Biến đổi kiến trúc và lễ hội ở Đình thần Bình Thủy – Long Tuyền (TP. Cần Thơ)

CULTURAL CHANGES IN BINH THUY –
LONG TUYEN TEMPLE IN CAN THO CITY

Tác giả bài viết: Thạc sĩ  NGUYỄN MINH CA
(Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Đô)

TÓM TẮT

     Đình thần Bình Thủy – Long Tuyền được xem là một trong những ngôi đình được hình thành lâu đời nhất khu vực Tây Nam Bộ. Tính từ lần trùng tu đầu tiên 1844 đến nay ngôi đình đã tồn tại gần hai thế kỉ, những dấu ấn của thời khai hoang mở ấp vẫn còn để lại qua phong tục thờ cúng Thành Hoàng bổn cảnh hay kiến trúc cổ của ngôi đình. Trải qua nhiều năm tháng, nơi tâm linh này đã có nhiều thay đổi. Những thay đổi ấy cũng gắn liền với bao thăng trầm của ông cha trong hai thời kháng chiến. Bài viết giới thiệu những biến đổi về mặt vật chất, tinh thần tính từ lúc ngôi đình hình thành cho đến nay.

Từ khóa: Biến đổi văn hóa, Cần Thơ, Đình thần Bình Thủy – Long Tuyền.

ABSTRACT

     Binh Thuy – Long Tuyen temple is considered one of the oldest temples in the Southwest region of Vietnam. From the first restoration in 1844 to the present, the temple has existed for nearly two centuries. The imprints of the reclamation still left through the custom of worshiping the Thanh Hoang and the ancient architecture of the temple. This spiritual place has changed over the time. The changes were associated with the wars of Vietnam. This paper introduces the physical and spiritual changes of Binh Thuy – Long Tuyen temple since the day of establishment.

Keywords: Binh Thuy – Long Tuyen temple, Can Tho, cultural change.

x
x x

1. Giới thiệu

     Đình thần Bình Thủy – Long Tuyền (Long Tuyền cổ miếu) được xem là một trong những đình có mặt lâu đời nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đình này có ý nghĩa tâm linh không chỉ với người dân Cần Thơ mà còn có tầm ảnh hưởng sâu rộng người dân vùng ĐBSCL. Hiện tại, ngoài thờ Thần Thành Hoàng, đình còn thờ nhiều vị anh hùng có công với đất nước. Tọa lạc trong khuôn viên 4000 m2, ở cạnh đường Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

     Biến đổi văn hóa là một hiện tượng tất yếu của văn hóa. Các thực thể văn hóa sẽ thay đổi ít nhiều theo dòng chảy của thời gian. Ngoài sự bào mòn của của thời gian (yếu tố khách quan, bên ngoài), các thực thể văn hóa còn biến đổi theo hướng tiếp nhận sao cho phù hợp với tình hình mới nhưng vẫn giữ lại cái “cốt” ban đầu (yếu tố nội sinh). Nghiên cứu biến đổi văn hóa đình Bình Thủy – Long Tuyền giúp ta thấy được vai trò, vị trí cũng như những giá trị văn hóa tinh thần của đình trong thời đại ngày nay. Đó là lưu giữ truyền thống văn hóa của ông cha ta. Nhận diện biến đổi văn hóa, chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi ấy có thể giúp cho các nhà quản lí văn hóa điều chỉnh kịp thời trong công tác quản lí các thiết chế văn hóa nói chung, đình thần nói riêng.

2. Phương pháp nghiên cứu

     2.1. Phương pháp thu thập tài liệu

     Phương pháp này giúp tiếp cận vấn đề có tính lịch sử, tìm và khảo sát các công trình nghiên cứu về đối tượng đình Bình Thủy, đặc biệt là lĩnh vực chuyên ngành văn hóa học, biến đổi văn hóa. Tập hợp và phân loại các tài liệu lí luận văn hóa, cụ thể là tiếp cận các khái niệm về biến đổi văn hóa, quy luật, đặc điểm của các hiện tượng biến đổi văn hóa. Tìm hiểu các tài liệu về nguyên nhân biến đổi văn hóa, văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, phân loại tài liệu thứ cấp và tài liệu sơ cấp.

     2.2. Phương pháp điều tra điền dã

     Trực tiếp tham gia vào lễ Kỳ Yên (Thượng điền, Hạ điền) để có những quan sát và nhận định khách quan có cơ sở thực chứng, phỏng vấn Ban trung đình, ông Từ về những vấn đề của hiện tại và những vấn đề có tính lịch sử để thấy được sự biến đổi của đối tượng
nghiên cứu.

     2.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp

     Phân tích những dữ kiện, yếu tố, nguyên nhân làm biến đổi văn hóa của đình Bình Thủy. Phân tích những yếu tố nội tại và những yếu tố ngoại sinh đã tác động đến sự biến đổi. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tổng hợp lại những đặc trưng cơ bản của sự biến đổi và đưa ra kết luận.

3. Nội dung

     3.1. Khái niệm

     Nói về khái niệm biến đổi văn hóa, là nói đến sự thay đổi so với cái ban đầu, cái gốc trước kia của thực thể văn hóa. Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: “Biến đổi là thay đổi hoặc làm cho thay đổi thành cái khác trước” (Hoàng Phê, 2010, tr95).

     Phạm Đức Dương nhìn nhận: “Quy lực vận động và biến đổi là chung cho muôn loài, là thuộc tính quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của vật chất, điều đó có nghĩa là cái bất biến của sự sống là vận động và biến đổi” (Phạm Đức Dương, 2013, tr212)

     Như vậy, biến đổi ở đây không phải là thay đổi hoàn toàn, thay đổi bản chất mà là sự thích ứng từ từ hay nhanh chóng của các nền văn hóa mới, biến đổi để phù hợp hoàn cảnh (trường hợp dễ thấy của văn hóa Nam Bộ). Bởi thế, biến đổi ở đây chứa đựng hai yếu tố; giữ lại cái cũ và đồng thời tiếp thu cái mới, trong khoảng thời gian và không gian nhất định của lịch sử.

     Nội hàm của biến đổi văn hóa khá rộng, đặc biệt là trong xu thế công nghệ số hiện nay, vấn đề biến đổi văn hóa diễn ra khá phức tạp trên nhiều phương diện xã hội, từ cá nhân cho đến cộng đồng: “sự biến đổi của mỗi cá nhân gắn liền với sự biến đổi của gia đình; sự biến đổi về cơ cấu lứa tuổi trong chu trình đời người; sự thay đổi trong quan hệ hàng xóm, láng giềng; sự biến đổi trong văn hóa tiêu dùng; xu hướng thay đổi giá trị, triết lý sống của cá nhân và các nhóm xã hội. Nguyên nhân của những biến đổi đó gồm: tác động của kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp, sự thay đổi của môi trường nhất thể hóa cá nhân, chuyển đổi từ cơ cấu xã hội truyền thống sang cơ cấu xã hội hiện đại đa dạng hơn” (Nguyễn Thị Hồng Tâm, 2016).

     Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ chú trọng đến những biến đổi về mặt vật chất và tinh thần của một ngôi đình thần (một đối tượng và phạm vi nhỏ trong nội hàm của khái niệm biến đổi văn hóa). Sự biến đổi này minh chứng cho vấn đề biến đổi văn hóa là một quy luật tất yếu cho dù chúng ta có muốn điều đó xảy ra hay không.

     3.2. Biến đổi về kiến trúc

     Qua một số tài liệu về Cần Thơ xưa và qua kết quả điền dã, chúng tôi nhận thấy, đình Bình Thủy – Long Tuyền tính đến nay đã có 5 lần được trùng tu, nếu không tính vào lần trùng tu thứ nhất (1844) thì những lần trùng tu sau, những người trong Ban Tế Tự hay Ban Trung Đình và chức sắc trong làng đã cố gắng giữ lại gần như toàn bộ kiến trúc cũ. Về thời gian xây dựng của đình, hiện chưa có tài liệu ghi nhận. Nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời của đình, ở phía Nam, các nhà nghiên cứu, biên khảo như Huỳnh Lứa (Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ), Sơn Nam (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam), Huỳnh Minh (Cần Thơ xưa), Nguyễn Sương (chuyện làng cổ đình Bình Thủy – Long Tuyền),… cho rằng, “vào đời nhà Hậu Lê (1533 – 1788), Trịnh Nguyễn phân tranh. Đến năm 1672, Nguyễn Hoàng đưa quân lính và nhân dân tiến về phía Nam sông Gianh, mở mang bờ cõi, gây dựng lên cơ nghiệp chúa Nguyễn ở Đàng trong” (dẫn theo Nguyễn Sương, 2012, tr9). Ban đầu những người vào Nam sống thành cụm, hay còn gọi là xóm ấp trại, nhiều ấp trại liên kết lại thành thôn, nhiều thôn thành làng, xã. Trong tâm thức người Việt, vạn vật hữu linh, để mong cầu cuộc sống yên ổn, họ đã xây dựng các miếu mạo, am cốc,… Riêng tại tả ngạn sông Bình Thủy (trước là Bình Hưng) có dựng lên miếu lớn hơn. Miếu này ngày nay là đình Bình Thủy.

Bảng 1. Biến đổi về kiến trúc trong 5 lần trùng tu

BIẾN ĐỔI VỀ KIẾN TRÚC

4 lần trùng tu

Kiến trúc trước
trùng tu

Kiến trúc sau trùng tu

Kiến trúc xây dựng lần thứ nhất năm 1844 Kiến trúc ban đầu chỉ là bằng cây lá đơn sơ. Đình được xây dựng lại vì vừa trải qua một đợt lụt lội kinh hoàng. Lần trùng tu đầu tiên vào năm 1844. Lúc này đình thần chỉ đơn thuần là nhà cây mái lá đơn sơ, chưa có võ ca, hai bên chưa có miễu Sơn Quân, miễu Thần Nông. Đình có tên là đình Bình Hưng vì thuộc làng Bình Hưng và lễ vật tế thần cũng đơn giản hơn bây giờ chủ yếu là xôi nếp, hoa, trái cây,… Tôn Thất Lang ghi nhận lại: “Năm Giáp thìn (1844), lụt lội tan tác, người người không nơi nương tựa. Một số người đã bỏ đi. Bão lụt qua đi một thời gian, nhân dân trở lại làm ăn ngày càng đông đảo. Trong làng, bà con khấn nguyện Thần linh phò hộ, cùng nhau cất một ngôi đình bằng lá tại vàm sông Bình Thủy” (Tôn Thất Lang, 2005).
Kiến trúc lần trùng tu lần đầu tiên 1894 Sau 50 năm (1844 – 1894) đình Bình Hưng vẫn là một đình nhỏ của làng Bình Hưng như có giá trị rất lớn về mặt tâm linh và có vai trò ổn định tinh thần của cả làng. Lần trùng tu này có nhiều biến đổi vì lẽ kinh tế của làng lúc này đã khá ổn định, Ban trung đình và những người đứng đầu sáu ấp cũng quan tâm nhiều hơn. Mái đình lúc này đã lợp ngói, hai bên có võ ca (nhưng chưa sử dụng để hát Tiều hay hát bội). Hai bên có miễu Sơn Quân và miễu Thần Nông, chưa có miếu Đông Lang và miếu Tây Lang. Tuy nhiên, kiến trúc đình vào thời gian này vẫn còn đơn giản. Ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý 1852, làng Bình Hưng đổi lại thành thôn Bình Thủy và được vua Tự Đức phong sắc thần “Bổn Cảnh Thành Hoàng chi thần”.
Kiến trúc lần trùng tu thứ hai 1904 Kiến trúc đình đã có nhiều hạng mục công trình bị hư hỏng. Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận họp bàn với các hương chức, thương gia, nghiệp chủ, họp bàn đổi tên làng và chuyển địa điểm đình sang khu vực ngã tư Bé, trên sở đất của làng rộng 2,09 ha. Sau khi họp bàn, thống nhất và mua đầy đủ nguyên vật liệu đầy đủ thì ông Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận bất hạnh qua đời, công việc trùng tu đổ vỡ. Như vậy, kế hoạch trùng tu không thành kèm theo kiến trúc vào thời gian này cũng không có gì thay đổi, có chăng là phần hư hỏng, xuống cấp vẫn còn đó.
Kiến trúc trùng tu lần thứ ba 1909 Nhiều hạng mục của công trình đã bị xuống cấp, hư hỏng nặng do lần trước trùng tu dang dỡ. Lần trùng tu lần thứ tư có thể xem là lớn nhất với 5.832 đồng tiền Đông Dương, có nhiều hạng mục công trình được trùng tu và làm mới. Về kiến trúc, từ giai đoạn này đến nay (2018), đình Bình Thủy vẫn không có gì thay đổi; đình được xây theo chữ nhất (-) hướng mặt phía Đông, có ba nhà nối tiếp nhau, ngang 16m, dài 35m.

 

Kiến trúc nhà số 1: trên nóc là tượng lưỡng long tranh châu, hai bên phụ thêm hai con cá chép và hai bình một rượu một trà (sáng trà chiều rượu). Bờ nóc trước là tượng long ngư, sau là kỳ lân và bốn cảnh tứ thời. Phía trước máy đình có tượng bằng gốm ông bà Nhật Nguyệt. Phía trước mặt tiền có ba cặp chữ đối viết bằng chữ Hán.

Kiến trúc nhà số hai: nhà thứ hai nằm ở giữa, dọc theo nóc chính giữa là dao lá hai bên hình những con cá cảnh màu sắc sặc sỡ uốn lượn. Mặt ngoài cổ lầu vẽ hình tượng con rùa đội hạt.

Mặt phía trong cổ lầu vẽ tả thanh long hữu bạch hổ. mặt trước và sau là những hoa văn và chim cảnh, phía trước trên nóc là bức tranh Tùng Lộc, Tiêu Tượng. Phía bên phải và trái có tranh Liễu Mã, Trúc Sáo.

Đặc biệt ở giữa chính điện có vẽ hình Cửu Long với ý nghĩa đây là ngôi đình lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long.

Kiến trúc nhà số 3: Trên nóc thờ bộ tứ linh (Long, lân quy, phụng), cổ lầu có có vẽ hoa văn và tranh nhị thập tứ hiếu.

Kiến trúc lần trùng tu thứ tư 2001 Sau 92 năm, một số hoa văn, họa tiết đã bị hao mòn, phai màu. Một số cột đã bị mối mọt làm hư hỏng nặng. Có một số thay đổi ở lần trùng tu này: thay 9 bộ cửa đi, 5 bộ cửa sổ toàn bằng gỗ lim: “Đa số các cột hư do độ ẩm xói mòn và mối mọt. Thay 2 cột ở nhà 1, thay toàn bộ cột hư ở nhà 2 (cột vuông được thay bằng cột tròn, thay một cột lớn ở nhà 3. Phục chế 26 cột ở nhà 1 và nhà 3. Tất cả các cột được kê trên đá tảng. Riêng nhà 3 nghiêng và lún được nâng cao lên một thước” (Tôn Thất Lang, 2005).

 

Lần điền dã gần nhất của chúng tôi là thứ 5, ngày 07/6/2018, hiện trạng của đình vẫn rất trang nghiêm, cổ kính. Theo quan sát của chúng tôi phần mái trên đình, hình ông bà Nhật Nguyệt bằng gốm có chút thay đổi (hình ông tiên (thần mặt trời) bị mất cánh tay trái), nguyên nhân được Ban Trung đình cho biết là do yếu tố thời gian. Phần đầu hồi phía sau mái đình có hình cá hóa rồng bị mất 2/3, lí do được biết do trộm đột nhập ngày 06/6/2018 (lực lượng chức năng có mặt kịp thời nên không bị mất vật thờ).

     Những thay đổi về quy mô tổ chức, chúng ta có thể phân định theo một số mốc thời gian. Năm 1852, khi đình được vua Tự Đức sắc phong đình thần và thành lập Ban Trung đình. Năm 1913, chuyển từ lệ thỉnh sắc thần bằng đường thủy “bè thủy lục” sang đường bộ “long xa phụng tán”, sự kiện này được ghi chép lại trong quyển Văn hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ như sau: “đến năm 1913 đường xá đã thuận tiện hơn nên dân làng bỏ lệ thỉnh sắc thần theo đường bộ bằng một loại xe chạm trổ gọi là “long xa phụng tán”. Từ khi có lệ thỉnh sắc thần theo đường bộ thì không khí cuộc lễ hoành tráng hơn” (Nguyễn Thị Mỹ, 2008). Ngày 06/02/1989, đình được Bộ Văn hóa công nhận di tích Lịch sử – Văn hóa, việc tổ chức lễ hội Kỳ yên ngày càng lớn về quy mô. Trong những năm gần đây, lễ Thượng điền hằng năm của đình thực sự là một lễ hội vùng. Theo Ban Trung đình cho biết, đến kỳ lễ thượng điền, không chỉ có những người ở Cần Thơ tham dự mà còn có cả khách du lịch nước ngoài, nam thanh niên của những tỉnh lân cận vùng ĐBSCL đến tham dự, những năm có cả sinh viên trường Đại học Kiến Trúc đến tham gia và thực tập,…

     Trong những năm gần đây, việc kết nối lễ hội Kỳ yên với hướng phát triển du lịch của thành phố Cần Thơ đang được đẩy mạnh, những hoạt động văn nghệ thể dục thể thao được tổ chức với phạm vi rộng hơn. Nếu trước kia chỉ có hát bội, kéo co, đua thuyền và 6 ấp thi làm bánh khéo để thể hiện phẩm chất công – dung – ngôn – hạnh của người phụ nữ thì ngày nay, đua thuyền được tổ chức cấp thành phố, có nhiều gian hàng trưng bày, viết thư pháp, triển lãm sách, thi văn nghệ và các trò chơi dân gian được diễn ra liên tục 3 ngày liền. Không khi lễ hội rất náo nhiệt, có thể dùng câu “trên bến dưới thuyền” để so sánh.

     – Về lễ vật tế thần

     Như chúng tôi đã đề cập, lễ vật tế thần trước kia rất đơn giản (những sản phẩm từ nông nghiệp như xôi nếp, bộ tam sanh (bò, dê, ngỗng), trầu cau,…), chủ yếu là dâng lên thần bằng tấm lòng thành kính. Năm 1916, lần đầu tiên rước sắc thần bằng đường bộ “long xa phụng tán”, người dân hai bên đường có tục lập bàn hương án để trước nhà đón dâng lễ vật cho thần, phần lễ là một con gà luộc. Tục lệ này đến ngày nay không còn nữa. Người dân hiện nay muốn dâng lễ vật thì trực tiếp đến đình vào ngày lễ thượng điền hay hạ điền. Như vậy, hai hình thức dâng lễ trước kia là đến đình và bày bàn hương án trước nhà bây giờ chỉ còn một. Phần lễ vật dùng để làm lễ tế thần đã được cố định và tùy vào những lễ khác nhau thì vật tế cũng khác nhau, hiện nay chưa thay đổi gì nhiều. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày sự biến đổi vật tế thần của người dân trong vùng và lí giải nguyên nhân của nó. Qua việc quan sát và thông tin từ Ban Trung đình, ngày nay người dân đi lễ đình với vật lễ đa dạng hơn trước, ngoài xôi nếp truyền thống, hoa, trái cây,… (những vật phẩm thường thấy) thì còn tùy vào khả năng của từng gia đình, có thể nhiều hơn hoặc ít hơn.

     – Về phương tiện rước sắc thần

     Việc rước sắc thần trước và sau 1913 cũng có nhiều khác biệt. Trước năm 1913, việc rước sắc thần bằng đường thủy “bè thủy lục” nhưng đến 1913 thì rước bằng đường bộ “long xa phụng tán”. Lí do có sự thay đổi trên là vì năm đó có đường đất đỏ và cầu sắt cũng hoàn thành. Sự kiện này được tác giả Nguyễn Thị Mỹ ghi lại: “đến năm 1913 đường xá đã thuận tiện hơn nên dân làng bỏ lệ thỉnh sắc thần theo đường bộ bằng một loại xe chạm trổ gọi là “long xa phụng tán”. Từ khi có lệ thỉnh sắc thần theo đường bộ thì không khí cuộc lễ hoành tráng hơn” (Nguyễn Thị Mỹ, 2008).

     Theo lời kể của các bô lão trong làng, trước kia sắc thần phải do Chánh bái phụng giữ, mà nhà viên chức này ở cách ngôi đình khoảng 4 cây số, vì vậy có lễ rước sắc thần về đình làm lễ. Theo ghi nhận, việc rước sắc thần đi từ lúc 3 giờ sáng về đến đình an vị vào lúc 7 giờ. Bè thủy lục là bè bao gồm nhiều chiếc chuyền ghép lại với nhau, trên làm mui hình cổ lâu, có trang trí rồng, phụng, treo đèn kết hoa. Hòm sắc thần đặt trên ngay ngự giữa bè thủy lục. Trên bè các hương chức và Ban tế tự ăn mặc chỉnh tề, nghiêm trang. Trước bè có thuyền của đội múa lân rất nhộn nhịp, sau bè có vài thuyền con được trang trí gần giống với bề rước sắc thần, gọi là thuyền hộ tống. Do đi vào lúc trời vừa sáng nên không khí êm đềm, trong lành, lúc này nghe tiếng trống múa lân càng rõ, cộng thêm tiếng người ở hai bên sông làm cho không khí càng náo nhiệt.

     Về sau, khi rước sắc thần bằng “long xa phụng tán”, không khí càng vui hơn nữa: “Đi đầu là chiếc “long xa phụng tán”, hai bên có tượng voi, tượng ngựa (bằng giấy bồi, sườn tre) được gắn bánh xe do nhiều người kéo. Trên long xa lại bày thêm tượng hai ông thần tướng mặt mày dữ tợn gọi là ông Chiêu và ông Mục. Sau long xa có sau chiếc kiệu của sáu ấp và hàng mấy trăm hộ theo hầu. Hai bên đường dân chúng lập bàn hương án với lòng thành kính” (Nguyễn Thị Mỹ, 2008).

     Ngày nay việc rước sắc thần không còn nữa, thay vào đó là đưa sắc thần du ngoạn. Lễ rước sắc thần du ngoạn cũng long trọng không kém trước kia nhưng về mặt tâm linh không thể hiện đậm như trước. Người dân đi theo hầu, hộ tống đức Thành Hoàng rất đông nhưng không bày bàn hương án như tục lệ xưa. Phần lễ rước sắc thần du ngoạn ngày hôm nay chịu ảnh hưởng khá lớn của cuộc sống đô thị hiện đại (một số người tham gia đôi khi do hiếu kì hay ảnh hưởng tâm lí đám đông). Các dịch vụ kéo theo phần hội dần hình thành gần đây cũng ảnh hưởng ít nhiều nơi tôn nghiêm như trưng bày các gian hàng, triển lãm sách, các dịch vụ cơm, nước,…

     – Về văn nghệ, trò chơi dân gian

     Theo tìm hiểu của chúng tôi, về văn nghệ và trò chơi dân trong trong suốt quá trình diễn ra phần hội có nhiều sự thay đổi. Đầu tiên là phần hát bội không còn chiếm vị thế độc tôn như trước nữa, bổ sung cho hát bội trong vài thập niên trở lại đây đờn ca tài tử cũng rất phổ biến ở lễ Kỳ yên, hiện tượng văn hóa này cũng giống với đình thần Thường Thạnh. Theo Ban trung đình Thường Thạnh, lễ thượng điền sẽ có chương trình hát bội và lễ hạ điền có chương trình đàn ca tài tử diễn ra ở võ ca.

     Về thể thao, các trò chơi dân gian như kéo co, đua thuyền vẫn còn giữ cho đến ngày hôm nay. Có điểm biến đổi ở quy mô tổ chức, nếu như trước kia chỉ giới hạn ở 6 ấp trong làng Bình Thủy thì bây giờ đã là cấp thành phố. Năm 2018 vừa qua, có đến 17 đội thuyền đua tài. Không khí diễn ra rất náo nhiệt.

4. Kết luận

     Trong xu thế phát triển của xã hội, trải qua thời gian dài, việc xảy ra hiện tượng biến đổi văn hóa của của một di tích là điều tất yếu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến biến đổi văn hóa ở đình thần Bình Thủy – Long Tuyền như: tác động của kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp, sự thay đổi của môi trường nhất thể hóa cá nhân, chuyển đổi từ cơ cấu xã hội truyền thống sang cơ cấu xã hội hiện đại đa dạng hơn,…nguyên nhân trọng yếu đối với đình có thể được nhìn nhận từ sự chuyển đổi từ cơ cấu xã hội truyền thống sang cơ cấu xã hội hiện đại như ngày nay. Bàn về nguyên nhân kinh tế, Ngô Đức Thịnh (2014) cho rằng “không thể phủ nhận yếu tố văn hóa trong khái niệm toàn cầu hóa kinh tế, tất nhiên trong đó yếu tố động lực và chủ đạo là kinh tế và công nghệ” (Ngô Đức Thịnh, 2014, tr319).

     Trong xu thế hội nhập quốc tế, những sản phẩm văn hóa của thế kỷ XXI mang nhiều đặc điểm chung của khoa học kỹ thuật, của công nghệ số và tương lai là công nghệ 4.0. Vì vậy, việc gìn giữ bản sắc dân tộc là việc rất quan trọng. Trước khi nghĩ đến việc đó, cần gìn giữ những lễ hội truyền thống của lễ hội Kỳ yên, một lễ thức quan trọng trong tâm linh người Việt và trong văn hóa của một nước nông nghiệp, tránh những biến đổi không cần thiết làm mất đi những giá trị truyền thống của dân tộc nói chung, của đình Bình Thủy – Long Tuyền nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Huỳnh Hoàng Mai, 2013. Nghi thức cúng tế trong lễ Thượng điền đình Bình Thủy. Hội thảo khoa học trẻ 2013, trường KHXH và NV TP. Hồ Chí Minh.

2. Hoàng Phê (chủ biên), 2010. Từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1092 trang.

3. Huỳnh Minh, 1966. Cần Thơ xưa. NXB Thanh niên, 313 trang.

4. Ngô Đức Thịnh (chủ biên), 2014. Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và biến đổi. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 460 trang.

5. Nguyễn Sương, 2011. Chuyện làng cổ Bình Thủy – Long Tuyền, tập 1. NXB Đại học Cần Thơ, 152 trang.

6. Nguyễn Sương, 2012. Chuyện làng cổ Bình Thủy – Long Tuyền, tập 2. NXB Đại học Cần Thơ, 157 trang.

7. Nhiều tác giả, 2005. Bước đầu tìm hiểu văn hóa dân gian Bình Thủy – Long Tuyền. NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 198 trang.

8. Nguyễn Thị Hồng Tâm, 2016. Biến đổi văn hóa – một vấn nghiên cứu được quan tâm triển khai. http://vanhien.vn/news/bien-doi-van-hoa-mot-van-de-nghien-cuu-duoc-quan-tam-trien-khai-49579, ngày truy cập 20/2/2018.

9. Phạm Đức Dương, 2013. Văn hóa học dẫn luận. NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 349 trang.

10. Tô Hoàng Vũ, Trần Văn Nam (chủ biên), 2008. Văn hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ. NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 332 trang.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế
Trường Đại học Tây Đô Số 06 – 2019

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Biến đổi kiến trúc và lễ hội ở Đình thần Bình Thủy – Long Tuyền (TP. Cần Thơ) – Tác giả: ThS. Nguyễn Minh Ca