Cây Sài Gòn

Arnold Hilda
Tuần san Sud-Est số 4, tháng 9-1949

BÀI NÀY CỦA ARNOLD HILDA, MỘT NGƯỜI CÓ NHIỀU BÀI VIẾT VỀ SÀI GÒN. NGOÀI PHẦN TƯ LIỆU, TA CÓ THỂ THẤY ĐƯỢC CẢM XÚC CỦA MỘT NGƯỜI CÓ NHIỀU TRẢI NGHIỆM SỐNG TỪ CÁC ĐƯỜNG PHỐ SÀI GÒN KHÔNG KỂ LỊCH SỬ, BÀI VIẾT CÒN NÉT VĂN CHƯƠNG KHÔNG PHẢI KHÔNG HỮU ÍCH. CHÚ Ý: DẤU SAO (*) TRƯỚC CHÚ THÍCH Ở CHÂN TRANG VÀ SAU DẤU NGOẶC ĐƠN TRONG BÀI CHO BIẾT ĐÓ LÀ NHỮNG CHÚ THÍCH TRONG NGUYÊN TÁC.

x
x x

     Sài Gòn in dấu ấn lên những ai lại gần nó, lên những ai bị nó bắt được và giữ lại, những dấu ấn duyên dáng không thể định nghĩa và quyến rũ kì lạ, trong đó có sự đóng góp to lớn của bộ trang sức toàn cây lúc nào cũng xanh tươi, như mô tả của G. Durwell(1), một người say mê thành phố xinh đẹp của chúng ta.

     Thực vậy, Sài Gòn hiện ra trước mắt du khách lần đầu tiên tới như một công viên mênh mông, rợp bóng và đầy hoa, tắm mình trong mùi hương tuyệt diệu; rồi những ấn tượng rõ nét dần; ta nhận ra đường nét của phố xá, những công viên và các quảng trường, và tiếp vào cảm nhận mầu xanh lan tràn nổi lên trước tiên là khái niệm về sự trật tự và đẹp đẽ, thấm đẫm sự thanh lãng chảy dọc theo các đại lộ vô tận.

     Khi nghĩ tới con số 135km đại lộ và phố hiện nay với khoảng 22.500 cây trồng, ta không khỏi không nhớ lại và biết ơn những người đã tạo ra và phát triển “rừng” Sài Gòn cho chúng ta: những người đầu tiên trong số đó là các đô đốc; họ ngay từ khi đặt chân lên đây đã cho trồng cây dọc theo các bến tàu và các phố theo nhịp độ quy hoạch đô thị; những cây me phủ bóng mát cho biết bao đại lộ đã được trồng vào thời đó; cùng tuổi với me là sao, teck, xoài. Những người kế nhiệm đã theo gương họ, và hai mươi lăm năm sau, Jules Boissières đã có thể trầm trồ mô tả “những đường phố rộng đẹp, sạch sẽ, có cây cho bóng mát, đáng mong đợi và quá thoả mong đợi ở một thuộc địa nhiệt đới như thế này”(2). Nhưng một khi cây đã trồng thì lại có những người muốn chặt chúng đi. Đã có một cuộc “cãi lộn về cây”, chia Sài Gòn thành hai chiến tuyến trong thời kì hạnh phúc đó: một bên là phe thiên về phép vệ sinh và sự tiện nghi cho rằng cây quá dày, làm tối tăm các ngôi nhà, làm ẩm thấp và làm chỗ trú cho sâu bọ, rễ cây phá hỏng vỉa hè, làm tắc các đường ống, làm bẩn đường …; ngược lại, phe kia ca ngợi sự mát mẻ của bóng cây, phong cảnh dễ chịu của những chồi cây và sự thơ mộng của những phố trồng cây.

     Năm 1903, rồi năm 1912, các nghị viên thành phố cuồng nhiệt với sự trong lành của thành phố muốn đốn hạ những cây me của các đô đốc.

