Tình hình BỆNH KÝ SINH TRÙNG hiện nay ở nước ta (Phần 1)
TRẦN THỊ KIM DUNG
(Giáo sư, tiến sĩ – Chuyên ngành Ký sinh học)
TÓM TẮT
Ở Việt Nam hiện nay, tình hình nhiễm ký sinh trùng có chiều hướng thay đổi: những bệnh ký sinh trùng cổ điển, đặc hiệu của người thì giảm đi trong khi những bệnh ký sinh trùng ở thú truyền qua người, bệnh cơ hội lại tăng lên. Đó là các bệnh: bệnh gạo heo do Toenia solium, bệnh sán lá lớn ở gan do Fasciola gigantica, bệnh sán lá phổi do Pagagonimus sp., bệnh giun Gnathostoma spinigerum, bệnh giun đũa chó do Toxocara canis, bệnh giun lươn do Strongyloides stercoralis…
Người nhiễm bệnh do tập quán, thói quen sinh hoạt… và do điều kiện sống. Một số bệnh tập trung ở vài nơi, một số thì phổ biến rộng rãi.
Biểu hiện lâm sàng không có gì đặc trưng, khó phân biệt với một số bệnh nhiễm do nguyên nhân khác. Thầy thuốc cần phải chú ý đến vùng dịch tễ, công thức máu, kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng khác để chẩn đoán chính xác.
SUMMARY
THE SITUATION ABOUT PARASITIC DISEASES
AT PRESENT IN VIET NAM
In Viet Nam, at the present time, the direction of parasitic disease is changing: the classic, specific human diseases are decreasing, in the meantime, the zoonose transmitted to human, the opportunistic diseases are increasing. They are: cysticercosis is caused by Toenia solium, fascioliasis by Fasciola gigantica, paragonemiasis by Pagagonimus sp., gnathostomiasis by Gnathostoma spinigerum, toxocariasis by Toxocara canis, and strongylodiasis by Strongyloides stercoralis…
People get these diseases because of their habits and because of their living conditions. Some diseases can only exist somewhere, some can exist everywhere.
Their clinical manifestations aren’t special; they are hard to tell it apart from other infected diseases. Doctors should pay attention to the epidemic area, blood formula and other sub-clinical tests to diagnose exactly.
x
x x
Tình hình bệnh ký sinh trùng (KST) ở ta đang có chiều hướng thay đổi: những bệnh KST đường ruột cổ điển, đặc hiệu của người giảm dần đi như bệnh giun đũa, giun tóc, giun móc, amip… bệnh do côn trùng truyền như sốt rét, giun chỉ… Tình hình bệnh giảm đi như thế là do kinh tế ngày càng phát triển, ý thức của người dân cũng như các phương tiện phòng chống bệnh cũng vì thế mà phong phú, hiệu quả hơn.
Trong tình hình bệnh cổ điển giảm dần thì bệnh từ động vật có xương sống truyền sang người lại gia tăng. Những KST này có tính đa dạng về mặt phân loại, về mặt nguồn gốc [1, 5]. Các giai đoạn tăng trưởng của chúng ký sinh trên nhiều loại động vật, thực vật ở quanh người : từ rau sống đến các sinh vật thủy sinh như tôm, cua, cá, ếch, lươn…, những động vật có vú nuôi và thú hoang dã nữa [12].
Ngoài ra, chúng ta còn phải đối phó với những bệnh do những KST, những vi nấm mà trong thể tạng bình thường thì không gây bệnh hay gây bệnh không đáng kể nhưng trong thể trạng suy giảm miễn dịch lại gây ra bệnh nặng không lường được. Đó là những bệnh KST và vi nấm cơ hội.
Không còn nghi ngờ gì nữa, bệnh cổ điển đang giảm đi trong khi bệnh từ động vật truyền sang người, bệnh cơ hội đang có chiều hướng phát triển. Trước tình hình đó, chúng tôi sẽ khái quát một số bệnh KST cần quan tâm hiện nay.
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm quanh năm, là điều kiện thuận lợi để KST tồn tại, lưu hành. Lại do tập quán sinh hoạt, ẩm thực… khiến bệnh KST có nhiều cơ hội xâm nhập vào người. Biểu hiện lâm sàng bệnh nhiễm KST không đặc sắc, dễ lầm với các bệnh nội khoa, bệnh nhiễm trùng khác : nhức đầu, động kinh, đau bụng, sốt, ho, ngứa, tiêu chảy, vàng da…. Vì vậy, các bác sĩ điều trị cũng như dân chúng nên nghĩ đến hướng do KST sau khi điều trị các nguyên nhân khác mà bệnh không thuyên giảm. Một số bệnh KST nên quan tâm hiện nay là :
1. Bệnh do gạo heo Cysticercus cellulosae :
Bệnh gạo trên người gây ra bởi dạng ấu trùng của sán dải heo Toenia solium. Con trưởng thành sống bám ở ruột non người. Ký chủ trung gian là heo, chứa giai đoạn ấu trùng gọi là gạo heo (Cysticercus cellulosae). Người có thể mắc bệnh gạo heo theo hai cách :
– Nuốt trứng sán có phôi vì ăn nhằm đồ ăn hay tay vấy phân. Nuốt theo cách này thì số lượng trứng sán nuốt vào không nhiều lắm.
– Tự nhiễm : bình thường thì các đốt già của sán trong ruột người theo phân ra ngoài. Tình cờ vài đốt già sau khi tách khỏi sán lại bị đưa ngược lên dạ dày bởi những phân nhu động ruột. Dịch vị sẽ làm tan rã đốt và phóng thích trứng có phôi. Số lượng phôi lan tràn trong cơ thể rất nhiều, gây nên sự nhiễm toàn thân.
Bệnh gây ra do sán dải heo trưởng thành ký sinh ở ruột non người (khi người ăn phải thịt heo gạo) thì không phải là một bệnh nặng, chỉ đau bụng lâm râm, đôi khi tiêu chảy… nhưng bệnh gạo heo là một bệnh nặng, tiên lượng xấu. Ở nước ta thực phẩm thường dùng trong bữa ăn là thịt heo, nhất là những món ăn mà thịt heo không chín hẳn khi nướng, tái… thì chuyện nhiễm sán ở giai đoạn trưởng thành là chuyện phải xảy ra. Khi có sán trưởng thành trong ruột thì nguy cơ mắc bệnh gạo heo theo con đường tự nhiễm là khó tránh khỏi.
Năm 1987, trường hợp bệnh gạo heo đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh đã được chúng tôi phát hiện bằng kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh miễn dịch học (ELISA). Bệnh nhân nhập bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh, soi đáy mắt nghi ngờ có một KST, chẩn đoán miễn dịch học phát hiện kháng thể kháng gạo heo thì dương tính [3].
Từ trường hợp đầu tiên này cho đến nay, chúng tôi đã chẩn đoán được hàng ngàn trường hợp dương tính cho các khoa Mắt, khoa Nội thần kinh, khoa Nhiễm tại các bệnh viện tại TP.HCM và các tỉnh, kết quả phù hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng khác như sinh thiết, CT scan và với điều trị đặc hiệu [10].
2. Bệnh do sán lá lớn ở gan Fasciola sp. [4, 5, 6, 11]
Bệnh do sán lá lớn ở gan gây ra bởi Fasciola hepatica (châu Âu) hay Fasciola gigantica (châu Á) ký sinh ở ống dẫn mật gia súc ăn cỏ như cừu, trâu, bò… và heo. Người chỉ là ký chủ tình cờ. Khi ký sinh ở người, cả hai loại đều cho cùng một triệu chứng lâm sàng rất giống với các bệnh nội khoa hoặc bệnh nhiễm khác là đau bụng, sốt…
Lúc trưởng thành, sán này sống trong ống dẫn mật, đẻ trứng có nắp. Trứng theo phân ra ngoài và chỉ có thể phát triển nếu gặp nước để nở ra ấu trùng lông. Ấu trùng này bơi được là nhờ những lông tơ rung động quanh thân và do một ứng động đặc biệt, nó tìm một loại ốc đặc thù và phát triển thành nhiều ấu trùng đuôi trong ốc. Sau khi rời ốc nó bơi một lúc, mất đuôi, biến thành nang trùng bám dính vào thực vật thủy sinh.
Súc vật và người bị nhiễm do uống nước hay ăn phải thực vật thủy sinh có chứa nang trùng.
Khi vào ống tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng sẽ đi ngang qua thành ruột, vào màng bụng, xuyên qua mô gan, trưởng thành trong ống mật độ 3 tháng sau. Lúc sán đang ở trong mô gan, người bệnh đau bụng, thường ở phía hạ sườn phải, sốt, bạch cầu toan tính trong máu tăng cao có khi lên đến 70% (bình thường 0 – 2%). Lúc sán định vị trong ống mật, bệnh nhân vàng da, tắc mật đưa tới xơ gan, viêm túi mật.
Chẩn đoán lâm sàng tương đối khó vì những biểu hiện trên thường không đặc sắc, dễ nhầm với các bệnh khác. Chẩn đoán cận lâm sàng bằng cách tìm trứng trong phân hay trong dịch mật thường âm tính vì đa số bệnh nhân có thời gian đau trước khi nhập viện dưới 3 tháng, là thời gian KST còn non, chưa đẻ trứng được. Vì vậy, chẩn đoán miễn dịch học phát hiện kháng thể kháng sán trong huyết thanh bệnh nhân đã được chúng tôi sử dụng từ năm 1991. Năm đó, có một bệnh nhân nam, 23 tuổi, quê quán Bình Định, nhập bệnh viện Nguyễn Trãi TP.HCM với chẩn đoán ban đầu là ung thư máu vì có bạch cầu toan tính trong máu cao 70%. Trong một lần tái nhập viện để tiếp tục điều trị ung thư máu, bất ngờ có một mụn nước rất ngứa nổi lên ở gần rốn, bác sĩ đã khều ra được một KST (do sán lạc chỗ), đã được chúng tôi xác định là sán lá lớn ở gan còn non. Xét nghiệm phân và dịch mật thấy có trứng sán. Bệnh nhân được điều trị đặc hiệu sán và khỏi bệnh hoàn toàn.
Từ đó đến nay, chúng tôi đã chẩn đoán được hàng chục ngàn trường hợp dương tính, trải dài từ miền Bắc đến miền Trung. Đặc biệt bệnh này chưa thấy lưu hành ở các tỉnh miền Nam. Với kỹ thuật chẩn đoán đã chuyển giao cho các cơ sở y tế địa phương, số lượng bệnh nhân nhập viện TP.HCM giảm hẳn. Các bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị tại địa phương, tiết kiệm được nhiều thời gian và tiền bạc [13].
Năm 2000, chúng tôi đã báo cáo Việt Nam có bệnh này tại Hội nghị Quốc tế tại Bangkok, Thái Lan về bệnh từ thú truyền sang người qua thực phẩm. Lần đầu tiên, Tổ chức Y tế thế giới được biết thông tin này, tạo điều kiện viện trợ thuốc uống đặc hiệu để ta điều trị bệnh [7], thay thế cho loại thuốc chích rất đau và có độc tính mà nước ta phải dùng vì chưa có thuốc uống (chích 10 ngày, uống một lần duy nhất).
Năm 2002, một viên chức cấp cao ở nước ta cũng bị chẩn đoán là ung thư gan qua nhiều cuộc hội chẩn với nhiều chuyên gia y tế trong và ngoài nước. Kết luận này làm ông hoàn toàn suy sụp. Chúng tôi đã chẩn đoán là ông bị nhiễm sán lá lớn ở gan chứ không phải ung thư gan. Từ kết quả này, ông được điều trị đặc hiệu, khỏi bệnh hoàn toàn. Sau này, khi chúng tôi hỏi tại sao lại nghĩ đến hướng bệnh nhiễm KST thì ông cho biết chính cố Giáo sư Tôn Thất Bách khi đó là Hiệu trưởng Đại học Y khoa Hà Nội, dù thuộc chuyên khoa Ngoại nhưng vẫn nhận ra công thức máu có vấn đề, gợi ý cho Giáo sư nghĩ đến bệnh nhiễm KST, nhưng muốn biết là KST nào cần phải có sự hợp tác với những nhà KST y học.
Năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới cử 5 chuyên gia KST đến làm việc tại một bệnh viện ở miền Trung để trực tiếp tìm hiểu về tình hình bệnh nhiễm này tại Việt Nam. Hai nhóm nghiên cứu gồm các bác sĩ tại bệnh viện và nhóm của chuyên gia Y tế thế giới đã làm việc độc lập trong 1 tuần trên 50 bệnh nhân có vấn đề về gan mật đang điều trị nội trú tại thời điểm nghiên cứu. So sánh kết quả, kỹ thuật chẩn đoán miễn dịch mà chúng tôi đã chuyển giao cho bệnh viện này dương tính 48/50 bệnh nhân, phù hợp 100% với kết quả của Tổ chức Y tế thế giới.
Hiện nay, việc chẩn đoán bằng phương pháp miễn dịch học này vẫn đang được chúng tôi thực hiện với sinh phẩm tự chế. Giá thành xét nghiệm không quá cao, góp phần tạo thuận lợi cho việc chăm lo sức khỏe cộng đồng.
3. Bệnh do sán lá phổi Paragonimus sp.
Sán lá phổi Paragonimus sp. có thân giống như hạt cà phê, sống trong phổi loài hữu nhũ như chó nhà, chó rừng, heo nhà, heo rừng… Người chỉ là ký chủ tình cờ.
Trứng theo đờm ra ngoài, cho ra ấu trùng lông. Chu trình phát triển phải qua hai ký chủ trung gian, một là oài ốc đặc thù của nó, hai là những loại tôm, cua nước ngọt và biến thành nang trùng ở cơ của những con giáp xác đó. Người mắc bệnh vì ăn nhằm tôm, cua bị nhiễm nấu không chín. Khi vào tới ruột non, ấu trùng sán xuyên qua thành ruột tới xoang bụng, ở đó độ 30 ngày rồi đi ngang qua cơ hoành, màng phổi để tới phế quản.
Bệnh biểu hiện bằng những cơn ho có đờm lẫn máu, dễ lầm với lao phổi. Đờm thường màu rỉ sắt, có khi ho ra máu thật sự. Ký sinh trùng lây truyền được là do tập quán hay ăn tôm cua nước ngọt tái, sống có chứa nang trùng.
Nhằm góp phần chẩn đoán và điều trị bệnh này, chúng tôi đã hoàn chỉnh kỹ thuật ELISA để chẩn đoán miễn dịch học, có thể phát hiện bệnh sớm vì khi sán còn non thì không thể tìm thấy trứng trong phân và trong đờm.
Theo y văn nước ta thì cả trăm năm nay chỉ có mười mấy trường hợp nhiễm sán lá phổi được báo cáo lẻ tẻ, không có báo cáo nào khoanh vùng dịch tễ. Đến năm 1994, Viện Lao Hà Nội đã tình cờ tìm được trứng của sán này trong đờm của một bé trai 8 tuổi, quê quán ở Sìn Hồ, Lai Châu. Bé trai này trước đó đã bị điều trị lầm là lao trong hai năm, bệnh càng ngày càng nặng thêm, cuối cùng phát hiện là nhiễm sán lá phổi. Năm 1996, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã hợp tác với các nhà khoa học tại Hà Nội, điều tra dịch tễ học bệnh này tại huyện Sìn Hồ. Kỹ thuật ELISA đã được sử dụng, cho tỷ lệ kháng thể dương tính là 10% trong số học sinh trung học cơ sở khỏe mạnh tại huyện miền núi này. Chúng tôi hy vọng rằng kỹ thuật miễn dịch này sẽ được ứng dụng rộng rãi để tìm hiểu tình hình sán lá phổi tại nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh biên giới phía Bắc.
Ảnh đại diện do Ban Tu thư thiết lập.
Còn tiếp:
