THÀNH NGỮ VIỆT và VĂN HOÁ VIỆT qua TRUYỆN NGẮN của NGUYÊN HỒNG (Phần 1)

LÊ THANH HƯƠNG
(Thạc sĩ, Viện Ngôn ngữ học)

1. Mở đầu

     Nguyên Hồng là một trong các nhà văn có quá trình sáng tác liên tục và đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, gồm nhiều thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí, bút kí và thơ. Nhiều tác phẩm của ông đã rất thành công và góp phần vào những thành tựu rực rỡ cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

     Khác với các thể loại văn xuôi khác, truyện ngắn là một thể loại khó, đòi hỏi sự cô đọng. Trong truyện ngắn, người viết không thể lan man, dàn trải những quan sát, suy ngẫm trong miêu tả tình huống, khắc họa tính cách nhân vật mà phải hết sức hàm súc và cô đọng. Có thể nói, Nguyên Hồng đã rất thành công trong lĩnh vực này.

     Truyện ngắn của Nguyên Hồng với những đặc điểm riêng biệt của thành ngữ tiếng Việt không chỉ góp phần làm nổi bật nét độc đáo trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng mà còn thể hiện đặc sắc nét đặc trưng riêng của nền văn hoá Việt Nam.

     Đối tượng nghiên cứu của bài viết là 53 truyện ngắn trong Nguyên Hồng toàn tập, NXB Văn học, 2008, do Phan Cự Đệ sưu tầm và giới thiệu.

2. Số lượng thành ngữ

     Chất liệu thành ngữ với những sáng tạo mới mẻ đã làm cho vốn từ tiếng Việt của Nguyên Hồng thêm phong phú và sâu sắc. Có thể nói, đây là một sáng tạo độc đáo trong truyện ngắn của Nguyên Hồng.

     Có 95 thành ngữ được sử dụng trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng. Trong đó, có nhiều thành ngữ được sử dụng lặp lại. Tổng số lần sử dụng lặp lại của thành ngữ lên đến 145 lần. Tỉ lệ sử dụng như vậy là khá nhiều. Trong đó, có 4 thành ngữ 3 âm tiết và không có sự lặp lại. Số lượng thành ngữ 4 âm tiết là 91 thành ngữ.

     Chúng ta có bảng sau:

     Thành ngữ gồm 3 âm tiết không lặp lại. Ví dụ:

     (1) Nàng hết sức kháng cự nhưng hai bàn tay Năm cứng như sắt. [2; 91]

     (2) Đứa bé, đứa lớn quấy khóc như rươi thế này thì còn đi cất hàng cất họ gì được. [2; 232]

     (3) Bên ngoài đen như mực. [2; 613]

     (4) Nhanh như cắt, anh lộn vào trong khoang,… [2; 169]

     Thành ngữ gồm 3 âm tiết đều thuộc thành ngữ so sánh. Thành ngữ so sánh tiếng Việt được xuất hiện ở mẫu tổng quát nhất là: A như B. Trong đó, A là đối tượng so sánh, như là quan hệ so sánh, B là đối chứng so sánh.

     Quan hệ cụ thể giữa A và B trong cấu trúc thành ngữ so sánh gồm 3 âm tiết được biểu hiện cụ thể như sau:

     Trước hết, A là tính chất của sự vật được so sánh, biểu hiện bằng các tính từ (cứng, đen, nhanh), động từ (khóc). Điều cần so sánh trong đối chứng lại không phải là bản thân các sự vật mà chính là tính chất điển hình mà các sự vật ấy biểu thị (sắt, rươi, mực, cắt), chẳng hạn “sắt” trong “cứng như sắt”. Bởi lẽ, “sắt” có đặc tính “cứng”, biểu trưng cho tính chất cứng ở mức độ cao thuộc đặc tính vật lí, đồng thời cũng biểu trưng cho cơ bắp, thể lực thuộc đặc tính của con người.

     Thành ngữ 3 âm tiết xuất hiện trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng đều sử dụng từ quan hệ so sánh “như”. Đối tượng so sánh và đối chứng so sánh đều rất dễ hiểu, dễ cảm nhận và vì vậy, nó trở nên quen thuộc với tất cả mọi người. Điều này cũng phù hợp với phong cách văn chương của Nguyên Hồng khi nhân vật trong truyện ngắn của ông phần nhiều là những người dân lao động nghèo khổ.

     Số lượng thành ngữ 3 âm tiết và thành ngữ 4 âm tiết được thể hiện cụ thể qua biểu đồ sau:

Hình: Biểu đồ so sánh số lượng thành ngữ 3 âm tiết và thành ngữ 4 âm tiết.

     Thành ngữ 4 âm tiết chiếm số lượng lớn hơn hẳn so với thành ngữ 3 âm tiết. Và vì vậy, chúng có những nét đặc trưng riêng, quy luật và cụ thể trong phân tích dưới đây.

3. Thành ngữ 4 âm tiết trong truyện ngắn của Nguyên Hồng

     3.1. Tần số sử dụng

     Thành ngữ 4 âm tiết lặp lại nhiều nhất là Đầu tắt mặt tối với 14 lần sử dụng. Các thành ngữ còn lại có tần số sử dụng ít hơn. Số liệu cụ thể được thể hiện trong bảng khảo sát dưới đây:

     Bảng khảo sát các thành ngữ 4 âm tiết được sử dụng nhiều nhất

     Hầu hết các thành ngữ đều được sử dụng lặp lại. Thành ngữ được sử dụng lặp lại nhiều nhất là Đầu tắt mặt tối, với 14 lần. Các thành ngữ Đầu đường xó chợ, Tha phương cầu thực, Hang cùng ngõ hẻm xếp sau với lần lượt 6, 5, 4 lần xuất hiện. Trong khi đó, các thành ngữ còn lại chỉ có từ 2 đến 3 lần lặp lại.

     Nhìn chung, các thành ngữ được sử dụng nhiều trong truyện ngắn của Nguyên Hồng phần lớn đều thể hiện nội dung về sự lam lũ, khó nhọc, sự lo toan, vất vả của những cảnh đời bất hạnh và bần cùng trong xã hội.

     Thành ngữ được sử dụng nhiều nhất là Đầu tắt mặt tối với 14 lần xuất hiện, vượt xa các thành ngữ còn lại. Theo Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, ý nghĩa của Đầu tắt mặt tối: “Làm lụng vất vả quần quật suốt ngày, hết việc này đến việc khác, không có thời gian thư giãn, rỗi rãi”. [11 ; 296]; Theo lí giải của Từ điển thành ngữ – tục ngữ – ca dao Việt Nam, thành ngữ Đầu tắt mặt tối: “chỉ sự làm việc quá độ, làm việc đến quên ăn, quên nghỉ, quên ngày, quên giờ, vì công việc thúc ép phải làm cho xong. Nhà Nông của ta đều phải làm việc như vậy trong suốt vụ mùa. Khi đã làm không nghĩ đến việc ngưng tay, ngơi nghỉ” [1; 487]. Xét cả hai cách lí giải trên, thành ngữ Đầu tắt mặt tối nhằm chỉ sự lam lũ, vất vả của người lao động đói rách, thiếu thốn, nghèo khổ quanh năm phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Như vậy, có thể nói thành ngữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng đã được sử dụng một cách hiệu quả và không những thế, nó còn mang đến sự liên tưởng phong phú và chân thực về công việc của người dân lao động Việt Nam, là điển hình của một đất nước nông nghiệp. Chẳng hạn:

     (5) Vài cô mới đi lấy chồng kẻ vừa có con, kẻ đương to bụng, còn thì đều ở nhà làm lụng quần quật chờ một ngày kia về làm dâu con một gia đình mà cha mẹ kén chọn để rồi cũng lại đầu tắt mặt tối. [2; 197-198].

     (6) Đã mấy mươi năm ròng rồi, bà mẹ ít nói, ít cười ấy dãi dầu làm lụng đầu tắt mặt tối trong một gia đình nề nếp: bố chồng trước là ông đồ, chồng là ông đồ, mẹ chồng chất phác và nhịn nhục cũng như bà. [2; 224-225]

     (7) Nhưng, ở cái nụ cười luôn mở rộng ấy vẫn thắm thiết cái vẻ hiền từ và chịu đựng của một lòng mẹ già chỉ biết có con và cháu trong cái cảnh đầu tắt mặt tối đổ mồ hôi lấy bát cơm ăn. [2; 274]

     Những thành ngữ còn lại cũng xuất hiện với ý đồ miêu tả sự thiếu thốn, túng quẫn của người dân nghèo mạt hạng. Chẳng hạn:

     (8) Họ – hơn hai chục con người vừa đàn bà vừa đàn ông, chen vai thích cánh nhau trong cái không khí ngùn ngụt của căn nhà lá úp xúp ấy. [2; 227]

     (9) Những con người cùng khổ không còn thấy chút nghĩa lí trong những công việc dằng dặc của mình: buôn bán đầu đường xó chợ, kéo xe, khuân vác,… [2; 229]

     Hình tượng nhân vật hiện lên qua chất liệu thành ngữ điển hình với cuộc sống của những con người cùng khổ, những người đàn bà dân nghèo và những trẻ em con nhà nghèo. Đó là những nhân vật “nặng kí” xuất hiện hầu khắp trong các trang truyện tạo nên những hình tượng đặc sắc, góp phần thể hiện phong cách ngôn ngữ nghệ thuật rất riêng của nhà văn Nguyên Hồng.

     Ngoài ra, cách sử dụng lặp lại các thành ngữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng còn nhằm nhấn mạnh đến tư duy và cách liên tưởng phong phú và sâu sắc của người dân Việt Nam về sự khó khăn và vất vả trong công việc của mình.

Còn tiếp:

Mời xem: THÀNH NGỮ VIỆT và VĂN HOÁ VIỆT qua TRUYỆN NGẮN của NGUYÊN HỒNG (Phần 2)