     Đây là những gì diễn ra trong những cuộc tranh luận kì lạ đó, chẳng hạn một ông nói: “Có thể nói rằng ở một số phố suốt tám tháng trong một năm không bao giờ khô; ở những phố đó người ta cảm thấy mùi rừng, chứng tỏ rõ ràng là ở đó người ta phải nuôi các ổ nhiễm khuẩn”. Một vị lại có giọng khác: “Một hôm tôi gặp trong nhà người quen một ông phản đối quyết liệt vì các cây ở phố Catinat bị chặt hết. Ông này có thói quen chỉ ra khỏi nhà nếu có mũ; đương nhiên là ông ấy nói cho ông ấy nhưng với một quan điểm rất đặc biệt”. Điều đó nói lên rằng năm 1912 việc đội mũ ra đường được xem như một sự coi thường xã hội, rằng hơi đâu phải đội mũ khi đã có cây, chỉ những ai đội mũ mới không cần cây.

     Cuối cùng những người yêu bóng cây và yêu thơ ca cũng thắng và ngày nay vấn đề dường như đã ngã ngũ với phần ưu ái nghiêng về cây. Chỉ có điều me không được trồng như trước nữa và người ta bắt đầu thử những loài cây mới.

     “Những ai trồng một cây trong đời mình là những người làm việc phúc cho nhân loại”. Câu nói đó là của Theuriet, một người rất yêu cây. Nhưng trồng một cây là một việc đơn giản hơn nhiều so với việc có một cây trong thành phố. Ngoài kinh nghiệm, còn biết bao vấn đề xen vào, và phải có những quan sát rải đều ra trong một số năm mới cho phép chọn cây nào đúng. Tương lai sẽ cho chúng ta biết loài cây nào thích nghi nhất, cây nào nhanh chịu được khí hậu nhất mà rễ lại rắn chắc nhất và dễ uốn nắn nhất, lá đủ lớn nhưng không nhiều và hoa đẹp, hoặc có hương thơm nhưng lại không cho quả chi chít; cuối cùng cây nào có thể phát triển vừa làm hài lòng các nhà quy hoạch, tạo ra sự dễ chịu cho các nhà thơ, vừa không quên tính thực dụng của những người sử dụng cây. Thực tế người ta đã lúng túng trong sự lựa chọn và nếu dạo qua các phố một cách hú họa và chú ý tới các cây ta sẽ ngạc nhiên thấy chúng rất đa dạng.

     Me là tiền bối của các cây trên đường phố Sài Gòn, nhưng chính sao mới là cây thường thấy trên đường phố. Có thể vì nó là loại cây hoàn chỉnh nhất, vì thân đen đen của nó như làm đẹp thêm cho bộ lá nhẹ nhàng và dày, cho bóng mát tuyệt diệu.

     Sự đơn điệu nhiều người kêu ca ở các đại lộ toàn me như Catinat (Đồng Khởi), Norodom (Lê Duẩn), La Grandière (Lý Tự Trọng), Pellerin (Pasteur)… được đền bù bởi những phố phủ đầy sao với những chồi cây tinh tế; đó là những vòm xanh(3) cổ điển rất được người Sài Gòn ưa thích; từ xa các cây giống như một màn sương xanh xanh mềm mại; trên đầu chúng ta run rẩy những chùm follioles(4) nhẹ nhàng, tuỳ theo mùa có lẫn những bông hoa vàng nhỏ toả ra hương thơm rất tinh tế, hay những quả me chín mầu nâu mà cảnh thu hoạch khá đẹp mắt.

     Chúng ta gặp đủ mọi chuyện khi đi dưới hàng me rồi đột ngột nhận được một trận mưa me để những cô bé vội vã dùng chổi quét, thu vào mấy cái thúng; các em thu quét do những người lãnh thầu thuê. Ngẩng đầu lên, ta thấy giữa những cành cây chạm tới trời là mấy chú bé đang rung những cành cây. Rồi một khách bộ hành cúi xuống nhặt một quả me căng phồng vừa đi vừa nhấm nháp chất quả mầu gỉ sắt vị chua chua, nhằn ném đi cái hạt nâu sẫm, bóng như viên đá quý. Các chú nhỏ ở trên cành cây cao thường phát hiện ra những chùm lan, chùm cẩm qùy, hương cao nhã dùng trang trí cho những thúng me đã đầy của những cô bé đi thu nhặt.

     Và khi me không còn hoa cũng không còn quả, lá của chúng bắt đầu rụng, khi đó những cây me còn thơ mộng hơn nữa với những cành trơ trụi ngang dọc trên nền trời xanh hay giữa nền mây trắng.

     Trong số những cây trồng trước đây có tếch (Tectona grandis). Đúng là cây này không nhiều nhưng ta có thể ngắm nhìn một hành lang uy nghi trước Dinh Norodom (Dinh Thống nhất), đoạn từ phố Taberd (Nguyễn Du) tới phố ChasseloupLaubat (Nguyễn Thị Minh Khai), có hai hàng tếch to lớn vỏ xám nhạt, lá rất rộng mầu xanh nhạt, chùm gồm những hoa nhỏ trắng hứa hẹn những chùm quả nhỏ. Hình như người ta không có ý định duy trì mãi một loài cây cho một đại lộ.

     Ngược lại, có một loài cây cũ vẫn được các nhà quy hoạch ưa thích là sao. Ngày nay ta thấy nhiều cây sao vẫn còn non trong khi những cây sao đầu tiên cao tới hàng chục mét. Những cây sao đẹp nhất là những cây ở phố Legrand-de-laLiraye (Điện Biên Phủ), phố Massiges (Mạc Đĩnh Chi), phố Blancsubé (Phạm Ngọc Thạch).

     Trên các ngọn cây mảnh mai này thường có những loài cây leo, dương xỉ, đặc biệt là loài dây lông chim rất khoẻ và đẹp bám vào; với vỏ mầu tối và rễ rủ xuống, loại cây dong dỏng này cho ta ấn tượng khô khan; ngọn cây như mất hút trên bầu trời và chính ở trên cao đó, ẩn giữa những đám lá xanh sẫm, nở ra những bông hoa nhỏ thơm. Những bông hoa nhỏ này không thấy được; khi không hiểu sao lại có mùi thơm ta liền tìm nhưng mãi vẫn không ra; chỉ khi nhìn xuống thảm tràng hoa nhỏ mầu mật trên mặt đất ta mới hiểu.

     Sự thật là còn có nhiều cây khác nữa ta không rõ tên cũng có hương thơm như cây Swietenia (Dái ngựa – X&N) lá xanh vàng nhỏ xíu toả ra một mùi hương cao nhã.

     Những cây nhập vào Sài Gòn gần đây khá nhiều và khá đặc biệt ở điểm quả của chúng giống như quả hồng xiêm. Nhìn từ xa chúng giống như hồng xiêm về mầu sắc và hình dạng nhưng quả hồng xiêm càng có nhiều thịt và càng ngọt bao nhiêu thì quả Swietenia càng làm ta thất vọng bấy nhiêu: thịt nó như gỗ hay đại loại như thế, có thể tách ra thành từng múi có những hạt có cánh nâu đỏ, rất nhẹ, gió đưa đi đâu cũng được. Cây Swietenia được trồng ở hai bên dải chính giữa của đại lộ Charner (Nguyễn Huệ), một đoạn phố Garcerie (Phạm Ngọc Thạch), một đoạn phố La Grandière (Lý Tự Trọng),…

     Vào tháng một, tháng hai, lá cây vàng úa và thường đổ sang mầu đỏ hoe buồn của mùa thu trông cũng quyến rũ. Tiếp tới là lớp lá xanh hơi vàng một chút với những nụ hoa cùng tông màu như vậy trong khi lớp lá non có mầu xanh đậm hơn.

     Trong số những cây đẹp nhất có cây dầu. Xin lan man ra ngoài một chút. Ta nên tìm cho tất cả những cây ở đây những cái tên “nhân văn” một chút và ai cũng hiểu được, chẳng hạn “tiêu huyền Nam Kì” hay “thông nhiệt đới”; vì ta hãy hình dung một bà dễ thương có chút ngây thơ đột nhiên kêu lên với bạn: “Ôi, cái cây đẹp này là cây gì thế?” và bạn trả lời bằng cách giáng như búa bổ vào óc bà ta những tên như “Erythrophloeum guineense” hay “Encosperma filamentosum“… Không, không thể như thế được. Người ta đã tốn công tìm những cây ở đây có những tên thông thường.

     Ai cũng phải công nhận rằng dầu là một cây đẹp với thân cao dong dỏng, mầu sáng, thẳng vút, lá dày và hạt khá đẹp giống như quả cầu lông. Chắc chắn cả Sài Gòn đều biết cây dầu vì những ngày gió to hạt của nó phủ đầy các vỉa hè, rất đẹp với vỏ mầu hồng và hai cánh mầu xanh. Dầu có thể cao từ hai mươi tới ba mươi mét và là một trong những loài cây đặc biệt nhất trồng hai bên đường dẫn vào Công viên Thành phố (Công viên Tao Đàn) theo đường Miss-Cawell (Huyền Trân Công Chúa). Ta còn thấy nhiều cây dầu đẹp hơn tuy thấp hơn ở Quảng trường Francis Garnier (Công trường Lê Lợi), và các phố Charles-deCappes (Hoàng Diệu) , V.-Olivier (Lê Văn Linh), Docteur Angier (Nguyễn Bỉnh Khiêm) …

     Và đây là những cây mới nhất theo mốt: Khaya senégalensis, có thể dịch phóng thành gụ Phi châu (Xà cừ, Sọ khỉ – X&N). Rất xanh, rất dày lá, có thể thấy ở bến Argonne (bến Bạch Đằng), phố Richaud (Nguyễn Đình Chiểu), đoạn từ phố Albert-Premier (Đinh Tiên Hoàng) tới phố Docteur Angier và nhiều phố khác nữa; gần như ở khắp nơi, chúng vừa mới thay thế cho các cây già, bị chết hoặc bị đốn hạ. Tuy nhiên không hiểu sao cây Khaya tỏ ra không có gì độc đáo khiến người ta nghĩ tới những cây không tên tuổi trang trí rất khéo cho mô hình của các kiến trúc sư.

     Những người dạo qua phố Catinat (Đồng Khởi) chắc không thể không chú ý tới mấy cây xoài hiện vẫn còn gần quảng trường Nhà thờ, nhất là vào lúc quả chín vào tháng tư, tháng năm, hoặc bị bọn trẻ con lấy ăn, hoặc rụng xuống sau khi bị chim ăn mất một phần. Trong cả hai trường hợp, các quả xoài thấy rất rõ và chúng tỏa ra hương thơm của quả chua khiến ta phải chú ý. Những cây xoài lâu năm, thân vặn và bạc trắng, bị héo mòn bởi những dây leo, bị xâu xé bởi dương xỉ và những loại cây kí sinh lạ lùng nhất mà một số cho ra những chùm hoa đỏ.

     Ta thấy treo dưới những cành dài và cong queo là những quả xoài xanh và vàng không to hơn quả trứng, trong khi ở một số vườn ta có thể chiêm ngưỡng những quả xoài to vỏ mầu vàng bóng láng, toả ra mùi nhựa thông nhè nhẹ, vị lạ rất đặc biệt. Một số cây xoài khác cũng đáng kính nể và rất xưa nằm trên đại lộ Luro (Tôn Đức Thắng) xen lẫn với những loài cây khác.

     Cả một vườn bồ hòn (Sapindus mukorossi) đã được trồng ở hai bên phố Paul-Blanchy (Hai Bà Trưng); lá xanh sẫm và nho nhỏ; ta thấy những chùm quả nhỏ gọi là quả bồ hòn người Việt Nam dùng để giặt quần áo: sau khi nhúng vào nước những quả bồ hòn sủi lên một thứ bọt có tính chất như xà phòng. Trong thời gian chiến tranh, bồ hòn được ưu ái ở Bắc Kì vì thiếu xà phòng.

     Ở phố Monlaü (Huỳnh Thúc Kháng), một phố nhỏ nối vào phố Mac-Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) tại quảng trường Cuniac (Công viên Quách Thị Trang), có một loài cây dễ bị nhầm với những giống cây thuộc họ Trinh nữ nhưng chùm hoa màu xanh vàng, hương thơm nhẹ nhàng. Tiếp đến là phố Général-Lizé (Điện Biên Phủ) đoạn từ phố Verdun(5) (Cách mạng tháng Tám) tới địa giới Sài Gòn-Chợ Lớn ta gặp những cây mán đỉa có tua lớn, cũng họ Trinh nữ, nhưng tua màu hồng và lá thẫm hơn, để ý cũng thấy lí thú vì nó là một trong những cây phổ biến nhất ở Sài Gòn, trong công viên cũng như tư viên.

     Có rất nhiều cây mán đỉa ở quanh cột cờ tín hiệu (Cột cờ Thủ Ngữ), ai hay lui tới đó biết rất rõ chúng. Dáng dấp của cây rất qúy phái và khá ăn ý với cảnh sắc xung quanh. Những người tò mò sẽ rất hứng thú khi biết rằng cây mán đỉa cụp hoa lại khi ngủ vào ban đêm.

     Nhưng các phố không trồng một loài cây; cây Swietenia thường xen kẽ với me, xà cừ hoặc hopea; trong khi ở một số phố ta thấy nó lẫn với những giống hiếm hơn, chẳng hạn phố Luro (Tôn Đức Thắng) vừa có xà cừ mới trồng, vừa có xoài lâu năm và một cây đẹp rất duyên dáng là cây Adina sessilifolia, lá xanh nhạt hình ô van, quả tròn như quả tiêu huyền. Về phía đầu phố(6), quãng trước các nhà số 15, 3 và 1, ta gặp một số cây bàng, cành chĩa ngang chồng lên nhau thành từng tán ngày xưa rất được chuộng nhưng ngày nay lá to và bóng như quang dầu trở nên bất tiện vì rụng sớm và quả rụng ngổn ngang mặt đất.

     Trong số các loài cây ít trồng phải kể tới têk coromandel mà ở phố Colombert (Alexandre de Rhodes) có một số cây nhỏ và một số cây ở ngang rạp chiếu bóng Eden…

     Sao ta không dành vài dòng riêng cho cây Anterobolium cyclocarpum còn gọi là phượng vĩ giả mà Sài Gòn có một số cây rất đẹp nhỉ? Thân chúng đúng là ít cao nhưng đường kính có thể to tới hai mét và các cành xoè ra thành một cái tán xanh rất lớn. Những cây đẹp nhất của loài này là một cây trong Viện Pasteur, một cây ở quảng trường Doumer (Công trường Vạn Xuân) trên phố Pellerin, mấy cây ở sân bắn bia Richaud (Nguyễn Đình Chiểu), và nhất là mấy cây ở trong câu lạc bộ bi sắt Boule Gauloise (Nhà Văn hóa Thanh niên). Đáng tiếc là những cây đẹp nhất đã bị đốn hạ để thực hiện các công trình xây dựng (Sở Nông nghiệp, Bộ Tổng Tham mưu…)*.

     Những cây tử vi (Lagerstroemia) trên đường Somme (Hàm Nghi), đoạn từ phố Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) tới quảng trường Cuniac (Công trường Quách Thị Trang) là những cây đặc biệt trên đường phố vì chúng bị che phủ định kì bởi những hoa cẩm qùy khiến cho mỗi cây giống như một bó hoa; nhưng chúng không có cái vẻ qúy phái như vẫn thường thấy ở những cây trên các đại lộ, và nếu chúng có đẹp đến mấy vào kỳ nở hoa thì quả của chúng lại không có một nét mỹ học nào giữa những cành trơ trụi.

     Trên phố Chasseloup-Laubat, đoạn từ phố Massiges tới phố Blanchy, ta gặp một cây khá lạ lùng, quả tròn, nâu hoặc đen, thường to hơn quả cam, trông là thấy ngay; lá nhọn mầu xanh biếc làm ta nhớ tới lá cây khuynh diệp ở Pháp. Đó là cây Hydnocarpus anthelmintica mà chỉ riêng tên gọi đã cho biết có cái gì đó về dược liệu(7); thực tế, từ hạt trong quả của nó người ta có thể chiết ra một loại dầu để điều trị bệnh hủi: đó chính là cây Krabau của Cao Mên.

     Hai bên phố Larégnère là cây thiết mộc (Mesua ferrea) lá dày dặn mầu xanh hình mũi giáo, hoa có mùi thơm, khi kết trái cho ta những quả nhọn bên trong có nhân không ai dám ăn.

     Cuối cùng là một vài loài cây còn hiếm hơn nữa không hiểu sao lại được trồng, chắc là để thử nghiệm; đó là:

     Sến cát Nam kỳ (Shorea cochinchinenis – Sến mũ hoặc Cà chít – X&N), cây rất đẹp, ngọn thẳng tắp, lá hình ô-van, hạt điểm lấm tấm, có thể thấy trên phố Chasseloup-Laubat đoạn từ phố Massiges tới phố Miche (Phùng Khắc Khoan), trước các nhà số 32, 36 và 40.

     Gụ, cũng Nam kỳ (Sindora cochinchinenis) luôn, lá tròn duyên dáng, mỗi khi vàng úa làm gợi nhớ tới những cây ở Pháp, cao từ 30m tới 50m và cho gỗ tốt gọi là gỗ gõ rất nổi tiếng, cũng có thể thấy trên phố Chasseloup-Laubat đoạn từ phố Blancsubé (Phạm Ngọc Thạch) tới phố Pellerin, trước các nhà số 39, 43…

     Hiếm hơn nữa là sung mà một mẫu loại này có thể tìm thấy trên bến Argonne (bến Bạch Đằng) trước nhà số 5. Cây bị nhiều bụi bậm bám và có nhiều cành cụt, nhưng ngay như thế cũng đáng ngắm vì bộ rễ lớn rủ xuống giống như rễ đa và các quả nhỏ bám thành chùm vào một cành như thẳng đứng.

Cây mán đỉa ở bến tàu. Ảnh: Consigny. Nguồn: Tuần san Sud-Est

     Có một cây giáng hương Cao Mên (Pterocarpus cambodianus) ở phố Docteur Angier đoạn từ phố Mossard (đoạn đầu của Nguyễn Du) tới đại lộ Norodom; cây không đẹp lắm mặc dù có tên rất đẹp là giáng hương; quả của nó duyên dáng: hạt tròn được bao bởi một cái cánh xanh mảnh mai.

     Cây đẹp không chỉ nhờ dáng mà còn nhờ sự ích lợi, sự quyến rũ; đấy là chưa kể tới sự thơ mộng nằm trong hoa, hạt và lá rụng xuống; này đây những hạt đẹp rất đa dạng bay theo gió hoặc nổi bật lên trong bụi: những cánh hồng hoặc xanh, hạt nhẵn bóng, đen nâu hoặc đỏ tươi; rồi những chiếc lá phủ đấy các đường phố: vàng tươi lẫn lằn xanh, nhuốm vàng kim, nháp hoặc bóng và thường có hương; hoa violét, cánh trắng, tràng không thấy được…

     Các dây leo cũng quyến rũ biết bao; chúng bám rất đẹp vào những thân cây trắng, xanh hoặc hung hung đỏ; những cây dương xỉ cuộn thành tổ ở những chạc cây hoặc bao lấy những chạc cây như những chiếc áo nịt thêu đăng ten; những cây leo, đôi khi có cả phong lan; và đây đó những cây dương xỉ lạ lùng sống kí sinh làm cho cành cây giống như chiếc áo nịt viền đăng ten của phụ nữ chỉ để ló ra mấy chiếc lá như một bộ mào. Đối với người Việt Nam của nước An Nam(8) xưa, chúng là chiếc “hộp có hồn”; họ tin rằng cây là chỗ có thần ở nên không bao giờ dám đốn chặt cây có chiếc hộp như thế.

     Cuối cùng sao lại không nói về cảnh sắc các phố ngợp trong lớp lớp cây xanh, hay dưới những bóng lá, những lối đi khô khan hai bên có những hàng cây thẳng âm trầm ta đi dưới cảm thấy như rất nhỏ bé dưới cái vòm trang trọng của tự nhiên; các phố quyến rũ dưới cái nôi của những chồi lá mùa nảy lộc, những cung rừng, những vòm lá phập phồng, run rẩy tiếng chim hót; những mảng xanh hỗn độn, cành và dây leo của vườn bện lẫn với nhau, chỗ này một cây cọ sáng ngời dưới mặt trời, chỗ kia là một cây hoa giấy tím, cành phượng vĩ đỏ như son tô môi….

     Rồi có tiếng gió qua các cành cây, thì thào trên đó bản nhạc không thấy được, hoặc quất cho các cành cây cong xuống trong ánh sáng lờ mờ những buổi giông tố, gầm rít qua lá tựa như những đợt sóng trên bãi cát lở … Tiếng mưa, như kim châm êm ái, mưa rào xối xả, tạt mạnh, rào rào, buồn buồn … Những bóng râm như trò chơi của mặt trời, rồi những đường phố âm trầm ló ra dưới ánh trăng. Tất cả những thứ đó góp phần tạo ra vẻ say đắm cho đường phố Sài Gòn, cho chuyến đi dạo qua một công viên tuyệt diệu, cứ mỗi bước lại làm bạn ngạc nhiên, cho bạn thấy một cảnh đẹp lộ ra hay một góc quyến rũ…

Lưu Đình Tuân dịch

CHÚ THÍCH:

1. * G. Durwell, Ma chère Cochinchine.

2. Xem Jules Boissière, Indochine avec les Franais, Nxb L. Michaud, Paris, 1893.

3. Tán cây hai bên phố chạm vào nhau, tạo thành một cái vòm phía trên đường phố.

4. * Được chiếu sáng từ phía sau, chùm cây này giống như một dải đăng ten xanh rất tinh tế. Những người hay lui tới khách sạn Bồng Lai Cảnh có thể ngắm nó thoả thích khi leo cầu thang lên khách sạn.

5. Do sự thay đổi tên phố nên phố Verdun.

6. Tức đầu giáp với sông Sài Gòn. Chú ý rằng các nhà được đánh số bắt đầu từ phía bờ sông.

7. Chú ý rằng Althemintique có nghĩa là có tính diệt giun sán.

8. Tạm dịch từ nguyên văn Viêtnamiens d’Annam. Ở đây có một một điểm thú: sau khi Pháp trao trả nền độc lập giả hiệu cho chính quyền Bảo Đại thì trên văn bản cũng như các phương tiện truyền thông của họ xuất hiện từ Việt Nam nhưng các học giả Pháp rất lúng túng khi loại bỏ từ “An Nam” khỏi các công trình nghiên cứu vì từ này đã ăn sâu vào các thư tịch mà họ đã tốn rất nhiều giấy mực trong gần 100 năm.

Nguồn: Tạp chí Xưa&Nay, Xuân 2017, Số 479 Tháng 1 Năm 2017

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)