Từ LỤC VÂN TIÊN đến CA DAO (Phần 1)

     Trong văn học Việt Nam, hai tác phẩm thơ Nôm đã có những ảnh hưởng khá sâu đậm đến đời sống của nhân dân, đó là truyện Kiều, còn gọi là truyện Kim Vân Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du (1765-1820) và truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, còn gọi là Đồ Chiểu (1822-1888). Theo nhận xét của nhà bình luận thơ Hoài Thanh, tác giả Thi Nhân Việt Nam được nhà biên khảo văn học Nguyễn Văn Xuân dẫn lại, thì “…từ bên kia Hải Vân ra Bắc người ta đọc truyện Kiều. Từ bên này vào Nam, người ta đọc Lục Vân Tiên. Nói như thế không phải quyển này và quyển kia không ảnh hưởng tới miền kế cận.” (1)

     Quả đúng như Hoài Thanh đã nhận xét, tuy nhiên, ảnh hưởng của Lục Vân Tiên vào văn học dân gian miền ngoài không nhiều như ảnh hưởng của Truyện Kiều vào văn học dân gian phía nam Hải Vân (tức từ Quảng Nam trở vào). Vào Nam cho đến tận vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa kia, chúng ta nhiều lần bắt gặp những nhân vật tiêu biểu của truyện Kiều, nhất là Thúy Kiều và Kim Trọng trong ca dao dân ca vùng này. Trong lúc đó, chúng ta họa hoằn mới gặp được nhân vật tiêu biểu Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga của Đồ Chiểu trong ca dao dân ca miền ngoài.

     Điều này cũng dễ hiểu thôi. Quần chúng đất Bắc chịu ảnh hưởng loại văn chương văn hoa chải chuốt của truyện Kiều, truyện Hoa Tiên, của Bích Câu Kỳ Ngộ, Mai Đình Mộng Ký, của Cung Oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc…Họ có đọc Lục Vân Tiên và có thích Lục Vân Tiên là thích những nhận vật bộc trực trong cách hành xử và trong cách ăn nói nhưng văn chương Lục Vân Tiên là văn chương thật thà, bình dân, viết theo ngôn ngữ thường ngày của người miền Nam đã không làm cho họ có cảm hứng để tiếp nhận. Vì vậy, họa hoằn lắm chúng ta mới bắt gặp được vài nhân vật của truyện Lục Vân Tiên được nhắc đến trong văn nghệ dân gian đất Bắc. Chẳng hạn câu sau đây trong lời hát rao của hát Phường Vải vùng Thanh Nghệ Tĩnh:

Tình cờ ta lại gặp ta,
Vân Tiên mới gặp Nguyệt Nga một lần

     Câu ca dao có vẻ bình thường, nghe thật thà như văn chương của truyện Lục Vân Tiên nhưng nó cũng đã nói lên được giá trị đặc biệt của tác phẩm mà câu ca dao đã chuyển tải. Quả đúng là cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là một cuộc gặp gỡ tình cờ. Và quả là họ chỉ gặp nhau có một lần rồi phải xa nhau cho đến cuối truyện họ mới được tái hợp trong một hoàn cảnh đầy vẻ mơ ước. Vậy thì, câu ca dao trên đây, dù thật thà mộc mạc, nhưng cũng đã nói lên được ước vọng của hai con người – một nam và một nữ – dù mới gặp mặt nhau một lần họ cũng ước mong giữ mãi được mối tình thủy chung như Nguyệt Nga đối với Vân Tiên và họ cũng ước vọng có một kết hợp đẹp như cuộc kết hợp giữa Lục Vân Tiên với nàng Kiều Nguyệt Nga ở cuối truyện.

     Như Hoài Thanh đã nhận xét, truyện Lục Vân Tiên đã ảnh hưởng sâu đậm đối với quần chúng nhân dân từ phía nam đèo Hải Vân tức từ Quảng Nam trở vào Nam.

     Ngay từ những ngày đầu tiên, khi cụ đồ mù lòa Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên, cụ đọc tới đâu, học trò của Cụ ghi chép tới đó, và từ bản ghi chép đó, từng đoạn truyện Lục Vân Tiên đã được lưu truyền trong đám môn sinh của Cụ rồi nhanh chóng được các bậc phụ huynh tiếp tay, đưa những đoạn truyện thơ đó đi vào đám quần chúng đương thời.

     Năm 1864, Gabriel Aubaret (1825-1894), một sĩ quan viễn chinh người Pháp đang đồn trú tại Nam Kỳ đã dịch truyện thơ Lục Vân Tiên sang văn xuôi Pháp với tựa đề Poème Populaire Annamite và cho đăng trong tập Kỷ yếu Á châu (Journal Asiatique).

     Trong lời giới thiệu, G. Aubaret đã viết: “Truyện thơ này, hay nói đúng hơn, truyện truyền thuyết này, đã được sáng tác bằng tiếng nói bình dân, chưa bao giờ được in thành bản. Tác phẩm đã được lưu truyền đến ngày nay với những đoạn chép tay bằng thứ chữ riêng. Chúng tôi đã phải nhờ một số lớn người bản xứ để thu thập năm hay sáu bản chép tay ấy mà chúng tôi đã sử dụng để dựng lại câu chuyện cho tương đối có đầu đuôi và nhất quán”. (2)

     Thứ chữ riêng G. Aubaret nhắc đến ở đây là chữ Nôm.

     Cũng trong khoảng thời gian này, Duy Minh Thị (tên thật Trần Quang Quang), người Chợ Lớn đã đưa truyện Lục Vân Tiên bằng chữ Nôm cho nhà “Phật Sơn  Bửu Hoa Các tàng bản” bên Tàu ấn hành, và sau đó, vào năm 1865, tác phẩm nầy được nhà sách Quảng Thạnh Nam tại  Chợ Lớn cho in lại.

     Trong lời giới thiệu bản dịch truyện Lục Vân Tiên được nhắc đến ở trên, G. Aubaret đã nhận xét: “Truyện thơ Lục Vân Tiên phổ biến trong dân gian đến mức là ở Nam Kỳ không một người đánh cá hay người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo đò.”

     Như vậy, chúng ta thấy, ngay từ thuở sinh tiền, ngay từ khi tác phẩm chưa được in thành sách một cách trọn vẹn, tác giả Nguyễn Đình Chiểu đã chứng kiến được những ảnh hưởng từ tác phẩm của mình đối với quần chúng Nam Kỳ Lục Tỉnh to lớn như thế nào.

     Chính sự phổ biến sâu rộng này, mà sau đó, đất Nam Kỳ Lục Tỉnh đã hình thành một sinh hoạt văn nghệ dân gian khá hấp dẫn, được đông đảo quần chúng thưởng ngoạn, đó là nghệ thuật nói thơ Vân Tiên. Trong khi ở đất Bắc, có nhiều người mù sống bằng nghề hát xẩm, thì tại đất Nam Kỳ Lục Tỉnh, cũng có những người bình thường (hoặc mù lòa) với cây đàn cò hay đàn độc huyền phụ họa, giữa một đám quần chúng đông đảo bu quanh, họ diễn xướng truyện thơ Lục Vân Tiên mà người dân bấy giờ gọi là kể thơ Vân Tiên hay nói thơ Vân Tiên. Đây là một hình thức diễn xướng khá đặc biệt, không giống như đọc thơ, cũng không giống như ngâm thơ, nó nằm giữa đọc và ngâm, khi hùng hồn, khi êm dịu lắng đọng tùy theo ý nghĩa của từng đoạn thơ Lục Vân Tiên. Hình thức diễn xướng độc đáo nầy còn được ghi lại qua câu ca dao:

Vân tiên vân tiển vân tiền,
Cho tôi một tiền tôi kể Vân Tiên.

     Hình thức kể thơ hay nói thơ nầy không chỉ dừng lại ở chỗ dùng truyện thơ Lục Vân Tiên để kể thơ hay nói thơ, người ta còn nhân chuyện Lục Vân Tiên mà sáng tác ra những những vần thơ theo nhiều thể loại khác nhau và cũng dùng hình thức kể thơ hay nói thơ mà diễn xướng. Chẳng hạn:

Đêm năm canh trong dạ bồi hồi
Ngày sáu khắc không nguôi dạ ngọc
Đó em noi cô Nguyệt Nga mà học
Họa tượng chồng thờ Lục Vân Tiên
Nào hay đâu cống sứ qua Phiên
Nhảy xuống sông xa vời hồn phách
Lòng dặn lòng xin em chí mực
Em đừng thương đó bỏ đăng
Tiếc cuộc đời như thể bóng trăng
Khi tỏ rạng đến ngày lại khuyết. (3)

     Truyện thơ Lục Vân Tiên cũng đã để lại nhiều ảnh hưởng trong đời sống hằng ngày của nhân dân miền Trung qua nhiều hình thức; ngoài những câu ca dao được lưu truyền qua các câu chuyện giáo dục trong gia đình, trong các cuộc hát hò đối đáp, nó còn để lại dấu vết trong một trò vui Xuân dân gian khá phổ biến, đó là Bài chòi.

