Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Sự hình thành thôn ấp ở Tiền Giang dưới thời các vị chúa Nguyễn (Thế kỷ XVII – XVIII) - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Sự hình thành thôn ấp ở Tiền Giang dưới thời các vị chúa Nguyễn (Thế kỷ XVII – XVIII)

Tác giả bài viết: Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC NGHIỆP
(Đại học Tiền Giang)

     Với nếp sinh hoạt xã hội có tổ chức ở quê hương bản quán mà đặc trưng chung là tính cộng đồng và tinh thần tương thân tương ái, khi vào vùng đất Tiền Giang, lưu dân người Việt đã nhanh chóng “kết thành chòm xóm1, gồm năm, mười nóc nhà để “dựa vào nhau làm ăn; đùm bọc, giúp đỡ nhau trong lúc gặp khó khăn, hoạn nạn; bảo vệ lẫn nhau, chống lại thú dữ, trộm cướp2.

     Lúc đầu, các chòm xóm thường được hình thành dọc theo tuyến sông rạch; bởi vì, ở đó, nhu cầu đi lại và nước ngọt cho sản xuất và đời sống của cư dân được đảm bảo. Lúc bấy giờ, các chòm xóm mang tính tự trị rất rõ trên tinh thần tương trợ, “tối lửa tắt đèn” có nhau, chính quyền chưa thực sự với tay đến; và chưa có những quy định nghiêm ngặt bằng lệ làng, hương ước, khoán ước như các thôn xã ở miền Ngoài vốn được thành lập từ lâu đời. Do đó, chòm xóm thường “dễ hợp, dễ tan”; tức là, nơi nào làm ăn, sinh sống dễ dàng, thuận tiện thì cư dân ở lại, theo kiểu “đất lành chim đậu”; nơi nào điều kiện tự nhiên có khó khăn thì họ bỏ đi nơi khác, có khi cả xóm cùng ra đi, để tìm một địa cuộc mới, thuận lợi hơn.

     Trong các thế kỷ XVII – XVIII, để đẩy mạnh tốc độ khai hoang, quản lý cư dân và thu thuế, Chúa Nguyễn cho thành lập trang, trại, man, nậu ở Tiền Giang3. Đây là chính sách khôn khéo của các vị chúa Nguyễn nhằm mục đích là thu thập dân chúng, đều tùy theo nghề nghiệp mà nạp thuế cho có thống thuộc, cốt yếu về việc mở mang ruộng đất, trồng tỉa hoa lợi mà thôi 4.

     Trang, trại là những đơn vị hành chính có đất đai rộng rãi và màu mỡ, dân cư khá nhiều5. Đứng đầu trang có Cai trang. Đứng đầu trại có Cai trại. ở Chợ Gạo có trại An Hòa6; ở Gò Công, hiện nay còn địa danh Trại Cá.

     Nậu cũng là nơi đất đai phì nhiêu, dân đông và chuyên về nghề ruộng. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí có chú thích về nậu như sau: “nậu là nơi bừa cỏ trong ruộng, tục xưng số đông người là nậu, ý nói hiệp đông người làm ruộng vậy1. Đứng đầu là chức Đầu nậu; danh xưng này còn tồn tại đến ngày nay.

     Man là nơi còn hoang dã, dân cư thưa thớt. Trịnh Hoài Đức giải thích man như sau: “chỗ ở liên lạc nhau gọi là man cũng như cỏ mọc liên tiếp lai rai vậy2. Đứng đầu man là Cai man3.

     Các trang, trại, man, nậu, theo quy định của chính quyền Chúa Nguyễn, đều “được lệ phụ vào Thuộc4. Thuộc là một loại hình hành chính ngang với tổng, đứng đầu là các chức Cai tri và Đốc áp5. Danh xưng thuộc, theo Sơn Nam trong quyển Đất Gia Định xưa, có lẽ là do chữ “đất thuần thục” gọi là trại mà ra6. Ở xã Dưỡng Điềm (huyện Châu Thành) có địa danh Thuộc Nhiêu; xã Long Trung (huyện Cai Lậy) có địa danh Thuộc Đẹp. Có lẽ, ông Nhiêu và ông Đẹp là người đứng đầu hai thuộc này.

     Đồng thời với việc thành lập các đơn vị hành chánh như đã kể trên; chính quyềnchúa Nguyễn từ cuối thế kỷ XVII cũng chủ trương “đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, chuẩn định thuế đinh điền và lập bộ tịch đinh điền7. Thông thường, các trang, trại, man, nậu; sau khi đã đi vào hoạt động ổn định và dân cư đông lên; thì sẽ được lập thành thôn xã. Đến năm 1790, sau khi thu phục được vùng đất Gia Định, để việc thu thuế được nhiều hơn và cũng để tăng cường sự quản lý của chính quyền Chúa Nguyễn đối với toàn bộ vùng đất này, chúa Nguyễn Phúc Ánh ban hành hai quy chế khá thông thoáng trong việc thiết lập thôn xã. Quy chế thứ nhất cho phép nơi nào quy tụ được 40 dân đinh trở lên thì được thiết lập thôn xã, có mộc triện và ban hương chức đầy đủ; nơi nào không đủ số ấy thì cũng thiết lập được thôn xã; có ban hương chức nhưng không được cấp mộc triện8. Quy chế thứ hai quy định nơi nào hợp được 10 nhà thì lập được một ấp nhỏ; nơi nào hợp được 50 nhà thì lập được một ấp lớn, có Tri ấp cai quản9.

     Việc cai quản thôn xã hồi cuối thế kỷ XVIII, theo Minh điều hương ước, do một ban hương chức đảm trách, bao gồm:

– Trùm cả: người đứng đầu thôn xã.

– Trùm chủ: người đứng thứ nhì trong thôn xã.

– Trùm nghị: người tham gia đóng góp ý kiến cho thôn xã.

– Xã trưởng: người giữ con dấu và thu thuế.

– Thủ khoán: người giữ quỹ và tài sản của thôn xã.

– Câu đương: người hòa giải các vụ xích mích, thưa kiện nhỏ trong làng.

– Tri thâu: người phụ trách việc thu thuế1.

     Các hương chức của thôn xã thường là người có điền sản, đức độ. Những hương chức tận tụy việc công, lo cho dân; thì được dân chúng kính trọng. Chẳng hạn như Trùm cả Lê Công Giám ở thôn Kim Sơn. Do có công lao lớn đối với thôn, nên sau khi mất, ông được nhân dân trong thôn thờ phụng ở đình làng như một vị Thành hoàng. Tên của ông được mọi người kiêng cữ: từ “Giám” được gọi trại thành “Giếm”. Mộ của vợ chồng ông được dân chúng quyên góp tiền bạc, xây cất to và đẹp, có lân li chầu phục. Hương chức thôn Kim Sơn từ đó về sau không cử chức Trùm cả, mà chỉ có chức Trùm chủ quyền Trùm cả mà thôi. Thậm chí, đến thời Pháp thuộc, làng này cũng chỉ có chức Đại hương chủ, chứ không cử chức Hương cả2.

     Khác với nhiều khu vực ở Nam Bộ và trên cả nước, ở Tiền Giang, đơn vị hành chính cơ sở không có xã, mà chỉ có thôn, ấp, phường mà thôi. Bởi vì, lúc mới thành lập, tất cả các thôn ở đây đều mới chỉ đạt mức chuẩn do chính quyền Chúa Nguyễn quy định về số dân đinh hay số hộ cho việc kiến lập thôn.

     Về tiến trình thành lập thôn, thì ở vùng Gò Công, Chợ Gạo, do được khai phá trước, nên thôn được thành lập sớm nhất ở Tiền Giang. Có một số thôn đã xác định được tên người và niên đại khai lập, như thôn Bình Phục Nhứt do Trần Văn Giồng lập và thôn Bình Trị do Trần Văn Sủng lập đều vào năm 17433. Tiếp theo, việc lập thôn lan dần đến vùng Mỹ Tho, Châu Thành, như thôn Điều Hòa do Nguyễn Văn Trước lập, thôn Kim Sơn do Lê Công Giám lập. Niên đại của ba thôn này chưa xác định được, nhưng có lẽ vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Sau cùng, là đến vùng Cai Lậy, Cái Bè; như các thôn Hội Sơn, Xuân Sơn (nay là xã Hội Xuân, huyện Cai Lậy), Cẩm Sơn, Thanh Sơn (nay thuộc xã Thanh Hòa và thị trấn Cai Lậy), Phú Sơn (nay thuộc xã Phú An, huyện Cai Lậy), Tân Sơn (nay thuộc xã Ngũ Hiệp) đều được lập năm 1785. Riêng hai thôn Hội Sơn và Xuân Sơn do Nguyễn Văn Cối lập.

     Tên của thôn ấp thường do những người đứng ra làm đơn xin đặt tên; nhưng phải phản ánh được nguyện vọng của dân chúng là mong muốn được an bình làm ăn, may mắn trong cuộc sống và no đủ sung túc. Vì thế, tên của thôn ấp thường được mang những mỹ từ, như: Phú, Quý, Bình, An, Hòa, Thạnh, Tân… Vùng Gò Công, Chợ Gạo, tên thôn thường bắt đầu bằng các chữ Vĩnh, Bình, Long, Yên, Đồng, Tân. Còn vùng Cai Lậy, Cái Bè thì thường bắt đầu từ chữ Mỹ; riêng các nơi dọc theo sông Ba Rài, tên thôn có chung chữ Sơn ở cuối.

     Do dân số đông; hoặc do thôn quá lớn, khó quản lý, cần phải tách ra; hoặc do dân từ các nơi khác đến khẩn hoang, mà thôn mới được hình thành. Ở Tiền Giang, tên của thôn mới thường dựa trên nguyên tắc là tên của thôn cũ kết hợp với các từ chỉ phương hướng (đông, tây, nam, bắc); thí dụ như : Tân Hương – Tân Hương Tây – Tân Hương Đông.

     Nhưng, có một số trường hợp, các từ chỉ phương hướng không đúng với thực tế. Như các thôn có tên chung là Bình Chánh. Nguyên khi mới thành lập, thôn có tên là Bình Chánh. Sau đó, tách ra lập thành một làng mới ở phía đông, gọi là Bình Chánh Đông. Rồi lại tách tiếp, lập thêm một làng mới ở về phía cực đông, nhưng được gọi là Bình Chánh Trung. Dân số của thôn ngày càng đông, trong khi điền thổ có hạn, cho nên một số người chuyển vào rạch Bà Thửa ở về phía bắc của thôn cũ, lập ra một thôn mới là Bình Chánh Tây. Hoặc như thôn Tân Lý Tây ở về hướng đông và Tân Lý Đông ở về hướng tây. Lý giải về điều này, Hồ Trung Tú viết trong tiểu luận 100 năm Mỹ Sơn, nhìn lại … như sau: Ở Quảng Nam, cái kiểu gọi địa danh tây sang đông và đông sang tây như thế là vô khối, không thể kể hết. Giáo sư Trần Quốc Vượng bảo, chỉ vì ông bà mình ngày xưa vào đây, lạ nước, lạ cái, nên phải sử dụng bản đồ của người Chàm. Mà người Chàm thì lại dùng bản đồ theo kiểu của người ả rập là phương Nam đặt lên trên. Chính vì thế mà tây mới lộn sang đông và ngược lại. ở Quảng Nam điều đó không lạ, bởi lúc ấy, sau năm 1306, vùng đất này xa xôi quá. Còn con người vào đây là những nhóm người nhỏ bé, mới thoát ra từ một ngàn năm đô hộ của nền văn minh Trung Hoa, không thể không kinh hãi trước những pho tượng đá lạ lẫm, dữ dằn. Nhưng với Sài Gòn và Nam bộ cách nay 300 năm mà vẫn cứ còn quen thuộc với cái phương nam đặt lên trên như thế thì cũng là điều đáng để ngạc nhiên. Nó chứng tỏ cái sức sống dai dẳng của cái bản đồ ấy1.

     Đồng thời, tên thôn mới còn được cấu tạo theo nguyên tắc: tên thôn cũ cộng các chữ số (nhất, nhị); như Bình Phục Nhứt và Bình Phục Nhị. Không có trường hợp nào, tên thôn mới được đặt trên cơ sở tên thôn cũ cộng với các từ chỉ vị trí (thượng, hạ). Lại có trường hợp tên thôn di chuyển khá xa; như thôn Mỹ Thuận (Cái Bè) và thôn Mỹ Thuận (Châu Thành). Sở dĩ có tình trạng đó, là do sự phiêu tán của nhân dân hoặc vì giặc cướp hoặc vì đói kém mà ra. Một số người từ thôn cũ ra đi và khi đến nơi định cư mới, họ đã lấy tên thôn cũ đặt cho thôn mới thành lập.

     Ngoài “mỹ danh” ra, thôn còn có “tục danh”, như thôn Phú Mỹ có “tục danh” là Củ Chi, thôn Bình Đăng là Ông Văn, thôn Lương Phú là Bến Tranh, thôn An Đức là Xoài Miệt (hay Xoài Mút hoặc Xoài Hột), thôn Phú Kiết là Thang Trông, thôn Long Hội là Bến Chùa… Duy có một thôn không có “mỹ danh”; mà chỉ có “tục danh” là thôn Miếu Ông (Miếu Ông: miếu thờ cá Ông, được các vua triều Nguyễn phong là “Đại càn Nam hải Đại tướng quân”) 2.

     Ngoài những thôn thông thường, ở Tiền Giang còn có một số thôn có điều khác biệt. Trường hợp thứ nhất là, ha) thôn cùng “liên danh” với nhau, như Tăng Huy – An Hòa nhị thôn1. Hiện chưa có tư liệu để lý giải vấn đề này. Chỉ biết rằng, dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840), hai thôn này hợp nhất lại thành một thôn, lấy tên là Tăng Hòa 2. Trường hợp thứ hai là thôn giang trạm Điều Hòa3. Thôn này nằm ở nơi thông lưu giữa sông Mỹ Tho và kênh Vũng Gù; có một vị trí quan trọng về giao thông đường thủy, cho nên, chính quyền chúa Nguyễn có đặt một trạm sông ở đây, để làm công tác chuyển vận công văn, thư từ.

     Bên cạnh sự hiện diện của thôn, ở Tiền Giang còn có phường và ấp; nhưng mỗi loại hình chỉ có một đơn vị mà thôi. Đó là phường Toàn Phước và ấp An Hòa. Phường nguyên là loại hình hành chính quy tụ những hộ cùng làm một nghề thủ công, sau mới có địa phận lập làng4. Chưa có tư liệu nói về phường Toàn Phước chuyên làm mặt hàng thủ công nghiệp nào; và được hưởng cơ chế hành chính như thôn khi nào. ấp là loại hình hành chính có diện tích và dân số ít hơn thôn, xuất hiện từ buổi đầu khẩn hoang; và cũng như thôn, dân chúng canh tác nông nghiệp là chính yếu.

     Quy mô các thôn ở Tiền Giang lớn nhỏ khác nhau. Có 60 thôn có diện tích trên 1.000 mẫu; nhưng cũng có 35 thôn có diện tích dưới 300 mẫu; trong số đó, thôn có diện tích nhiều nhất là Bình Ân (4.730 mẫu), thôn có diện tích nhỏ nhất là Mỹ An Tây (17 mẫu)5,30.

     Như vậy, đến cuối thế kỷ XVIII, nhờ chính sách khẩn hoang và thiết lập bộ máy hành chính ở cơ sở của chính quyền Chúa Nguyễn, hệ thống thôn ấp ở Tiền Giang đã được hình thành và đi vào ổn định. Điều đó có tác dụng tích cực trong việc tiếp tục đẩy mạnh tốc độ khai hoang và phát triển kinh tế – xã hội của Tiền Giang nói riêng và Nam bộ nói chung. Đồng thời, nó cũng chứng tỏ rằng, lưu dân “đã được vào tổ chức chính thức, đã được công nhận quyền lợi chiếm đất và phải có bổn phận đóng thuế đinh, thuế điền31. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh cho quốc gia trong việc ổn cố vùng đất mới khai thác ở phương Nam.

 

__________
1 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập hạ, bản dịch của Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1972.

2 Huỳnh Lứa (Chủ biên), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1981, tr. 55.

3 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập trung, bản dịch của Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1972, tr. 55.

4 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 55.

5 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 119.

6 Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Định Tường, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr. 227.

1 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 55.

2 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 55.

3 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 1), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Sài Gòn, 1972, tr. 306.

4 Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 281.

5 Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 281.

6 Sơn Nam, Đất Gia Định xưa, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1984, tr. 102.

7 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 12.

8 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (tập 2), bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1966, tr. 115.

9 Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 124.

1 Trương Ngọc Tường, Làng xã cổ truyền ở Nam Bộ qua Minh điều hương ước, Tạp chí Xưa và Nay (số58B), 1998, tr. 26.

2, 20 Tư liệu điền dã.

3, 19, 21 Monographie de la province de Mitho (1902).

1 Hồ Trung Tú, 100 năm Mỹ Sơn nhìn lại, Tạp chí Xưa và Nay (số chuyên đề), 1998, tr. 19.

2 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 36.

1 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 64.

2 Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Gia Định, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr. 487.

3 Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 60.

4, 28 Trần Thị Thu Lương, Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr. 243.

5, 30 Nguyễn Đình Đầu, Sđd, tr. 172-300.

31 Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr. 68.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Sự hình thành thôn ấp ở Tiền Giang dưới thời các vị chúa Nguyễn (Thế kỷ XVII – XVIII) – Tác giả: TS Nguyễn Phúc Nghiệp