BẢO TỒN và PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ các DÂN TỘC THIỂU SỐ vùng ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG trong bối cảnh HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
TRẦN THỊ PHƯƠNG HUỲNH
(Học viện Chính trị Khu vực IV)
1. Dẫn nhập
Văn hoá là một hệ thống các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hoá không chỉ là đặc trưng của dân tộc mà còn là mục tiêu và là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng vĩ đại, một danh nhân văn hoá thế giới, Người đã cống hiến cho dân tộc và nhân loại một sự nghiệp văn hoá đồ sộ. Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Theo Người, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam là biểu hiện sự trường tồn của giống nòi, là dấu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, đánh mất bản sắc đó thì cũng có nghĩa là đánh mất cả dân tộc. Những lời dạy của Người không chỉ có tầm chiến lược mà còn có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể trong công việc hàng ngày của chúng ta.
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hoá, Đảng và Nhà nước ta đã đưa nhiều chủ trương, chính sách nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có 54 dân tộc anh em, như 54 bông hoa rực rỡ màu sắc trong vườn văn hoá Việt Nam, với nhiều loại hình văn hoá đặc thù, mỗi một dân tộc là một nền văn hoá khác nhau nhưng tất cả đã cùng hoà quyện với nhau để kết tinh thành một nền văn hoá chung. Nền văn hoá nghệ thuật ấy bắt nguồn và gắn bó chặt chẽ với nền văn minh lúa nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên những nét văn hoá đặc sắc rất riêng. Làm thế nào để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế? Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá nhằm góp phần củng cố những nhận thức của chúng ta về vấn đề bảo vệ truyền thống văn hoá và vấn đề phát triển giao lưu hội nhập trong giai đoạn hiện nay, phục vụ cho công cuộc xây dựng nền văn hoá mới “tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc” mà Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) đã đề ra.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất màu mỡ ở phía Tây Nam Việt Nam, gồm 13 tỉnh, thành. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước, có đường biên giới với Campuchia dài gần 340km, tiếp giáp vùng biển rộng, bờ biển dài 743km. Theo số liệu điều tra biến động dân số ngày 01/4/2011 của Tổng cục Thống kê, dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17.325.167 người, chiếm 19,8% dân số cả nước, trong đó đồng bào Kinh có 15.914.118 người (chiếm 91,86% dân số toàn vùng), đồng bào Khơ-me có 1.201.691 người (chiếm 6,93% dân số toàn vùng), đồng bào Hoa có khoảng 192.435 người (chiếm 1,11%), đồng bào Chăm có 14.982 người (chiếm 0,09%). Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như Tày, Nùng, Thái, Mường,… với số dân khoảng 1.941 người (chiếm 0,01% so với dân số toàn vùng). Đồng bào Kinh, Khơ-me, Hoa, Chăm,… sống xen kẽ gần gũi nhau, có truyền thống đoàn kết lâu đời qua quá trình khai thác thiên nhiên, qua đấu tranh chống áp bức bóc lột và chống giặc ngoại xâm.
Trước xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá của thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới. Sự giao lưu, hội nhập giữa các quốc gia đang diễn ra trên mọi lĩnh vực nhằm chuyển hoá các yếu tố ngoại lực thành nội lực để phát triển, trong đó có văn hoá.
2. Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long
2.1. Phương hướng
Thứ nhất, tiếp tục tổ chức việc khai thác, sưu tầm và bảo tồn các di sản văn hoá có giá trị, các loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số một cách có hệ thống; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc; bảo tồn, tôn tạo các các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hoá giữa cộng đồng các dân tộc trong vùng, trong cả nước và giao lưu văn hoá với các nước khi có điều kiện; khai thác một cách có hiệu quả đối với những giá trị còn phù hợp, có tác dụng tích cực cho công tác bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá, góp phần làm cho phong phú thêm kho tàng văn hoá của dân tộc.
Thứ hai, tăng cường đầu tư ưu tiên cho giáo dục trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; tăng cường đầu tư sách giáo khoa và văn bản hướng dẫn việc học chữ dân tộc ở các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông; hỗ trợ một phần lương tối thiểu cho giáo viên dạy song ngữ ở các trường Nhà nước và ở các chùa.