     Bài chòi là một hình thức vui Xuân mang tính đại chúng, thường được các làng ở miền Trung, nhiều nhất là từ Quảng Nam trở vào đến Bình Thuận, tổ chức như một lễ hội vào những ngày Tết. Vào những ngày cuối tháng Chạp, làng thường cho dựng chín cái chòi tại sân đình làng, sân chùa hay một khoảng đất trống nào đó… làm hai hàng, mỗi chòi cao khoảng trên vài thước, đủ chỗ cho vài ba người ngồi.

     Bộ thẻ bài chòi gồm 27 con bài, chia làm 3 pho: pho Văn, pho Vạn và pho Sách.

     Chẳng hạn, pho Văn gồm các con bài mang tên: Nhất Gối, Nhì Bánh, Ba Bụng, Tứ Tượng, Ngũ Rốn….

Tên quân bài có thể thay đổi đôi chút tùy theo địa phương.

Mỗi địa điểm tổ chức Bài chòi sử dụng 2 bộ bài: một bộ chia cho các chòi, một bộ để vào ống xóc.

     Sau khi đã phát cho mỗi chòi 3 thẻ bài xong, người hô hiệu bắt đầu xóc ống bài thật kỹ rồi rút ra một thẻ bài. Thay vì hô ngay tên con bài, người hô hiệu hát theo điệu hô bài chòi bằng một câu hay bài ca dao có sẵn hay một câu hay một bài thơ lục bát mới ứng tác. Những câu mới ứng tác nếu hay và hợp với cảm nhận của đám đông sẽ được bảo lưu và sẽ được dùng trong các dịp Tết về sau. Trong mỗi lời hô như thế đều phải ẩn chứa cái tên của con bài mà người hô hiệu  đang cầm trên tay.

     Chẳng hạn, trước khi xướng tên con Tứ Tượng, người hô hiệu đã hô theo điệu bài chòi bài ca dao sau đây được mượn ý từ truyện Lục Vân Tiên từ khi Vân Tiên cứu Nguyệt Nga ra khỏi tay bọn cướp Phong Lai và 2 người đã trao thơ tỏ tình với nhau và về nhà Nguyệt Nga vẽ bức hình Vân Tiên để luôn luôn tưởng nhớ đến chàng.

     Người hô hiệu xướng bài sau đây:

Nguyệt Nga là gái trung trinh,
Vì cha, nên phải đăng trình ra đi.
Ai ngờ gặp lúc hiểm nguy,
Phong Lai nó bắt, đem đi lên rừng.
Tớ thầy than khóc tưng bừng,
Trời ơi! Nó hại nửa chừng hồng nhan.
Vân Tiên vừa lúc đi ngang,
Chàng bèn ra sức phá tan hung đồ.
Xong rồi chàng mới bước vô,
Hỏi rằng thục nữ ở mô đi vầy?
Nguyệt Nga tình tự tỏ bày,
Tây Xuyên quê ở, thiếp tên rày Nguyệt Nga.
Qua Hà Khê đặng thiếp thăm cha,
Ai ngờ bị đảng lâu la bắt rày.
May mà chàng cứu thiếp đây,
Lấy chi đáp nghĩa chàng rày, xin trao trâm.
Vân Tiên xây mặt không cầm,
Nguyệt Nga trong dạ hổ thầm lắm thay!
Trâm này thiếp đáp ơn dày,
Chàng mà không tưởng, thiếp tặng rày bài thơ.
Vân Tiên xây mặt cầm tờ,
Khá khen thục nữ tặng thơ thay vàng!
Nguyệt Nga thôi mới hỏi chàng,
Ở đâu nghĩa sĩ băng ngàn tới đây?
Vân Tiên thong thả giải bày,
Xong xuôi chàng mới định bài bước đi.
Nguyệt Nga trong dạ sầu bi,
Đêm ngày tơ tưởng nhớ thì Vân Tiên.
Đặt bàn hương án cầu nguyền,
Họa ra bức tượng Vân Tiên để thờ. (4)

     Khi người xướng “hô” hết câu, người ta mới biết trên tay người hô hiệu đang cầm là con bài Tứ Tượng vì trong câu cuối có nói “Họa ra bức tượng…”

     Bài hô nhằm giới thiệu con bài Tứ tượng trên đây gồm 30 câu lục bát là tóm tắt những ý chính trong một đoạn thơ dài gần 200 câu của truyện thơ Lục Vân Tiên (từ câu 91 đến câu 282). Dù chỉ với 30 câu, đoạn hô bài chòi này cũng đã nói lên được lòng biết ơn của Nguyệt Nga đối với Vân Tiên và cũng đã mô tả Vân Tiên là con người mang dòng máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” và là con người mang tinh thần “trọng nghĩa khinh tài”. Đó cũng là những ý nghĩa then chốt mà truyện Lục Vân Tiên muốn nêu lên. Vậy là, khi ứng dụng Lục Vân Tiên trong một trò vui chơi giải trí ngày Xuân, truyện Lục Vân Tiên vẫn nói lên được giá trị giáo dục của nó đối với đám quần chúng bình dân.

