Bộ máy hành chính làng xã thời Nguyễn (Nửa đầu thế kỷ XIX)
Tác giả bài viết: Tiến sĩ VŨ DUY MỀN
(Viện Sử học Việt Nam)
Ngay từ khi nhà Nguyễn mới ra đời, thời Gia Long và sau này vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều tiếp thu, thừa hưởng kinh nghiệm tổ chức cấp xã thời Lê và có phần sáng tạo thêm. Ở xã, nhà Nguyễn vẫn duy trì xã trưởng – người đứng đầu hàng xã với chức năng và nhiệm vụ được quy định khá rõ ràng.
Thời kỳ đầu nhà Nguyễn, lần đầu tiên trong lịch sử đất nước thống nhất, bao gồm một lãnh thổ rộng lớn từ Bắc chí Nam. Sống trên đó người Kinh (Việt) là chủ thể và bao gồm nhiều dân tộc anh em khác. Trên những vùng đất mới thu nạp hoặc mới được khẩn hoang ở Nam Kỳ và ven biển Bắc Kỳ thì vai trò của các xã trưởng càng nặng nề hơn. Bởi họ phải lo tổ chức hoạt động kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Trong đó có việc cảm hóa và làm thay đổi dần một số phong tục lạc hậu của dân tộc thiếu số địa phương theo về phong tục của người Kinh; nhằm thực hiện việc giáo hóa của triều đình. Thực hiện được nhiệm vụ cao cả đó đối với các xã trưởng thời kỳ đầu triều Nguyễn quả thực không dễ dàng. Vì ngay đối với người Kinh ở Bắc Hà, nhất là trong tầng lớp sĩ phu nhiều người vẫn hoài niệm nhà Lê, bất hợp tác với triều đình Nguyễn. Nhiều cuộc nổi dậy chống đối đã nổ ra làm triều đình Nguyễn phải nhiều phen khốn đốn, vất vả mới dập tắt được.
Giúp việc xã trưởng để ghi chép sổ sách, giấy tờ của xã còn có viên Thủ bạ (Xã bạ). Thủ bạ lưu giữ các tờ trát, sức, lệnh chỉ (công văn của Nhà nước gửi đến). Bảo quản sổ đinh, sổ điền, địa bạ, hương ước, khoán ước của làng xã. ở một số nơi do Thủ khoán lưu giữ hương ước và những đơn từ kiện cáo tranh chấp dân sự, cùng các bản tâu báo về tình hình làng xã sở tại gửi cấp trên hàng năm.
Đối với vùng dân tộc ở thượng du Bắc Hà hay đối với dân tộc Chăm, Khơ Me… ở Trung Bộ và Nam Bộ cuộc sống kinh tế của họ còn gặp nhiều khó khăn, nạn thiếu đói thường xuyên xảy ra, họ phải lo cái ăn thường nhật. Vì thế việc tổ chức giáo dục khoa cử để giáo hóa người dân chưa thu được mấy kết quả. Trong những vùng như vậy, Nhà nước trông đợi rất nhiều vào hoạt động của xã trưởng, cùng bộ máy cấp xã. Có lẽ cũng chính trong hoàn cảnh lịch sử xã hội như vậy mà nhà Nguyễn đã tiến hơn một bước trong việc quản lý hành chính cấp thôn, mà trước đó vai trò của cấp thôn, thông qua trưởng thôn (làng) mới được đề cao phần nào. Đó là việc mỗi làng đặt ra một viên lý trưởng với quyền lợi và nghĩa vụ rất rõ ràng, được luật lệ thừa nhận và đảm bảo.
Về quy mô cấp xã thời kỳ đầu nhà Nguyễn, thường gồm một thôn (làng) – “Nhất xã nhất thôn” hoặc hai đến bốn năm thôn. Đương nhiên, người đứng đầu hàng xã là xã trưởng. Dưới thôn (làng) ngay trong thời kỳ Nguyễn ánh chiếm được một số vùng đất ở Gia Định đã đặt chức lý trưởng. Lý trưởng là người đứng đầu thôn làng, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trực tiếp đốc thúc dân đinh thực hiện bằng được ba nghĩa vụ công ích về thuế, phu, lính.
Lý trưởng do dân làng (đinh nam) bầu ra. Tiêu chuẩn được chọn làm Lý trưởng phải là nam giới tuổi từ 25 trở lên, là người có gia sản, biết chữ, có uy tín đối với dân làng1. Việc bầu cử Lý trưởng diễn ra ở trong thôn. Kết quả bầu cử lý trưởng được xã, tổng, huyện công nhận và cấp bằng son, dấu (triện) để làm việc.
Thời hạn làm việc của một khóa Lý trưởng là 3 năm hoặc 6 năm, tùy theo lệ làng.
Lý trưởng lo tổ chức dân làng phòng chống thiên tai như hạn hán, lụt lội, dịch bệnh khi xảy ra. Khi thiên tai gây thiệt hại cho dân làng như mất mùa hay người chết dịch thì Lý trưởng cùng với xã trưởng phải kịp thời tâu báo với chính quyền cấp trên để đệ lên triều đình xin xét chu cấp thóc gạo, cứu đói, cung cấp thuốc men để chữa trị; hoặc miễn giảm thuế thân, thuế ruộng hoặc chu cấp một (phần) khoản tiền đối với những hộ gia đình có người chết vì bệnh dịch. Trong những trường hợp cứu tế thóc gạo cho dân, hoặc cho dân vay nóng (vay vụ này trả vụ sau) thì lý trưởng- xã trưởng phải lập danh sách xác thực và cam kết hoàn trả. Tránh việc cứu tế không đến được đúng địa chỉ. Nếu phát hiện lý trưởng bớt xén, tham ô sẽ bị trừng phạt bằng trượng hoặc đi đầy; trưng thu nộp vào kho công và trích thưởng cho người tố giác.
Lý trưởng chịu trách nhiệm ngăn ngừa các tệ nạn xã hội xâm nhập vào làng hoặc xảy ra ở trong làng.
Thông thường mỗi thôn đều tổ chức đội tuần gồm những tráng đinh tuổi từ 18 đến 45 do trương tuần hay trưởng tuần phụ trách. Trong đội tuần được tổ chức thành các phiên do trương phiên – trưởng phiên chỉ huy. Tùy theo từng thôn làng phiên tuần có thể chia ra phiên tuần ban đêm, phiên tuần ban ngày, lần lượt đổi phiên cho nhau.
Đội tuần chính là lực lượng tiên phong chặn đánh cướp khi chúng tấn công vào làng bằng các vũ khí thô sơ như gậy gộc, giáo mác. Sau đấy là hiệu lệnh trống ngũ liên, tù và do đội tuần cấp báo hối thúc toàn thể dân làng cùng tham gia chặn đánh cướp. Để có nơi tập kết, vừa có trụ sở của đội tuần tránh mưa nắng, nghỉ ngơi qua đêm, để các dụng cụ cứu hỏa và các vũ khí mỗi làng đều đặt các điếm canh. Điếm có thể đặt ở trên đê vừa coi đê vừa xét hỏi người lạ qua lại vào ban đêm. Điếm thường đặt ở đầu làng hay cuối làng. Làng lớn có nhiều xóm mà các xóm ở cách xa nhau thì mỗi xóm đều đặt điếm canh. Khi hữu sự thì người trực tuần nổi trống, tù và báo hiệu cho nhau cùng phối hợp chặn đánh bọn trộm cướp vào làng. Lý trưởng dựa vào trương tuần, hệ thống điếm canh và sự phối hợp của dân làng, coi đó như những lá chắn đảm bảo an ninh trật tự của làng. Lệ làng- hương ước và luật pháp Nhà nước đều có quy định cụ thể khuyến khích đề cao những hành động dũng cảm của dân làng khi chống trộm cướp. Nếu cả làng có công chống giặc cướp sẽ được Nhà nước tặng biển “Nghĩa dũng tri phương” (một làng biết làm việc nghĩa dũng). Ai bắt sống được một tên cướp sẽ được miễn 10 năm canh gác, hoặc thưởng 30 quan tiền. Không may người nào bị cướp đánh chết thì cấp 100 quan tiền tuất mai táng chu tất, cho một người con hoặc cháu được miễn phu phen tạp dịch suốt đời. Nếu vì chặn cướp mà bị thương đều được làng cấp tiền mua thuốc chữa trị.
Quyền hạn của Lý trưởng được hòa giải các cuộc cãi nhau, hoặc giải quyết những tranh chấp nhỏ như vay nợ giữa người trong làng với nhau. Việc kiện cáo về ruộng đất, nhà cửa liên quan đến tài sản lớn hoặc âm mưu phản loạn đều vượt quá quyền, lý trưởng đệ chuyển lên chính quyền cấp trên giải quyết.
Lý trưởng xác nhận người làng xin giấy thông hành đi lại, xã trưởng cấp giấy thông hành cho họ. Trường hợp ở những làng xã ven biển những chủ thuyền đi làm ăn buôn bán xa đều phải có xác nhận của lý trưởng, xã trưởng cấp giấy thông hành thuyền mới được lưu thông. Lý trưởng, xã trưởng phải đảm bảo thu đủ thuế của các chủ thuyền đó. Nếu họ trốn thuế các lý trưởng, Xã trưởng sở tại bị trách phạt.
Nhà Nguyễn định lại lệ thi Hương, mở thêm một số trường thi ở địa phương để thí sinh tiện đi thi, nhằm tuyển chọn nhân tài. Các lý trưởng phải đảm bảo xác nhận, cam kết các thí sinh đi thi đều thuộc người trong làng xã: Ghi họ và tên tuổi, quán chỉ, là người thực học, không thuộc diện những đối tượng cấm thi – kẻ phản loạn, bất hiếu, bất mục, nhà phường chèo con hát. Nếu lý trưởng khai man thí sinh, việc phát giác sẽ bị trừng phạt theo pháp luật.
Đối với Nhà nước, nhiệm vụ của lý trưởng rất nặng nề. Hàng năm, lý trưởng phải đốc thúc dân đinh nộp cho đủ ba nghĩa vụ công ích về thuế, phu, lính cho Nhà nước.
Thuế ruộng là nguồn thu chính cho ngân khố Nhà nước. Căn cứ vào sổ điền (số ruộng trong đó ghi tổng số diện tích, đẳng hạng ruộng đất) chiếu mức thuế của Nhà nước đối với từng loại ruộng: nhất đẳng điền (ruộng loại một), nhị đẳng điền (ruộng loại hai), tam đẳng điền (ruộng loại ba), ruộng cấy một vụ chiêm hoặc mùa, hoặc cấy cả hai vụ. Lý trưởng thu thuế ruộng bằng thóc, hoặc bằng tiền (đối với miền núi xa xôi vận chuyển khó khăn) nộp vào kho công. Nếu để chậm thuế, nợ đọng thuế lý trưởng tâu báo nguyên do không xác đáng đều bị phạt. Trường hợp lý trưởng thu thuế hà lạm quá mức và tư túi cho riêng mình, việc bị phát giác phải bồi hoàn số đã thu, bị cách chức và bị phạt trượng, nếu mức tham ô nghiêm trọng có thể bị xử đi đầy.
Ngoài thuế ruộng, thuế đinh (thuế thân) cũng là nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước, lý trưởng, xã trưởng căn cứ vào sổ đinh trong làng, dựa vào mức thuế của Nhà nước để thu nạp. Trường hợp người nào không may gặp tai biến, gia cảnh túng quẫn xin được miễn giảm thuế, lý trưởng phải tâu báo kịp thời để các ty sở xét đệ trình lên trên châm trước. Những người phiêu bạt tha hương lý trưởng cũng phải nắm rõ để xin được trừ thuế. Nếu lý trưởng che giấu nhân đinh để tư lợi làm thất thoát thuế, việc bị phát giác thì thưởng cho người tố cáo, lý trưởng phải bồi hoàn tiền thuế, bị phạt theo như luật định. Nếu lý trưởng, xã trưởng ăn tiền của dân, không ghi tên người đó vào sổ đinh, tính tang vật đủ 300 quan không kể lậu đinh nhiều hay ít đều phải trả lại tiền cho dân. Chiếu luật xử tội lý trưởng và xã trưởng.
Ngoài hai thứ thuế là thuế ruộng, thuế đinh, làng nào có ngành nghề thủ công, có người đi buôn bằng thuyền… đều phải nộp thuế cho Nhà nước. ở thôn sở tại, lý trưởng đương nhiệm cùng với các cộng sự của mình phải đảm trách thu các thứ thuế đó nộp cho Nhà nước.
Để duy trì vương triều hàng năm, nhà Nguyễn mở ra rất nhiều công việc xây dựng điện các ở kinh đô Huế, các lăng tẩm, đền đài, các công quán ở các huyện, phủ, tỉnh, xây đắp và mở mang đường xá, đê điều trong cả nước. Những việc đó thu hút một khối lượng lớn nhân công từ các làng xã. Lý trưởng các thôn (làng) phải đốc thúc dân đinh trong độ tuổi từ 18 đến 47 tham gia có thời hạn vào các công việc trên. Việc đó diễn ra thường niên quả không dễ dàng ngay đối với dân đinh và lý trưởng. Vì trên thực tế nhiếu người là chủ hộ, là lao động chính, chỗ dựa của cả gia đình khi phải đi phục dịch quả thực rất khó khăn đối với cuộc sống của gia đình họ. Trong khi sự hỗ trợ của Nhà nước không có (ngoài việc họ được chia phần ruộng công ở làng xã).
Việc phu dịch đã vậy, việc bắt lính hàng năm đều liên đới đến trách nhiệm lý trưởng. Nhà Nguyễn quy định cứ 7 đinh lấy một lính, nhằm vào tráng hạng – đinh nam tuổi từ 18 đến 37. Nhà giàu đăng lính không gặp trở ngại về lo lương ăn cho lính, nhưng họ lại thường trốn tránh, ngại gian khó hay thuê người nghèo đi thay. Người nghèo đi lính là một gánh nặng đối với gia đình họ, vì thời gian tại ngũ kéo dài, ai nuôi cha mẹ già hay vợ con họ. Mặc dù Nhà nước thông qua làng xã có đặt ra chính sách hỗ trợ đối với những người đăng lính. Họ được cấp ruộng huệ điền hay ruộng binh, từ một mẫu đến sáu mẫu (tùy theo tình hình ruộng đất của từng làng), nếu không có ruộng thì cấp tiền làm lương ăn cho lính.
Tuy vậy, việc trốn lính ở các làng xã vẫn thường diễn ra. Lý trưởng, xã trưởng phải bắt họ quay lại quân ngũ. Nếu họ trốn biệt tích thì lý trưởng phải bắt người thân thuộc người trốn đó thay thế, lý trưởng cố tình che giấu kẻ đào ngũ việc phát giác sẽ chiếu luật trị tội.
Ngoài ra, chính các ông lý ông xã này còn đảm trách thực thi nhiều chính sách khác của Nhà nước ở làng xã như lập điền bạ, địa bạ, đinh bạ.
Khi tiến hành lập điền bạ và địa bạ ở các làng xã, lý trưởng, xã trưởng là người đầu tiên cùng các quan ty, sở cùng nhau khám đạc ruộng, dựng giới mốc, phân chia đẳng hạng ghi vào sổ. Lý trưởng phải xác nhận số ruộng đất bỏ hoang hóa chưa phục canh ghi vào sổ. Nếu lý trưởng, xã trưởng ẩn giấu ruộng đất khai không trung thực để trốn thuế, việc bị phát giác, tùy theo mức độ vi phạm mà họ mắc phải để xử trị.
Đối với việc phân chia ruộng đất công ở các làng xã, nhà Nguyễn đã có chính sách chung cứ 6 năm thì phân chia lại nhằm thu bớt khoảng cách giàu nghèo. ở Nam Kỳ, ruộng của điền chủ rộng bát ngát hàng trăm hàng ngàn mẫu, trong khi nhiều người nông dân không có một tấc đất cắm dùi. Họ không có kế sinh nhai phải đi ở đợ hoặc làm thuê làm mướn cho điền chủ (phú hộ). Vào đời vua Minh Mạng (1820 – 1840) chủ trương nơi nào không có ruộng công hoặc ít ruộng công thì lấy một phần ruộng của điền chủ sung công chia cho nông dân, giúp họ có đất sản xuất để sinh sống. Khi thực hiện chính sách đó ít nhiều đều vấp phải sự phản đối của các điền chủ. Lý trưởng, xã trưởng trực tiếp phân chia ruộng đất, chưa thể có sự công bằng cho những người nông dân trong các làng xã. Nạn cường hào bao chiếm ruộng đất ở hai khu vực đồng bằng rộng lớn màu mỡ ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ không phải là chuyện hiếm hoi, Nhà nước nhiều phen ra tay trấn trị song chuyện chia chác bất công, việc tranh chiếm ruộng đất của dân nghèo vẫn thường xảy ra ở các làng xã. Lý trưởng, xã trưởng có nơi có lúc thông đồng với bọn cường hào lấn cướp ruộng đất của dân, gây nên kiện cáo không dứt, làng xã bất ổn. Mặc dù, Nhà nước có ban hành luật ngăn chặn tệ nạn đó nhưng cũng chỉ hạn chế được phần nào. Tệ lậu điền vẫn là cố tật nơi làng xã do hương thôn, hào lý gây ra.
Để quản lý nhân dân trong nước, nhà Nguyễn cũng học tập các triều đại trước (Lý, Trần, Lê) lập sổ đinh các làng xã. Mục đích của việc lập sổ đinh để nắm vững số đinh cả nước thực thi các nghĩa vụ công ích và các chính sách xã hội khác. Vì thế, khi nhà Nguyễn lập sổ đinh lý trưởng, xã trưởng phải xác nhận nhân đinh về họ tên (tính danh), tuổi, quán chỉ (nguyên quán), chia ra các hạng: Quan, quân, đinh tráng, lão, tật, cùng cố đều ghi vào sổ. Nếu xã trưởng, lý trưởng che giấu, khai man: Không quan chức khai là quan chức và ngược lại, loại tráng đinh khai là quân hoặc chưa nhiêu khai là nhiêu (nhiêu là người được miễn tạp dịch trong làng, thường là người già tuổi từ 60 trở lên, hoặc có công đánh giặc cướp được làng thưởng một xuất nhiêu, hoặc có người bỏ tiền mua nhiêu khi làng cần tiền để giải quyết công việc chung); hoặc là đinh tráng khai là bệnh tật; hay chưa già đã khai là lão; người ngụ cư khai là chính cư (ngoại tịch khai là nội tịch); dân không phiêu tán khai là phiêu tán… Việc khai gian của xã trưởng, lý trưởng mục đích nhằm tư lợi trốn thuế. Việc phát giác bị khép vào tội lậu đinh. Tùy theo mức độ lậu đinh nhiều hay ít mà bị pháp luật trừng trị thích đáng.
Nếu xã trưởng, lý trưởng khai sổ đinh trung thực, số đinh trong làng tăng thêm so với trước sẽ được thưởng bằng tiền hoặc nhận thêm các suất khinh phu (người giúp việc khi Lý trưởng đi làm việc hay đi lên tỉnh, huyện…).
Trong thời gian trị vì của các vua đầu triều Nguyễn, ngoài việc nắm chắc vương quyền còn sử dụng cả thần quyền để tăng thêm quyền lực cho vương triều. Các xã trưởng và lý trưởng còn có nhiệm vụ khai báo việc thờ thần ở làng xã mình và tâu báo lên bộ Lễ theo định kỳ để được cấp sắc phong thần. Nếu như thần có công âm phù việc dân việc nước, thì lý trưởng và xã trưởng các xã sở tại cũng phải kịp thời tâu báo được xét phong vượt cấp cho thần, từ trung thần có thể phong đến thượng đẳng thần.
Thời Minh Mạng và Tự Đức (1848- 1883), triều đình ra lệnh cấm đạo Gia tô rất gắt gao. Lệnh ban bố khắp trong nước. Trong đó quy định, nếu xã trưởng, lý trưởng dám che giấu người làng theo đạo Gia tô sẽ bị phạt nặng.
Trách nhiệm của Lý trưởng, Xã trưởng phải phổ biến giáo hóa Nho giáo đến với dân làng. Mỗi khi triều đình ban bố huấn điều – giáo điều trong nước thì lý tr-ưởng, xã trưởng tập hợp nhân dân để giảng giải cặn kẽ giáo điều của nhà vua để mọi người thấm nhuần, tuân thủ lễ giáo Nho giáo và xây dựng nên phong tục làng xã thuần hậu.
Hàng năm lý trưởng, xã trưởng phải lập danh sách những người trong làng, xã thọ 100 tuổi với đàn ông, 80 tuổi trở lên đối với đàn bà, những gia đình tứ, ngũ đại đồng đường, những người con hiếu thuận với ông bà, cha mẹ, những người con gái, những người vợ tiết hạnh, những làng xã nghĩa dũng có công đánh chặn giặc cướp, để triều đình kịp thời cấp biển biểu dương, phong tặng làm gương cho mọi người noi theo, xây dựng nên mỹ tục ở làng xã.
Mỗi khi lý trưởng thực thi những công vụ nêu trên không phải tự quyền quyết định mà đôi khi phải thông qua Hương thôn đối với các làng ấp từ miền Trung trở vào Nam Kỳ, Hương mục ở các làng xã từ miền Trung ra Bắc (hương thôn, hương mục cũng là một thế lực trong làng ấp). Thường có thể là hưu quan, hoặc đa phần là những người giàu, có máu mặt trong làng ấp. Địa vị mà họ có được còn do tập quán truyền thống, được làng ấp thừa nhận. Tuy không hiện diện công khai nhưng hương thôn, hương mục mà đứng đầu là viên thủ chỉ có vai trò ngầm rất quan trọng chi phối các hoạt động của làng xã mà lý trưởng, xã trưởng và dân làng đều phải nể trọng, quan trên cũng chưa thể với tay đến được. Điều đó chứng tỏ vai trò và quyền hạn của lý trưởng, xã trưởng cũng có giới hạn nhất định.
Mỗi khi lý trưởng thực thi việc nước việc làng đều phải dựa vào các cộng sự của mình, đó là phó lý, khán thủ hay trương tuần. Phó lý thay mặt lý trưởng khi lý trưởng đi vắng, tiếp quan trên, giải quyết một số công việc trong quyền hạn của mình. Khán thủ hay trương tuần đặc trách công việc tuần phòng đảm bảo an ninh, trật tự ở làng xã. Phó lý, khán thủ, trương tuần đều do dân bầu. Thời hạn làm việc từ 3 đến 5 năm, hoặc thay đổi tùy theo lệ làng mỗi nơi.
Tuy vậy, bộ máy lý dịch khi vận hành vẫn phải dựa vào lý trưởng, người đứng đầu thôn, làng.
Quyền lợi của lý trưởng: Trong lúc thi hành nhiệm vụ, lý trưởng được làng cấp ruộng hoặc thóc lúa (không có định mức chung) tùy thuộc theo khả năng kinh tế và theo lệ làng – hương ước mỗi làng. Nhà nước không cấp lương cho lý trưởng, xã trưởng mà hoàn toàn do dân nuôi – làng xã tự cấp, tự túc.
Sau khi Lý trưởng mãn nhiệm 3 đến 5 năm hoặc 10 năm, không mắc sai phạm gì lớn, không tham ô tiền sưu thuế, ẩn lậu ruộng đất, hoặc che giấu dân đinh, trộm cướp… làng quê yên bình sẽ được miễn thuế thân và phu phen tạp dịch chung thân. Có làng thưởng cho lý cựu từ 1 đến 3 sào ruộng, hoặc một số tiền tương đương để dưỡng tuổi già. Họ được dân làng nể trọng gọi là lý cựu, xã cựu, được ngồi theo vị thứ ở đình trung khi làng vào đám hội hè, hương ẩm. Tiếng tốt về các ông lý cựu, xã cựu đó còn được lưu mãi ở làng.
Như vậy, ngay sau khi thiết lập vương triều Nguyễn, vua Gia Long đã rất quan tâm đến việc nắm bắt làng xã thông qua việc xét duyệt và nắm lấy bộ máy chức dịch ở làng xã. Đến thời vua Minh Mạng đã tiến thêm một bước nữa trong việc cải cách bộ máy hành chính trên toàn lãnh thổ trong đó có việc lập ra lý trưởng ở làng vào năm 1827, và cả một bộ máy hành chính gọn nhẹ mà đắc lực, nhằm thu phục đồng thời tăng cường khống chế làng xã theo quỹ đạo quân chủ. Các triều vua Thiệu Trị, Tự Đức tiếp tục duy trì quyền lực ở làng xã mà các tiên đế đã đặt nền móng. Nhìn bề ngoài các làng xã yên ắng dường như đã chịu khuất phục, nhưng bên trong là sự chống đối ngấm ngầm. Sử Thực lục chép rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều Nguyễn bùng lên từ làng xã. Nếu nhìn vào đó cho thấy, nhà Nguyễn chưa tạo ra được cơ sở xã hội đó là chỗ dựa vững chắc vào hàng vạn làng xã từ bắc vào nam. Có lẽ, đó là một trong nhiều nguyên nhân khiến nhà Nguyễn không giữ được vương vị lâu dài như mong muốn. Vào một dịp khác chúng tôi xin được bàn sâu thêm về vấn đề này.
__________
1 Hương ước Thanh Hóa. KHXH. HN 2000.
Hương ước Hà Tĩnh. Hà Tĩnh. 1996.
Đại Nam thực lục ( Thực lục). NXB Giáo dục. Tập II. Tr 753.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Bộ máy hành chính làng xã thời Nguyễn (Nửa đầu thế kỷ XIX) – Tác giả: TS. Vũ Duy Mền |