Thứ ba, đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long có khá nhiều lễ hội như: Chôl Chnam Thmây, Đônta, Óoc Om Bóc, đua ghe Ngo, đua bò,… cần giữ gìn và phát huy nét đẹp các lễ hội này; chú trọng tiết giảm, hạn chế những mặt lạc hậu trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, bổ sung những mặt tiến bộ để nâng cao, đảm bảo hài hoà giữa hai yêu cầu sinh hoạt tín ngưỡng và sinh hoạt xã hội, văn hoá của đồng bào ngang tầm với mức sống và nhu cầu ngày càng cao.
Thứ tư, tăng cường kế hoạch bảo tồn, khai thác, phát huy vốn văn hoá dân tộc thiểu số tại các thiết chế văn hoá chùa, một số trung tâm văn hoá tiêu biểu của đồng bào. Cần có kế hoạch xây dựng, sửa chữa, trùng tu, điều tra, bảo vệ các giá trị tự có tại các di tích chùa nhằm bảo vệ và phát huy di sản văn hoá chùa chiền dân tộc thiểu số để công việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá ngày càng hoàn thiện hơn. Tăng cường đầu tư, phát triển hệ thống các thiết chế Văn hoá – Thông tin, các thiết chế truyền thống. Coi trọng các văn hoá truyền thống thích hợp, tiếp thu các giá trị văn hoá tiến bộ của thời đại, tăng cường hoạt động dịch vụ, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường thời lượng chương trình tiếng dân tộc thiểu số trên đài phát thanh, truyền hình. Tăng cường đầu tư để nâng chất lượng chương trình tiếng dân tộc ngang tầm với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Thứ năm, tiếp tục củng cố nâng cao hoạt động văn hoá văn nghệ, khơi dậy phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng, khuyến khích các loại hình văn hoá truyền thống, phải cải biên, cải tiến phù hợp với điều kiện cuộc sống mới. Có kế hoạch đưa nghệ thuật biểu diễn dân tộc truyền thống bao gồm: dân ca, ca múa nhạc truyền thống của dân tộc, phương pháp nghiệp vụ hoạt động Văn hoá – Thông tin cơ sở vào hệ thống giáo dục. Tổ chức liên hoan biểu diễn nghệ thuật, tuyên truyền cổ động văn hoá quần chúng giữa các trường, tiến tới liên hoan cấp huyện, thị, tỉnh và có thể tham dự cấp toàn quốc khi có kế hoạch của trên.
2.2. Giải pháp
Thấm nhuần tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề bảo tồn và phát huy nền văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Bởi chăm lo văn hoá là chăm lo nền tảng tinh thần xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không có sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững 1, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc 2. Nhận thức rõ vấn đề trên, đã có rất nhiều Chỉ thị, Nghị quyết,… về lĩnh vực văn hoá được ban bố và thực hiện, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng và thực hiện công cuộc đổi mới đã có những chính sách cụ thể về lĩnh vực này. Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long đã làm tốt công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số.
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, để làm tốt công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Giải pháp 1: Coi trọng công tác sưu tập, khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá
Vấn đề bảo tồn, lưu giữ và phát huy các di sản văn hoá là cả quá trình cần nhiều công sức, phải có sự đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài trợ, hợp tác. Đi đôi với quá trình đó là sự khai thác cả văn hoá vật thể và phi vật thể. Nhà nước cần sớm đầu tư để xây dựng nhà bảo tàng văn hoá dân tộc thiểu số ở các tỉnh trong khu vực. Trong khi chưa có nhà bảo tàng có thể hỗ trợ cho nhà chùa làm công việc này; không làm sai lệch biến dạng các di sản văn hoá, bảo đảm giữ nguyên giá trị gốc của di sản văn hoá trong công tác bảo tồn.
Tổ chức điều tra, phát hiện nghệ nhân của các loại hình văn hoá nghệ thuật trong từng địa bàn dân cư, có chính sách ưu đãi, khuyến khích họ truyền dạy lại vốn quý văn hoá nghệ thuật mà họ còn lưu giữ cho lớp trẻ. Giáo dục, động viên lớp trẻ về ý thức bảo tồn các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc mình. Nhà nước cần đầu tư cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi nhất để mở ra các lớp dạy và học văn hoá nghệ thuật phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng phum, sóc (khóm, ấp), từng cụm dân cư. Mặt khác, phải đưa việc truyền dạy văn hoá nghệ thuật truyền thống vào chương trình giảng dạy tại các trường dân tộc nội trú và xem đây là các giải pháp căn bản lâu dài.
Sự giao thoa giao lưu văn hoá nghệ thuật là hết sức cần thiết và tất yếu. Bên cạnh việc tổ chức giảng dạy và học tập tại địa phương cần chắt lọc, chọn lựa học viên có năng khiếu, có tâm huyết đưa đi học ngắn hoặc dài hạn ở trường Văn hoá nghệ thuật dân tộc khu vực Nam Bộ hoặc các trường trung ương để tạo ra lớp nghệ nhân mới, có trình độ cao, góp phần làm phong phú thêm vốn văn hoá nghệ thuật địa phương, vừa đủ điều kiện để tiếp thu văn hoá hiện đại.
Giải pháp 2: Nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá ngôn ngữ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số
Hồ Chí Minh quan niệm văn hoá là mặt trận và người làm văn hoá cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Do vậy, người làm văn hoá phải có trình độ, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ sâu. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã trăn trở với công việc nâng cao dân trí, Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Văn hoá luôn gắn với dân trí. Không có văn hoá không có dân trí. Văn hoá nâng cao dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu giữ gìn bản sắc văn hoá trước mắt và lâu dài. Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Kế đến là sự hiểu biết về các lĩnh vực khác. Muốn làm được điều đó cần:
Tăng cường đầu tư cho giáo dục – đào tạo cho vùng dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để hầu hết con em dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến trường được đi học, hạn chế đến mức thấp nhất học sinh bỏ học. Nâng cao tỉ lệ học sinh người dân tộc thiểu số tốt nghiệp ở các bậc học. Quan tâm dạy nghề cho con em đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng kí túc xá cho học sinh, sinh viên học tại trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh, ưu tiên thu nhận con em người dân tộc thiểu số.
Việc dạy và học chữ dân tộc được chính thức tổ chức trong nhà trường theo Chỉ thị 16/CT, 13/5/1978 của Bộ Giáo dục. Làm tốt việc giảng dạy và học tập môn ngữ văn giúp cho người dân tộc phát huy tiếng mẹ đẻ của mình đồng thời giúp cho các em học sinh dân tộc thiểu số học tốt các môn học khác.
Giải pháp 3: Phát huy nét đẹp các lễ hội, bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số
Nhà nước nên có kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hoá của dân tộc thiểu số qua các lễ hội tiêu biểu hàng năm. Mỗi năm vào thời điểm lễ tết, ngành Văn hoá – Thông tin chủ động phối hợp với các ngành chức năng, nhất là Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ thiết thực và chăm lo đời sống vật chất cho đồng bào dân tộc thiểu số theo đúng đường lối chủ trương của Đảng – Nhà nước và khả năng thực tế của nhiều địa phương.
Việc tổ chức lễ hội phải đảm bảo sự hài hoà giữa sinh hoạt tôn giáo, xã hội và văn hoá. Nhà nước không can thiệp vào các nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào, nhưng cần đầu tư hỗ trợ cho các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao tạo sinh khí cho lễ hội. Các lễ hội thường thu hút đông đảo đồng bào Khơ-me, Kinh, Hoa trong và ngoài tỉnh thể hiện tinh thần đoàn kết giữa ba cộng đồng anh em cùng sinh sống trên mảnh đất này, đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy những nét văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong dịp lễ tết, lãnh đạo các cấp uỷ và chính quyền địa phương nên tiếp tục tổ chức những buổi họp mặt thân mật với đồng bào dân tộc thiểu số, thăm hỏi nhà chùa, các gia đình chính sách; giúp đỡ các hộ nghèo cũng được vui lễ hội, động viên họ cố gắng vươn lên trong cuộc sống.
Giải pháp 4: Tiếp tục xây dựng củng cố, khai thác sử dụng tốt các thiết chế văn hoá truyền thống, phát huy hiệu quả các chương trình mục tiêu về Văn hoá – Thông tin
Muốn bảo vệ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long phải xuất phát từ trong dân, tại mỗi phum, sóc, tại mỗi nhà chùa cho đến các đơn vị Nhà nước (như đoàn nghệ thuật, nhà bảo tàng). Phải có biện pháp phối hợp với ngành giáo dục và các tổ chức đoàn thể xã hội khác cũng như các sư sãi nhằm bảo tồn, chấn hưng và tổ chức các hoạt động văn hoá dân tộc thiểu số góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện nay.
Cần quan tâm xây dựng môi trường văn hoá tiến bộ lành mạnh, nếp sống văn hoá để loại bỏ những tập tục lạc hậu cản trở sự phát triển của xã hội. Phải coi kinh tế là khoá, văn hoá là chìa. Để thực hiện được vấn đề này, các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần nghiên cứu, phát hiện chọn lọc xây dựng mô hình – điểm sáng văn hoá để rút kinh nghiệm nhân rộng.
Vấn đề phối hợp công tác: Song song với các định hướng trên thì giữa các cơ quan đơn vị của Bộ cần phối hợp chặt chẽ với tỉnh và giữa các tỉnh trong khu vực cũng cần có sự liên kết phối hợp để có những biện pháp cụ thể nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề còn tồn tại trong khu vực như: việc sản xuất và quản lí phim, băng hình, băng tiếng dân tộc; vấn đề sách báo, văn hoá phẩm; chính sách đối với di sản văn hoá và nghệ nhân dân tộc thiểu số.
Giải pháp 5: Nâng cao chất lượng văn hoá nghệ thuật quần chúng
Quần chúng là lực lượng chính trong phong trào văn hoá quần chúng tại chỗ. Tuy nhiên, trong điều kiện còn khó khăn trên nhiều phương diện nên không chỉ vận động nhân dân chung chung mà Nhà nước cần phải có những hỗ trợ ban đầu như: nhạc cụ, đạo cụ, máy móc, ánh sáng,… tổ chức và hướng dẫn hoạt động để đưa phong trào phát triển. Củng cố và xây dựng mỗi dân tộc thiểu số có một đội văn nghệ nòng cốt, gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn minh – gia đình văn hoá; làng ấp văn hoá, phong trào lao động sản xuất xây dựng thành chương trình hoạt động thường xuyên để không ngừng khơi dậy phong trào văn hoá nghệ thuật của quần chúng (chứ không phục vụ lễ hội).
Cần tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá – thông tin, văn nghệ sĩ, phóng viên báo đài và quan tâm hơn nữa việc quy hoạch, cất nhắc đề bạt cán bộ quản lí văn hoá – thông tin là người dân tộc.
Để tạo nguồn cán bộ lâu dài, cần có giải pháp cụ thể, có sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương và giữa các tỉnh trong khu vực để con em dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng tại trường dân tộc nội trú, các truờng văn hoá nghệ thuật địa phương khu vực và trung ương. Trước hết, quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ văn hoá – thông tin là nguời dân tộc thiểu số đang công tác tại các thiết chế văn hoá ở khu vực. Mặt khác, cần mở các lớp ngắn hạn bồi dưỡng nghiệp vụ Văn hoá – Thông tin cho cơ sở và nhà chùa để tăng cường hiệu quả hoạt động văn hoá ở khu vực. Các cơ quan chức năng của Bộ Văn hoá – Thông tin, các viện nghiên cứu, các trường cao đẳng, đại học cần quan tâm nghiên cứu văn hoá nghệ thuật dân tộc thiểu số, quan tâm đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số Đồng bằng sông Cửu Long là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh đất nước hiện nay. Trong quá trình thực hiện bên cạnh những thuận lợi chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn hạn chế. Điều này đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược đúng đắn lâu dài trên nhiều khía cạnh và bình diện khác nhau để làm thế nào tạo cho vườn văn hoá Việt Nam đa dạng mà thống nhất trong nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang xây dựng.
Để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngoài vai trò của Đảng và Nhà nước đòi hỏi mỗi đồng bào phải ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình. Cần phát triển hoạt động văn hoá nghệ thuật qua con đường biểu diễn, trình diễn, du lịch văn hoá,… Ngoài ra phải chú ý đến chính sách đầu tư đặc biệt cho văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số vì nếu không có đầu tư lớn, không có chính sách tốt thì không tạo được tiền đề cho việc phát huy bản sắc văn hoá mà ngược lại còn làm cho bản sắc văn hoá ngày càng mai một, mất gốc. Song song đó, phải có thái độ và quan niệm coi trọng đúng mức vị thế của văn hoá trong đời sống xã hội của cả nước và của địa phương.
Tóm lại, với những kết quả đạt được trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số ta tin tưởng rằng trong nay mai nền văn hoá của đồng bào ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung luôn được giữ gìn và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn về mọi mặt góp phần tôn vinh nền văn hoá Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và góp phần tạo nên một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam chúng ta.
___________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 25.
2. Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr168.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
2. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng thời kì đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về văn hoá, xã hội, khoa học – kĩ thuật, giáo dục, đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
5. Song Thành, Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc, NXB Lí luận Chính trị, Hà Nội, 2009.