      Truyện thơ Lục Vân Tiên, nhất là nhân vật Kiều Nguyệt Nga, đã gợi hứng để nhà văn Hồ Biểu Chánh viết nên tuồng cải lương “Nguyệt Nga cống Hồ” và đã được trình diễn tại Nhà Hát Lớn, Sài Gòn vào năm 1943 do nghệ sĩ thời danh Năm Phỉ thủ vai Kiều Nguyệt Nga.

     Như chúng ta đã thấy ở trên, ảnh hưởng của truyện Lục Vân Tiên vào đời sống tình cảm của nhân dân Việt Nam đã xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, và ảnh hưởng rõ nét nhất là đối với ca dao dân ca Việt Nam.

     Đọc truyện thơ Lục Vân Tiên, chúng ta bắt gặp một số câu được xem là ca dao, và những câu nầy đã được sưu tập vào các tuyển tập ca dao và đã được lưu hành từ lâu.

     Như trong bài “Tìm về xuất xứ của một số câu ca dao”, chúng tôi đã viết về những câu ca dao có xuất xứ từ truyện Nôm này như sau: “ta đều thấy xuất hiện  đây đó trong tác phẩm những câu mà ngày nay ta được biết là ca dao.

     Loại ca dao này có thể nằm trong 2 trường hợp:

Hoặc là tác giả truyện Nôm mượn ca dao để đem vào truyện – phần này chiếm rất ít.

Hoặc là câu thơ từ trong truyện Nôm trở thành ca dao – phần này chiếm một lượng rất lớn.…

Ảnh hưởng qua lại giữa ca dao và thơ truyện Nôm là một quá trình lâu dài và tất yếu.”

Dưới đây, chúng tôi ghi lại một số câu vừa thấy xuất hiện trong truyện Lục Vân Tiên, vừa thấy xuất hiện trong những tuyển tập sưu tầm ca dao:

* Hai câu 179-180 trong Lục Vân Tiên:

Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng

đã được ghi trong trang sưu tập Ca dao Dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh: (sưu tập 952 câu ca dao, không ghi tên người sưu tập, được đăng tải trên trang web e-cadao)

Có câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

     * Hai câu 277-278 trong Lục Vân Tiên:

Chữ tình càng tưởng càng thâm,
Muốn pha khó lợt, muốn dầm khôn phai.

 đã được các tác giả Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang…sưu tập trong Dân Ca Miền Nam Trung Bộ (tập 1, tr. 190) như sau:

Chữ tình càng tưởng càng thâm
Mu
ốn pha khó lợt, muốn dầm khó phai
Nhắn ai đừng có nghe ai

     * Các câu 411-412 trong Lục Vân Tiên:

 Xin đừng tham đó bỏ đăng,
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.

 đã được tác giả Phan Tấn Tài sưu tập trong Ca Dao Miền Nam của trang mạng Đào Viên Thi Các:

Anh đừng thấy đó bỏ đăng,
Thấy lê bỏ lựu, thấy trăng quên đèn.
Bậu (Anh) đừng tham đó bỏ dăng,
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.

     Câu thơ “Xin đừng tham đó bỏ đăng” cũng đã được dân ca Nam Trung Bộ mượn để trở thành: (DCNTB 2, tr. 67)

Xin đừng tham đó bỏ đăng
Quên đèn vì bởi ánh trăng
Sao anh lơi mối xích thằng, bớ anh!

     * Hai câu thơ 525-526 trong Lục Vân Tiên:

Gối rơm theo phận gối rơm,
Có đâu ở thấp mà chồm lên cao.

 đã được 2 tác giả Hồng Lan và Nguyễn Tấn Hưng sưu tập trong “Một dòng ca dao, câu hò, câu đố Miền Nam” đăng trong Namkyluctinh.org.

