dư Nhung mách cho kế lấy gạo nếp nhét đầy mũi đầy tai đầy mồm rồi nằm im giả chết (Giả chết chết thật – Dân tộc Mông)… Việc nhân vật thần kỳ xuất hiện gián tiếp qua giấc mơ và đưa ra những lời “chỉ dẫn” “mách bảo” sáng suốt cho người em đã cho thấy tính chất trợ thủ của lực lượng thần kỳ trong việc giúp người em thay đổi số phận.
Trong kiểu truyện người em, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy nhân vật thần kỳ thường thực hiện hành động của nhân vật người tặng thưởng. Theo V.Ia.Propp, nhân vật này phải thực hiện hai chức năng cơ bản: Sự thử thách của người tặng và sự nhận được phương tiện thần kỳ. Nhân vật người tặng thưởng có thể được gặp một cách ngẫu nhiên trên đường đi hoặc ở trong rừng. Những ông tiên, bà tiên ẩn mình sau hình hài của một cụ già rách rưới, ốm yếu xuất hiện ở trần gian thử thách lòng thơm thảo của cả đôi bên. Hai người anh, đi tìm thuốc cho cha, đến một con suối không có cầu, gặp một ông lão đang gánh củi, nhờ họ đưa qua suối nhưng cả hai từ chối. Người em út lặp lại hành trình của các anh, khi ông lão ngỏ ý nhờ giúp đỡ, đã vui vẻ nhận lời (Người con út hiếu thảo – Dân tộc Việt); người anh giàu có cưỡi ngựa theo đường mòn chật hẹp leo lên đỉnh dốc cao. Đến giữa đường anh ta gặp một ông lão rách rưới, bèn giật cương ngựa chen đi trước làm cho ông lão ngã dúi dụi. Một lát sau, người em đi đến, thấy ông lão ngồi bệt ven đường than thở, liền ân cần hỏi han (Tiên thử lòng người – Dân tộc Dao)… Cả người anh và người em đều phải trải qua sự thử thách của người tặng trước khi nhận được phương tiện thần kỳ (phần thưởng). Người anh ích kỷ không thể vượt qua thử thách, còn người em bằng tấm lòng nhân hậu của mình đã vượt qua thử thách dễ dàng và đương nhiên người em sẽ được ban thưởng. Cũng theo V.Ia Propp, phương tiện thần kỳ có thể được chuyển giao trực tiếp, có thể được chỉ ra, được lấy trộm hoặc đột nhiên xuất hiện… Người em sau khi giúp ông lão gánh củi qua suối, được chỉ dẫn tỉ mỉ đến nơi lấy được thuốc tiên chữa bệnh cho cha hoặc khi chợ gần tan, ông lão nói với chàng trai tốt bụng quay về nơi ông lão đã ngồi ban sáng, lật tảng đá lên, bên dưới có một hũ to đầy vàng… Trong một số bản kể, người tặng thưởng chỉ thực hiện một chức năng: Sự nhận được phương tiện thần kỳ. Trước đó nhân vật không cần phải trải qua sự thử thách của người tặng. Đây là vấn đề cũng đã được các nhà nghiên cứu đi trước tìm hiểu khá kỹ càng. Tăng Kim Ngân trong một công trình nghiên cứu về truyện cổ tích đã chỉ ra sự khác biệt thú vị giữa truyện cổ tích thần kỳ Châu Âu và Việt Nam: trong truyện của Châu Âu, nhân vật chính trước khi nhận được phương tiện thần kỳ nào đó phải trải qua những thử thách nhiều khi rất khó khăn (vượt qua suối lửa, cầu lửa, đi qua hàm của một con sư tử đang nhai, vắt sữa của một con sư tử cái…) còn truyện của Việt Nam, nhân vật nhận được phương tiện thần kỳ mà không phải trải qua thử thách [7]. Nhận xét này trùng với kết quả khảo sát của chúng tôi ở một số trường hợp cụ thể, chẳng hạn: Người em bị anh trai và chị dâu chiếm đoạt tài sản, đuổi ra khỏi nhà, ngày ngày vào rừng kiếm củi. Một hôm lang thang giữa rừng, lạc vào một ngôi nhà không chủ. Đêm đến sợ hãi trèo lên gác nằm, nghe trộm được câu chuyện của tướng hổ, tướng gấu, tướng lợn rừng, người em lấy được nước thần tiên (Hổ, gấu và lợn rừng – Dân tộc Giáy); anh trai nghe lời vợ đối xử tệ bạc với em khiến em bỏ nhà đi, bị lạc trong rừng sâu nghe trộm được bí mật của ba con yêu tinh, lấy được vàng bạc, của cải (Hai anh em và ba con yêu tinh – Dân tộc Nùng). …Ở đây nhân vật người em nhận được phương tiện thần kỳ một cách hoàn toàn tình cờ, ngẫu nhiên. Hình thức biểu hiện này có tính chất bù đắp cho nhân vật chính diện bởi những thiệt thòi, khổ sở mà họ đã phải chịu trước đó.
2.2. Nhân vật thần kỳ là các con vật, đồ vật
Những con vật biết nói, biết nghe và hiểu được tiếng người như: các loài chim (đại bàng, quạ, phượng hoàng…) các loài thú hoang dã (hổ, gấu, lợn rừng, khỉ, cáo…) các loài vật nuôi (chó, mèo, gà, lợn…) các loài côn trùng (rận, chuột, sâu…)… tham gia vào cốt truyện với vai trò của nhân vật thần kỳ, chúng có thể đứng ở vị trí trung gian hay đứng hẳn về một phe nào đó, thiện hoặc ác.
Sự có mặt của các con vật trong kiểu truyện người em được xem như “vật di sản mầu nhiệm” đem lại sự thay đổi số phận cho người em. Hai anh em mồ côi, anh tham lam em hiền lành tốt bụng. Anh chiếm hết gia tài đuổi em ra ở cuối làng. Một lần em tình cờ cứu được con chim én, được én trả công bằng cách tặng cho hạt bầu, trồng bầu ra quả, bổ quả bầu trong có nhiều quần áo đẹp, đồ ăn ngon, vàng bạc châu báu (Quả bầu kỳ Lạ – Việt); anh lấy vợ chiếm hết gia tài, đuổi em đi, em ra đi cùng một con chó già. Thỉnh thoảng chó lại cắp về cho chủ một thỏi vàng sáng loáng (Người anh người em – Dân tộc Khơ mú); em được chia con chó và con mèo, nhờ chó mèo hát hay múa dẻo mà người em thắng cược người chủ buôn (Hai anh em – Dân tộc Hà Nhì)… những con vật thần kỳ như vậy không phải là hiếm trong kiểu truyện người em ở nhiều quốc gia. Khắp Châu Âu có truyện về con mèo thần thoại trong đôi ủng là vật di sản dành cho người em. Truyện cổ tích Trung Quốc cũng nói về con vật mà người em được chia là một con vật tô – tem như con chó. Truyện của dân tộc Choang (Trung Quốc) kể rằng cha mẹ để lại di sản cho hai anh em một mảnh đất, một con bò và một con chó. Người anh lười nhác, người em chăm chỉ làm việc. Người anh đề nghị chia của cải và chiểm chỗ đất tốt nhất cùng với con bò, còn người em chỉ được chia một ít đất xấu và con chó. Tất nhiên cũng giống như truyện của Việt Nam, sau khi nhận được thứ tài sản đó, con vật đã phát huy sự “mầu nhiệm” giúp người em trở nên giàu có…
Những đồ vật, vật thể như phiến đá, cái cối, cái hũ, cái đàn… cũng được gán cho những đặc điểm, thuộc tính giống như con người. Thấy người em ngồi khóc lóc thở than, phiến đá, chó đá… biết vỗ về an ủi, hay khi thấy cảnh tượng buồn cười cũng biết há miệng ra cười, rồi tức giận trước kẻ xấu bộc lộ phản ứng bằng cách ngậm chặt tay không rời (Anh em mồ côi – Dân tộc Hmông, Ca đốp và Ca đoéc – Dân tộc Chăm…)
Đóng vai trò của “nhân vật” thần kỳ, các con vật hay đồ vật cũng thực hiện nhiệm vụ trợ thủ cho nhân vật chính và thưởng – phạt hết sức công minh. Con cáo khôn ngoan biết nói chuyện, biết hát giúp người em thật thà tốt bụng trở nên giàu có còn với người anh tham lam, cáo không thèm nói một tiếng, hát một câu (Người em tài giỏi – Dân tộc Mông); Con chó, con mèo thông minh biết múa biết hát giúp người em thắng cược người chủ buôn. Người anh thấy vậy đòi mượn chó, mèo nhưng chó, mèo chỉ phát ra tiếng rên ư ử (Hai anh em – Dân tộc Hà Nhì)… Tương tự, cái cối thần xay ra thịt ra rau, xay ra quần áo đẹp, thậm chí xay ra cả một ngôi nhà… giúp người em thoát khỏi cuộc sống túng thiếu, còn hai người anh sau khi đánh cắp chiếc cối, hí hửng xay chỉ thấy xay ra muối, nhấn chìm họ xuống biển sâu (Cối xay thần – Dân tộc Khơ-me)… Hay khi những người em út bị anh/chị giết hại, chính các con vật tình nghĩa đã giúp họ thoát khỏi tai họa khốc liệt này. Cô út bị chị đẩy ngã xuống hố sâu, hàng ngày cô được chim rừng hái quả thả xuống nuôi cô, nhờ đó cô có cơ hội sống sót trở về (Vợ chồng chàng rồng – Dân tộc Pu Péo) con chó, con mèo tinh khôn thấy chủ rơi xuống hố sâu, hàng ngày thả cơm xuống nuôi chủ (Hai dòng suối – Dân tộc Hrê, Kủ và Kỉ – Dân tộc Pu Péo)… Ở đây, các con vật hay đồ vật rõ ràng không mang màu sắc thần kỳ kiểu nhân vật phù trợ như ông bụt, ông tiên nhưng vai trò trợ lực của nó trong việc giúp cho nhân vật chính vượt qua thử thách là không thể phủ nhận. Tính chất thần kỳ của kiểu “nhân vật” này chính là ở chỗ chúng cũng có thái độ, cảm xúc giống hệt như con người, biết phân biệt cái tốt cái xấu, cái thiện cái ác. Sự hư cấu này không chỉ có ý nghĩa tạo nên sự ly kỳ, khác thường cho câu chuyện mà còn ẩn chứa sau đó là những triết lý đạo đức sâu xa.
Như đại bộ phận nhân vật chính diện trong truyện cổ tích, nhân vật người em mang cũng tính chất thụ động, vì vậy để giúp họ đi đến thắng lợi không gì hơn là cho họ một sự giúp đỡ tích cực từ phía nhân vật thần kỳ. Nhân vật thần kỳ gắn với chức năng nhân vật thiện, đứng về phía người em, chiến thắng các thế lực hắc ám đã “phá tan cái không gian thù địch với con người” [6]. Theo kết quả khảo sát của chúng tôi trong kiểu truyện người em, các con vật thần kỳ rất hiếm khi đứng về phe ác và trợ giúp cho nhân vật ác. Trừ một số trường hợp, nhân vật thần kỳ đứng ở vị trí trung gian, còn lại luôn đứng ở phe thiện và đóng vai trò giúp đỡ nhân vật chính diện đi đến thắng lợi cuối cùng.
Cũng có khi nhân vật thần kỳ tỏ ra vô tư không thiên vị ai, luôn đứng ở vị trí trung gian nhưng vẫn có tác dụng tạo ra những kết quả trái ngược trong chung cục số phận nhân vật. Con chim đại bàng (Nhân tham tài nhi tử điểu tham thực nhi vong – Dân tộc Việt), chim phàng náo (Chim phàng náo – Dân tộc Nùng), chúa đất quạ (Hai cây khế – Dân tộc Khơ-me)… là những nhân vật thần kỳ như vậy. Với cả hai anh em, nhân vật thần kỳ đều có lời nói và hành động giống nhau, con chim thần (Cây khế – Dân tộc Việt) dặn cả người em và người anh: “Ăn một quả khế trả một cục vàng/May túi ba gang mang đi mà đựng” sau đó cả hai lần lượt được đưa ra đảo lấy vàng. Hay đàn khỉ (Hà rầm hà rạc – Dân tộc Việt) khiêng cả người em và người anh đi chôn song kết thúc số phận của họ vẫn khác nhau hoàn toàn. Nhân vật thần kỳ trong những câu chuyện này không trực tiếp đóng vai trò thưởng phạt hay trợ lực cho nhân vật chính mà có nhiệm vụ phân biệt phẩm chất đạo đức giữa nhân vật chính và nhân vật đối thủ.
2.3. Nhân vật thần kỳ là người vợ, người chồng mang lốt
Cũng thực hiện chức năng của nhân vật thần kỳ, những người chồng người vợ mang lốt với khả năng “biến hình” cũng là sản phẩm sáng tạo độc đáo của dân gian, đồng thời thể hiện những đặc trưng thẩm mỹ rõ rệt. Trong kiểu truyện người mang lốt, “nhân vật xấu xí mà tài ba” thường gắn với nguồn gốc thần linh hay kết quả của một cuộc hôn phối giữa một bà mẹ trần tục với lực lượng siêu nhiên và dù “sự xuất hiện của nhân vật từ nguồn gốc nào… nhân vật bao giờ cũng phải mang một vẻ ngoài xấu xí, thấp hèn, bị mọi người lánh xa hắt hủi” [3]. Với vẻ bề ngoài xấu hình dị dạng: “cục thịt có mắt, mũi, mồm nhưng không có chân tay” (Sọ Dừa – Dân tộc Việt); “cục thịt tròn như quả bầu” (Chàng bầu – Dân tộc Mường); “có đủ chân tay mặt mũi nhưng toàn thân mọc đầy lông lá, nó không phải là người mà là khỉ” (Chàng rể khỉ – Dân tộc Ê đê)… đã khiến cho nhân vật chính khá khó khăn trong việc kết hôn, nhất là phải chịu thử thách từ ông bố vợ tương lai – người luôn đưa ra những tình huống gây cản trở cho nhân vật chính. Tuy nhiên với khả năng đặc biệt nhờ thụ phép thần linh hoặc bằng tài năng, phẩm chất tốt đẹp sẵn có họ dễ dàng vượt qua thử thách đi đến kết cục tốt đẹp là kết hôn với người con gái đẹp và quan trọng hơn cả, họ được trút bỏ cái lốt xấu xí để trở thành người đẹp. Ở kiểu truyện người em, sự xen kẽ chủ đề người lấy vật cũng cho phép chúng tôi nhận diện được kiểu nhân vật người mang lốt. Tuy nhiên, khác với kiểu truyện người mang lốt, “nhân vật xấu xí mà tài ba” là nhân vật chính thì ở kiểu truyện này trong đối sánh với người em – nhân vật chính thì người mang lốt lại đóng vai trò nhân vật phụ. Họ không được biết tới với một “lai lịch” cụ thể, một diễn biến số phận đầy đủ mà chỉ được biết tới như một lý do làm nên sự đối lập về mặt phẩm chất giữa những người vốn là anh em hoặc chị em trong gia đình. Đặc biệt họ có mặt trong tuyến nhân vật phụ và trở thành lực lượng “thử thách” đối với nhân vật chính. Bởi đứng trước việc phải kết hôn với một con vật (rắn, trăn, thuồng luồng…) tất cả các nhân vật bề trên đều một mực cự tuyệt, chỉ những người em gái út mới đủ lòng tốt và hiếu thảo để chấp nhận cuộc hôn nhân bất đắc dĩ đó. Tính chất thần kỳ nằm ở phương diện “cái lốt” xấu xí và sự “biến hình” đẹp đẽ của nhân vật. Từ chỗ là con vật, nhân vật trở thành chàng trai, cô gái có hình thức hơn người. Đó là phần thưởng tỏ lớn không chỉ đối với bản thân họ mà còn đối với những người em út nhân hậu, tốt bụng. Kết thúc này làm nên xúc cảm thẩm mỹ mãnh liệt, thỏa mãn ước mơ vươn tới cái đẹp hoàn thiện của dân gian.
Trong truyện, người em được mô tả với nỗi thống khổ về cả thể xác lẫn tinh thần. Họ bị những người anh người chị vùi dập, chà đạp trở thành nạn nhân yếu thế và vô cùng khốn khổ. Hình ảnh người em đáng thương trong truyện cổ tích là sự “sao chép” nguyên xi những nguyên mẫu có thực ngoài đời. Những con người bất hạnh ấy rõ ràng không còn là cá biệt trong thực tại xã hội. Hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn là khát vọng bức thiết của nhân dân trong truyện cổ tích và vì thế để thể hiện được lý tưởng thẩm mỹ, khát vọng công bằng: thiện thắng ác, công lý chính nghĩa thắng gian tà, dứt khoát người ta phải viện đến lực lượng thần kỳ như một phương tiện trợ lực hữu hiệu nhất. Những vị thần, tiên, bụt hay con vật, đồ vật… đã phát huy triệt để vai trò của mình trong từng thời khắc để xoay chuyển số phận của nhân vật chính. Nói chính xác: “Những người trợ lực kỳ diệu đó không còn tính chất nhân chủng học thuần túy nữa mà đã mang tính chất khái quát hóa nghệ thuật: mới đầu thì thể hiện sức mạnh của dòng giống và sau đó thì thể hiện sức mạnh của điều thiện, sức mạnh khi can thiệp vào đời sống đã lập lại công bằng cần thiết” [5]
3. Kết luận
Mỗi dạng nhân vật trong tồn tại trong kiểu truyện người em, đều mang trong mình đặc điểm riêng biệt về hành động và tính cách, trở thành đại diện cho các phạm trù đạo đức. Nếu nhân vật người em được lý tưởng hóa, đại diện cho cái đẹp, cái thiện thì nhân vật người anh, người chị lại là đại diện cho cái xấu, cái ác đáng bị lên án. Giữa hai lực lượng này luôn luôn tồn tại những xung đột gay gắt một mất một còn và nhân vật thần kỳ xuất hiện như một nhân tố tích cực để hóa giải xung đột, đồng thời giúp cho con người thực hiện giấc mơ công lý. Với những biểu hiện đa dạng và độc đáo, nhân vật thần kỳ góp phần làm nên sức hấp dẫn riêng biệt của kiểu truyện người em trong kho tàng cổ tích dồi dào của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hà Châu (1972). “Về đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam”. Tạp chí Văn học, số 5.
[2] Nguyễn Đổng Chi (1972, 1973, 1975, 1982). Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập). Nxb Khoa học xã hội, H.
[3] Nguyễn Thị Huế (1999). Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, H.
[4] Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998). Văn học dân gian Việt Nam (tái bản lần thứ 3). Nxb Giáo dục, H.
[5] E.M.Mê-lê-chin-xki (1958). Nhân vật trong truyện cổ tích hoang đường xuất xứ của hình tượng. Nxb Văn học Phương Đông (Người dịch: Nguyễn Văn Đạo, Phan Hồng Giang). Bản dịch đánh máy Viện Văn học.
[6] Nôvicôva (1983). Sáng tác thơ ca dân gian Nga. Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H.
[7] Tăng Kim Ngân (1996). Cổ tích thần kỳ người Việt đặc điểm cấu tạo cốt truyện. Nxb Giáo dục, H.
[8] V.Ja.Propp (2003). Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1. Nxb Văn hóa dân tộc; Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, H.
Ảnh đại diện do Ban Tu thư thiết lập