* Các câu 585 và 586 trong Lục Vân Tiên:

Thương thay chín chữ cù lao
Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

 đã được tác giả Trọng Toàn sưu tập trong tác phẩm Hương Hoa Đất Nước (tr. 92):

Thương thay chín chữ cù lao
Tam niên nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

     * Các câu 995-996 trong Lục Vân Tiên:

Mấy ai ở đặng hảo tâm
 Nắng toan giúp nón, mưa dùm áo tơi.

 đã được sưu tập trong Ca dao Dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh:

Mấy ai ở đặng hảo tâm,
Nắng hanh giúp nón, mưa dầm giúp tơi.

     * Các câu 1029-1030 trong Lục Vân Tiên:

Ai cho sen muống một bồn
Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê 

 đã được Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc sưu tập trong Tục Ngữ Phong Dao I (tr. 17) hay các tác giả Nguyễn Tấn Long và Phan Canh sưu tập trong Thi Ca Bình Dân Việt Nam (I, tr. 495):

Ai cho sen muống một bồn,
Ai từng chanh khế sánh cùng lựu lê.

     * Các câu 1175-1176 trong Lục Vân Tiên:

Minh nghe duyên cớ cảm tình
Hai hàng lụy nhỏ như bình nước nghiêng

 đã được ca dao mượn nguyên câu dưới và sáng tạo câu trên: (Phan Tấn Tài trong Ca Dao Miền Nam)

Anh dứt lời than, em đây rúng động tâm tình,
Hai hàng lụy nhỏ như bình nước nghiêng

    Trong Ca dao Quảng Ngãi cũng có câu cuối tương tự:

Chợ Huyện là chỗ ăn chơi
Ngó vô Quán Vịt là nơi hữu tình
Trà Câu sao vắng bạn mình
Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng

     * Các câu 1301-1302 trong Lục Vân Tiên:

Người đời như bóng phù du
 Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.  

 đã được Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc sưu tập trong Tục Ngữ Phong Dao (tr. 263) thành:

Người đời như cánh phù du
Sớm còn tối mất, công phu nhẹ nhàng.

 hay Trọng Toàn sưu tập trong Hương Hoa Đất Nước (tr.74) hay TCBD 3 (tr.187):

Người đời khác thể phù du,
Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.

     * Các câu 1515-1516 trong Lục Vân Tiên:

Nào hay tì tất Kim Liên

Được làm hoàng hậu nước Phiên một đời.

 đã được ghi lại trong bộ sưu tập về hát ru Ninh Hòa của Ngô Sao Kim như sau:

Rắn ráo mà nộ bò hung,
Đâu đâu cũng có đứa khùng đứa điên
.
Nào hay tỷ tất Kim Liên,
Đặng làm hoàng hậu nước Phiên mãn đời!

     * Các câu 1569-1570 trong Lục Vân Tiên:

Trăm năm cho trọn đạo tòng,
Sống sao thác vậy một chồng mà thôi.

 đã được sưu tập trong Ca dao Dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh như sau:

Trăm năm giữ vẹn chữ tòng
Sống sao thác vậy một chồng mà thôi

     * Các câu 1583-1584 trong Lục Vân Tiên:

Linh đinh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết mình vào đâu?  

 đã được Trọng Toàn sưu tập trong Hương Hoa Đất Nước (tr.180) hay TCBD I (tr. 212)

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu?

  hay ca dao chỉ mượn câu “lênh đênh một chiếc thuyền tình” và sáng tác phần dưới:

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Ngược xuôi xuôi ngược có mình với ta

Phòng khi gió táp mưa sa
Mình vào giữ lái, ta ra chịu sào.

     * Các câu 1585-1586 trong Lục Vân Tiên:

Ai từng mặc áo không bâu,
Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau. 

 đã được sưu tập trong Ca Dao Dân Ca Nam Kỳ Lục Tỉnh (website E-Cadao) thành:

Ai từng bận áo không bâu,
Ăn cơm không đũa, ăn trầu không vôi. 

      * Các câu 1619-1620 trong Lục Vân Tiên:

Nhớ câu xuân bất tái lai
Ngày nay hoa nở e mai hoa tàn.

 đã được sưu tập trong Dân Ca Nam Trung Bộ (tr.103)

Chữ rằng xuân bất tái lai,
Ngày nay hoa nở, ngày mai hoa tàn.
Mặc ý ai nay lụa, mai hàng,
Xin anh đừng có phụ phàng vải bô.
Thân em như rau muống thả dưới hồ
Nay chìm mai nổi, biết ngày mô cho thành.

x
x x

ĐÀO ĐỨC NHUẬN (19-2-2017)
Nguồn: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg

Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)

     Còn tiếp:

     Mời xem: Từ LỤC VÂN TIÊN đến CA DAO (Phần 2)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *