Chảy mãi một dòng sông Phật giáo

Tác giả bài viết: TT. THÍCH HUỆ THÔNG
(Ủy viên Ban Thường trực HĐTS, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương)

     Không một lời nào có thể diễn tả được một cách đầy đủ và ý nghĩa hơn cụm từ “Sông Mê-kông – Một dòng sông Phật giáo”, một di sản Văn hóa Phật giáo vùng MêKong. Bởi nó đã khái quát đầy đủ tính chất, thực tiễn và vẻ đẹp vô cùng của một dòng sông chảy dài qua 6 lãnh thổ quốc gia, trong đó có Việt Nam. Dòng sông MêKông không chỉ huyền bí bởi sự trù phú, đa dạng, màu mở của thiên nhiên mà còn đẹp hơn nữa bởi những giá trị đã ăn sâu trong đời sống tâm linh những cư dân của dòng sông một niềm tin mãnh liệt, chân thật và trong sáng đối với nền tảng giáo lý của Đức Phật. Ở những quốc gia có dòng sông đi qua, Phật giáo nếu không là quốc giáo thì cũng có sự ảnh hưởng vô cùng lớn lao đến các giá trị đạo đức xã hội và các thể chế văn hóa, nghệ thuật… tạo nên những di sản hết sức đặc biệt mà không nơi nào có được. Có thể nói, thiên nhiên tươi đẹp hòa quyện cùng tâm hồn thánh thiện của những đồng bào Phật giáo, chính là di sản văn hóa tuyệt vời nhất mà dòng thời gian đã bồi đắp trên dòng sông Mê-kông từ mãi ngàn xưa đến tận bây giờ.

Dòng sông kỳ bí

     Sông Mê-kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam. Tính theo độ dài đứng thứ 7 tại châu Á, còn tính theo lưu lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới (lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 triệu m³). Lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000 m³/s. Lưu vực của nó rộng khoảng 795.000 km² (theo số liệu của Ủy ban sông Mê-kông) hoặc hơn 810.000 km² (theo số liệu của Encyclopaedia Britannica 2004)(1).

     Sông Mê-kông được mệnh danh là dòng sông kỳ bí bởi những cuộc thám hiểm gần như đã trở thành nỗi đam mê không thể cưỡng lại được của những phái đoàn đến từ các quốc gia khác nhau. Nhiều người trong số đó đã phải nằm lại vĩnh viễn với dòng sông trước khi cuộc hành trình của họ kết thúc. Ấy vậy mà con sông vẫn nhẹ nhàng buông thả thân hình mềm mại chảy dài như vô tận, khoe vẻ đẹp ngút ngàn làm say đắm bao người. Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và Nhật Bản đã đến nguồn phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel dẫn đầu, đến nguồn mạch phía tây với cùng một mụch đích: chứng minh nguồn mạch chính của sông Mê-kông. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dưới sự hợp tác các nước Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông Cửu Long thuộc nhánh Bắc.

     Các con số về độ dài của sông dao động trong khoảng 4.200 km đến 4.850 km. Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, ở đầu nguồn nó được gọi là Trát Khúc (tiếng Tây Tạng), Lan Thương Giang (tiếng Hán) có nghĩa là “con sông cuộn sóng”. Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc ở gần Xương Đô tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500m so với mực nước biển. Sau đó, đoạn sông Mê-kông dài khoảng 200km tạo thành biên giới giữa hai nước Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp lưu với sông nhánh Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thượng và phần Hạ của Mê-kông. Sông Mê-kông sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào. Bắt đầu từ Phnôm Pênh (Campuchia) nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang) và bên trái là Mê-kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang), hay còn có tên gọi là sông Cửu Long. Lưu lượng của sông Cửu Long rất lớn 4000 m³/s, nhưng vì lòng sông rộng độ dốc thấp, lại chảy qua biển hồ Campuchia nên không gây nạn lũ lụt(2).

     Chính sự hợp lưu của dòng sông qua các quốc gia lãnh thổ như trên đã tạo sự thuận duyên rất tuyệt vời để ánh sáng Phật pháp lan tỏa từ đất nước Ấn Độ sang các quốc gia có dòng sông Mê-kông đi qua. Cư dân dòng sông Mê-kông từ đời này qua đời khác tiếp nối truyền thống Phật giáo bằng ý thức giữ gìn và lòng thủy chung tuyệt đối. Có thể nhận thấy cách thể hiện sự tôn sùng và kính ngưỡng Phật pháp ở mỗi quốc gia có phần khác nhau nhưng tất cả cùng chung một niềm tin chân thật đối với Phật giáo. Phật giáo như người mẹ hiền nuôi lớn những tâm hồn của những người con trên dòng sông Mê-kông. Ở đó, “đa sắc tộc” thì rất rõ nhưng tôn giáo thì gần như chỉ có một. Bởi ngoài đạo Phật còn có nhiều tôn giáo khác… nhưng không một tôn giáo nào có thể so sánh được với Phật giáo về tính phổ biến, sự liên tục về địa lý và mức độ sùng tín của tín đồ. Phật giáo giữ vai trò liên kết như một hệ tư tưởng xuyên suốt, tạo nên giá trị tinh thần và vẻ đẹp nhân văn của dòng sông vĩ đại. Chảy dài theo dòng sông, đâu đâu cũng có chùa chiền, tu sĩ và Phật tử. Điều này đã tạo cho dòng sông Mê-kông một bản sắc rất riêng, không giống với bất cứ dòng sông nào khác trên thế giới. Chính vì thế mà du khách thập phương khi đến tham quan, thưởng ngoạn cảnh đẹp con sông còn gọi cho nó cái tên hết sức thân thương và triều mến – “một dòng sông Phật giáo”. Giá trị tinh thần hiện hữu trên dòng sông từ xa xưa cho đến ngày nay đã thật sự hấp dẫn và gây kinh ngạc cho bất kỳ ai. Cách đây vài năm, Đoàn làm phim của Đài truyền hình TP.HCM do NSND Phạm Khắc làm trưởng đoàn đã thực hiện một cuộc hành trình khám phá dọc theo con sông Mê-kông cho ra tác phẩm “Mê-kông ký sự”. Họ đã phải thốt lên rằng: “Bất cứ đâu cũng thấy sự ngưỡng mộ chân thật. Người dân tin rằng bất cứ nơi nào cũng có Phật”. Niềm tin ấy thể hiện qua ánh mắt, nụ cười của tất cả mọi người; sự thành kính trong sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo; trong các nghi lễ Phật giáo… đã trở thành bản hùng ca bất tử bên dòng sông hùng vĩ. Nếu như Phật giáo có vai trò thống nhất tín ngưỡng của cư dân thì chính sắc tộc đã làm cho Phật giáo trở nên đa dạng. Phật giáo Tạng truyền, Phật giáo Đại thừa, Phật giáo nguyên thủy gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của người dân theo dòng sông Mê-kông qua hàng ngàn thế kỷ…

     Sông Mê-kông quả thật là một dòng sông huyền bí vô cùng, bởi dòng sông ấy không chỉ bồi đắp cho mình phù sa mở màu, đa dạng các loài thủy hải sản, cỏ cây mà còn bao trùm lên toàn bộ những không gian ấy một tinh thần Phật giáo vô cùng mạnh mẽ, tạo nên những giá trị di sản văn hóa mà thế giới loài người phải hằng ngưỡng mộ và chiêm ngưỡng.

Những di sản văn hóa Phật giáo

     Như con sông dài chở nặng phù sa vun đắp cho đời, “Dòng sông Phật giáo” cũng bồi đắp cho mình những viên ngọc sáng lấp lánh được kết tinh từ niềm tin và lòng tín ngưỡng của đồng bào Phật giáo. Sức mạnh vô hình ấy đã tạo nên những di sản vô giá về mặt kiến trúc, nghệ thuật, ngôn ngữ, nền giáo, văn hóa… Nhiều công trình Phật giáo ở các quốc gia của dòng sông Mê-kông được thế giới công nhận và trân trọng giữ gìn như là những di sản văn hóa của thế giới. Đó là những địa danh nổi tiếng như cố đô Luông Phra-băng, Tháp That Luang ở Lào, chùa Shwedagon; Thánh địa Phật Bagan ở Miến Điện; các ngôi đền kỳ vĩ và huyền bí ở Campuchia; ngôi chùa Vàng rực rỡ ở Thái Lan; cùng vô số những công trình kiến trúc lớn nhỏ hết sức độc đáo mà du khách thập phương nếu một lần đặt chân đến những quốc gia này đều phải tìm đến để được chiêm ngưỡng về những thành tựu lớn lao mà con người có thể làm được nhờ sức mạnh của tâm linh.

     Di sản văn hóa Phật giáo Trung Quốc

     Một số học giả cho rằng, khi chúng ta muốn tìm hiểu Phật giáo đã để lại di sản văn hóa cho đất nước và nhân dân Trung Quốc như thế nào chúng ta chú ý đến lĩnh vực tư tưởng và ngôn ngữ Phật giáo(3).

     Ngôn ngữ Phật giáo là một di khảo quan trọng của Trung Quốc trước đây và bây giờ. Từ những câu chuyện ngụ ngôn ở nông thôn xa xôi hẻo lánh đến ngôn từ của hàng thượng lưu tri thức ở chốn thị thành. Với gia tài văn hóa Phật giáo, lịch sử phiên dịch Tam Tạng từ tiếng Ấn Độ, Trung Quốc đã có thể dễ dàng đương đầu khi văn hóa Tây phương tràn vào đất nước từ thế kỉ XIX. Các đại sư Phật giáo đã giữ vai trò rất quan trọng trong việc chuyển âm và chuyển nghĩa tiếng đa âm của phương Tây qua tiếng Hoa, giữ gìn bản sắc văn hóa ngôn ngữ của quốc gia này. Ngoài di sản văn hóa ngôn ngữ, chúng ta còn có thể bắt gặp đến các công trình mỹ nghệ trong kiến trúc và nghệ thuật, chất liệu văn học, âm nhạc được phong phú bởi Phật giáo… Nhà cải cách Lương Khải Siêu (đời nhà Tùy) đã khẳng định mạnh mẽ và hùng hồn rằng: “Đối với Trung Hoa kho tàng Đại thừa Phật giáo là kho tàng bất tận, là siêu việt”. Có người nói, ngày nào đó người Trung Hoa còn nói tiếng Trung Hoa; ngày nào đó người Trung Hoa đương đầu với những biến chuyển xã hội, còn sử dụng những phương thức đặc thù Trung Hoa, sản phẩm của một gia tài truyền thống hỗn hợp, thì ngày đó gia tài văn hóa Phật giáo vẫn không mất, và gia tài này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng, phong thái của người Trung Hoa(4).

     Di sản văn hóa Phật giáo Lào

     Với dân số khoảng 7 triệu người và có tới 1.400 ngôi chùa lớn nhỏ, Lào là nước có tỉ lệ chùa so với dân số cao nhất thế giới. Chùa chiền, đền tháp là nơi gắn bó cả đời với người Lào, cũng là chất keo văn hóa cộng đồng gắn kết các bộ tộc Lào lại với nhau. Hầu hết các công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng của đất nước này đều gắn với đạo Phật. Có thể kể đến như Thạt Luổng (Viêng Chăn), cố đô Luông Phrabăng, chùa Vạtxixun, Cánh Đồng Chum huyền bí (Xiêng Khoảng), thác Khôn, thác Quang Xi, Hang Thẳm tình…Nhưng trong đó nổi bật nhất là Tháp That Luang (Thạt Luổng) và cố đô Luông Phra-băng, cả hai đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Tháp That Luang (Thạt Luổng) là biểu tượng văn hóa Phật giáo và hiện được coi là biểu tượng của nước Lào. Tương truyền, Thạt Luổng là một trong số ít những chùa chiền đạo Phật trên thế giới được lưu giữ xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi người nhập Niết Bàn. Các thư tịch cổ của ngôi chùa ghi lại rằng, tại khu vực này vào năm 236 Phật lịch, tức năm 307 TCN, người ta đã xây dựng một ngôi chùa. Khi đạo Phật trở thành quốc đạo, nhà Vua Xệt-thả-thi-lạt đã cho tu bổ lại Thạt Luổng bằng cách xây bọc lên ngôi tháp cũ bằng một tháp mới to, đẹp hơn và kiến trúc ấy giữ nguyên cho đến ngày nay. Tháp có bệ hình vuông, phía Bắc và Nam mỗi bề rộng 68m, phía Đông và Tây mỗi bề rộng 69m, xung quanh được trang trí bởi 332 hình lá bồ đề cách điệu. Ngoài tháp chính cao 45m, còn có 30 tháp nhỏ biểu tượng cho Đức Phật Thích Ca với 30 năm tu hành gian khổ để trở thành Phật. Trên các tháp nhỏ này có đắp những hàng chữ Bali nổi ghi các lời răn của Đức Phật.

     Người Lào rất quý trọng các nhà sư. Với truyền thống tốt đẹp, hình ảnh khất thực của các nhà sư của Phật giáo Nam truyền đã đi vào lòng người dân Lào một cách tôn kính. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc có một đoạn viết về đời sống văn hóa của cư dân Phật giáo Lào: “Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng cúng với tâm rất thành kính, các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt, một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày. Cũng có khi nhận thức ăn xong, các sư dừng lại, đọc một bài kinh ngân nga, cảm ơn và chúc phúc…”(5). Hình ảnh này đã tạo nên một dân tộc Lào với niềm tôn kính Đức Phật rất thiêng liêng và đậm đà bản sắc văn hóa Phật giáo.

     Di sản văn hóa Phật giáo Myanmar (Miến Điện)

     Là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á với tôn giáo chính là Phật giáo. Myanmar có rất nhiều công trình đên đài, chùa chiền liên quan đến Phật giáo. Cụm đền chùa tại Bagan có niên đại từ hàng trăm năm trước, cho đến nay nơi đây vẫn còn lưu giữ được hơn 2.000 ngôi đền chùa với những nền kiến trúc độc đáo khác nhau. Những di tích đền chùa còn sót lại ở Bagan có thể sánh ngang với hai quần thể đền tháp nổi tiếng của Campuchia và Indonesia đó là đền Angkor Wat và đền Borobodur.

     Khi tìm hiểu về di sản văn hóa Miến Điện, chúng ta sẽ thấy rất nhiều bia ký, chùa do các bậc vua chúa, quần thần, bá quan tôn sùng kính ngưỡng dâng cúng. Ngoài những bia ký, Miến Điện còn có những di sản thuộc diện quốc bảo và khi nói đến ai cũng biết đó là chùa Shwedagon(6), một ngôi chùa linh thiêng trong lòng người dân Miến Điện, tọa lạc tại Thủ đô Yangon hơn 2.500 năm. Chung quanh Bảo tháp này là 64 ngôi tháp nhỏ với bốn ngôi tháp lớn ở bốn phương. Trải qua nhiều thế kỷ, suốt 32 triều vua, ngôi bảo tháp này được vua quan dân chúng đến lễ bái và bảo trì, có 60 tấn vàng lá bao xung quanh và trên 15.000 viên kim cương, bảo thạch dùng để trang trí. Đó là ngôi tháp lớn nhất và nhiều bảo vật nhất thế giới.

     Một nét đẹp văn hóa rất đặc biệt ở quốc gia này chính là người Miến Điện đích thực phải là Phật tử và Phật giáo chính là biểu tượng của quốc gia. Sự đoàn kết và thống nhất của người Miến Điện được xây dựng trên yếu tố Phật giáo. Phật giáo không những là một gia tài vĩ đại mà Phật giáo còn đem lại cho người dân Miến Điện những trang sử vẻ vang. Ngai vàng của các triều đình Miến Điện không chỉ là biểu tượng của vương vị thế tục mà còn là Phật vị, nhà vua không chỉ là quốc vương của nước mà còn là vị hộ pháp là chuyển luân vương. Cho đến nay trong những nghi lễ Phật giáo quan trọng như lễ xuất gia lễ dâng y, những căn lều xây cất cho các buổi lễ ấy được trang hoàng bằng giấy vàng, chỉ bạc tượng trưng cho cung đình nhà vua, cho cung đình thiên giới. Dân chúng tham dự lễ, mặc áo quần may bằng lụa, gấm, ăn những bữa ăn thịnh soạn, nghe những bài nhạc trong cung đình xưa. Họ tham gia những buổi lễ này với những nghi thức dành cho hàng quý tộc. Với người nông dân ở địa vị thấp trong xã hội, nếu theo Phật giáo là có thể liên hệ, gắn liền họ với những nghi lễ, nghi thức hàng quý tộc, là Phật tử họ tuân thủ giới luật Phật, liên hệ với tổ chức Tăng già với hội đoàn Phật giáo(7).

     Như vậy, có thể nói rằng Phật giáo chính là linh hồn của người dân Miến Điện, Phật giáo chính là hơi thở, là sự sống của người dân nơi đây, là chỗ nương tựa vững chắc của đời sống tâm linh. Phật giáo chính là niềm tự hào mà người Miến có được khi nói về đất nước của họ. Một đời sống mà giới luật cũng như giáo lý Phật giáo ăn sâu vào tìm thức của mỗi người dân và luôn cả cộng đồng quốc gia Miến.

     Di sản văn hóa Phật giáo Thái Lan

     Phật giáo có mặt ở Thái Lan từ rất sớm, nhưng mãi tới thế kỷ XIII, dưới tác động của Phật giáo Srilanka, Phật giáo Theraveda Thái Lan nhanh chóng phát triển và trở thành tôn giáo chính thống có số lượng tín đồ đông đảo nhất cả nước.

     Có thể nói rằng, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo luôn là một phần quan trọng trong đời sống của người dân Thái, từ lúc mới chào đời đến trưởng thành, lễ cưới, ma chay… đều liên quan đến chùa và Tăng sĩ. Người dân Thái Lan thường cảm thấy bất an khi giữ những đồ quý giá trong nhà của họ vì thế họ đã gửi vào chùa và xin phép vị trụ trì lưu trữ những vật quý giá ấy trong chùa. Ngoài việc lưu giữ bảo trì Đại Tạng Kinh, chùa còn là nơi lưu giữ những bộ sách lịch sử của các vương triều Thái Lan, với những di sản vô giá, những pho tượng Phật bằng vàng, đồng và ngọc theo tín ngưỡng của người dân Thái, những pho tượng lâu đời này có một sức mạnh tâm linh vô cùng đặc biệt, có thể báo trước sự kiện xảy ra.

     Chùa là trung tâm văn hóa, là nơi bảo tồn những bài hát điệu nhảy, những vở kịch truyền thống giá trị của Thái Lan. Chùa cũng là nơi duy trì và tồn tại đủ các kiểu kiến trúc, điêu khắc, chạm trổ của Thái Lan từ xưa đến nay. Một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất của Thái Lan là chùa Ngọc Phật (The Emerald Buddhawat), tọa lạc phía đông bờ sông Chao Phraya trong khu dinh thự tráng lệ của hoàng gia. Ngôi chùa này được vua Rama đệ nhất xây dựng vào năm 1782 theo kiến trúc của Thái Lan để tôn thờ Đức Phật và cũng là nơi tu hành lễ bái của vua chúa và quần thần của Hoàng gia.

     Tựu trung, Phật giáo đã đóng góp tích cực vào đời sống của người dân Thái không những về mặt vật chất, kinh tế mà còn ăn sâu vào đời sống tinh thần của họ. Sự hiểu biết và thấm nhuần giáo lý nhân quả nghiệp báo đã giúp người dân Thái sống theo khuôn khổ của chánh pháp.

     • Về Giáo dục: Tăng sĩ Thái Lan đóng vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Ngôi trường đầu tiên được thành lập ở Thái Lan được xây dựng ngay trên khu đất của chùa và những giáo viên đầu tiên đều là Tăng sĩ(8). Tuy nhiên, ngày nay Phật giáo không còn can thiệp nhiều vào ngành giáo dục phổ cập, nhưng di sản của Phật giáo để lại vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn đứng vững trong lòng dân tộc Thái. Những tòa biệt thự đồ sộ của Bộ Giáo dục, những ngôi trường lớn, những tổ chức từ thiện… phần lớn vẫn còn nằm trong khuôn viên chùa.

     • Về nếp sống sinh hoạt, tín ngưỡng: Người dân Thái luôn gắn liền với Tăng sĩ. Ví dụ, khi sinh con, người dân thường thỉnh ý quý sư đặt tên, vì họ tin rằng tên được chọn từ quý sư vừa đẹp về mặt ngôn ngữ lẫn ý nghĩa. Và một điều rất đặc biệt nữa là đối với mọi thanh niên Thái, kể cả các bậc vua chúa khi đến giai đoạn trưởng thành 18-20 tuổi vào chùa tu tập 3 tháng, 1 năm hoặc 3 năm tùy theo sở thích và ước nguyện của mỗi người. Đây là điều tiên quyết trước khi một thanh niên muốn lập gia đình hoặc khi bắt đầu một nghề nghiệp chính thức, vì rằng điều này giúp cho những thanh niên có được một tâm hồn rộng lớn hơn kèm theo giới luật. Nó là một nền tảng vững chắc cho đời sống tâm linh của người dân Thái.

     Di sản văn hóa Phật giáo Campuchia

     Campuchia là một trong những đất nước mà người dân có một niềm tin vào tôn giáo mạnh mẽ và tuyệt đối nhất trên thế giới này. Tôn giáo du nhập vào Campuchia từ rất sớm. Đạo Hindu có mặt tại Campuchia từ thời kỳ sơ khai và nhanh chóng đã chiếm được sự tín ngưỡng của người dân Campuchia. Cho đến thế kỷ thứ VII thì đạo Phật du nhập vào đất nước của những con người có bản chất hiền lành này và nhanh chóng trở thành quốc giáo với trên 90% người dân Campuchia là Phật tử. Và cũng từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của người dân Campuchia từ các chuẩn mực đạo đức xã hội cho đến cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình.

     Vì lợi ích phát triển đạo và của quốc gia, Phật giáo đã ở địa vị độc tôn. Và với vai trò đó, Phật giáo đã có những đóng góp quan trọng vào việc củng cố quốc gia thống nhất, vun đắp sự đoàn kết nội bộ giai cấp cầm quyền, thậm chí đóng góp phần lựa chọn cả người ngồi trên ngai vàng của vương quốc. Đồng thời, Phật giáo cũng để lại nhiều dấu ấn đến các mặt văn hóa – xã hội như văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, luật pháp…

     Một trong những di sản quốc gia CamPuchia đó là:

     * Đền Angkor Wat (còn được gọi là đền Đế Thiên) được đức vua Khmer Suryavarman II xây dựng trong thế kỷ thứ 12. Ban đầu nó được xây dựng làm một ngôi đền Hindu, sau này Angkor Wat được sử dụng làm nơi thờ Phật sau khi chế độ quân chủ của Campuchia chuyển sang theo đạo Phật trong một vài thế kỷ sau đó.

     * Chùa Bạc ở Phnom Penh

     Chùa Bạc ở phía nam hoàng cung, trước kia tên là Wat Ubosoth Ratanaram, tên chính thức là Preah Vihear Preah Keo Morakot hay Wat Preah Keo. Tu viện chứa nhiều bảo vật quốc gia gồm nhiều vàng, nữ trang quý, quan trọng nhất là tượng vàng từ thế kỷ 17 bằng ngọc và tượng Di Lặc lớn trang trí bằng 9.584 viên kim cương 25 carat, tượng Phật bằng vàng đúc năm 1906-1907, nặng 90kg và mặc y phục hoàng gia, tượng Phật bằng bạc gồm 5.000 miếng bạc.

     Phật giáo đã gắn liền với sự hưng vong của vương quốc Campuchia. Khi quốc gia cường thịnh, Phật giáo được phát triển đến đỉnh cao, còn khi độc lập chủ quyền đã bị mất thì Phật giáo cũng chịu chung số phận với đất nước. Sự có mặt của Phật giáo Campuchia đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa riêng của nước nhà. Ngôi chùa ngoài việc là trung tâm văn hóa của bản làng còn là nơi bảo vệ nền văn hóa lâu đời của dân tộc, bảo vệ và xây dựng vẻ đẹp cho cuộc sống mọi người, từ thời Phù Nam đến Chân Lạp, Angkor…

     Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam

     Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch(9). Câu chuyện Sở Vương Anh(10) theo Phật giáo, sách Lý Hoặc Luận(11) của Mâu Tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỉ thứ II, và một số tư liệu khác cho ta thấy rằng ngoài hai trung tâm Phật giáo ở Trung Hoa(12), còn có một trung tâm Phật giáo rất quan trọng ở Giao Chỉ tức Việt Nam hiện nay thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đó là trung tâm Phật giáo Luy Lâu(13).

     Trước hết, Đạo Phật ăn sâu vào đời sống tín ngưỡng của nước Việt Nam một cách tự nhiên như nước thấm sâu vào lòng đất. Có thể nói, đạo Phật là một tôn giáo rất hòa đồng ngay từ lúc mới du nhập. Một nét đẹp rất riêng đó là tinh thần cởi mở không giáo điều và tinh thần sẵn sàng học hiểu văn hóa bản địa. Phật giáo đã thích ứng khá nhuần nhuyễn với tín ngưỡng, phong tục, tập quán bản địa và nhờ đó những tinh hoa của giáo lý Phật giáo đã tìm được môi trường thích hợp để nở hoa, kết trái. Bằng chứng là hầu như tất cả các làng xã Việt Nam đều có sự hiện diện của mái chùa thờ Phật.

     Thứ 2, với tinh thần tùy duyên hóa độ, “gắn đạo với đời” và “đồng hành cùng dân tộc” đã tạo nhiều cơ hội để Phật giáo đóng góp thiết thực cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy nổi lên nhiều vị danh tăng như Đại sư Khuông Việt, Đỗ Thuận, Quốc sư Vạn Hạnh, Điều ngự Trần Nhân Tông qua “vai trò” chính trị ảnh hưởng rõ nét đến tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Chúng ta còn thấy ở một số thời kỳ lịch sử, Phật giáo đã phát huy ảnh hưởng như một “nguồn động lực” thúc đẩy sự phát triển, thậm chí còn chi phối tới tư tưởng và học thuật, văn học và nghệ thuật của đất nước, có thể kể đến như dưới hai triều đại Lý và Trần chẳng hạn. Mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, nhiều tu sĩ đã bỏ áo cà sa sẵn sàng nhập thế cùng dân tộc đánh giặc giữ nước. Trong hòa bình xây dựng đất nước, các vị Tăng Ni lại hướng dẫn phương pháp tu tập, phổ biến, giảng dạy giáo lý nhà Phật, giúp cho Phật tử tạo lập được nếp sống hướng tới chân, thiện, mỹ.

     Thứ 3, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo còn được kết tinh trong không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa – một thiết chế văn hóa đặc thù. Trong danh mục xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia, chùa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao (465 trên tổng số 3058 di tích quốc gia của Việt Nam). Nhiều ngôi chùa được xây dựng trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ đầy biểu cảm, tạo nên những danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả nước. Ở những nơi đó, ta có được một phức hợp kiến trúc nghệ thuật gắn bó hữu cơ và tác động tương hỗ với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, gợi cảm, như các khu thắng cảnh Yên Tử (Quảng Ninh), Hương Sơn (Hà Tây), Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Sam (An Giang)…

     Và nhìn từ góc độ mỹ thuật Phật giáo, ta lại thấy nhiều ngôi chùa xứng đáng được tôn vinh với tư cách là những bảo tàng nghệ thuật. Có thể liệt kê ra đây hàng trăm ngôi chùa như thế trải dài trên khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam: chùa Mía, chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên – Huế), chùa Giác Lâm (TP.HCM), chùa Tam Tạng (Sóc Trăng)… Trong mỗi ngôi chùa này đều có một Phật điện với nhiều pho tượng Phật, Bồ Tát mà mỗi pho lại là một tác phẩm điêu khắc khá hoàn chỉnh, được sắp xếp theo một trật tự nhằm chuyển tải vấn đề lịch sử tư tưởng Phật giáo.

     Nói cách khác, Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều thành tựu văn hóa, đặc biệt Phật giáo đời Nhà Trần đã mang đậm nét dân tộc Việt Nam, như trên đã đề cập trong lịch sử Phật giáo Việt Nam vị Hoàng đế thứ 3 Trần Nhân Tông, người thừa hưởng tinh hoa từ các Tiên Đế, Ngài là Sơ Tổ thiền tông Trúc Lâm, một thiền phái Nhất tông. Đây là điểm nổi bậc nhất của Phật giáo đời Trần. Ngài đã làm sống dậy tinh thần nhập thế, tạo một tiếng vang tác động vào nền văn hóa Đại Việt. Các thế hệ Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam luôn thiết lập hạnh nguyện tu hành “tốt đạo đẹp đời”, đồng hành cùng dân tộc, làm nên những giá trị di sản văn hóa từ vật chất đến tinh thần hết sức quan trọng và ý nghĩa trong những chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc từ ngàn xưa cho đến ngày nay.

Mãi một dòng sông Phật giáo

     Khi tìm hiểu về di sản văn hóa Phật giáo vùng Mê-kông, chúng ta đều nhìn nhận chung một điều đó là Đạo Phật đã hòa nhập một cách rất tài tình để trở thành một tôn giáo chính của đất nước ấy chứ không còn là một hệ thống giáo lý du nhập nữa. Có thể nói không một nơi nào mà Phật giáo lại thấm nhuần và in đậm trong tâm trí, tư tưởng và nếp sống sinh hoạt của người dân vùng Mê-kông, dòng sông xuyên suốt trên 6 quốc gia. Về mặt địa lý dòng sông đã ban tặng cho con người nơi đây rất nhiều phẩm vật từ thiên nhiên. Về mặt tâm linh dòng sông Mê-kông lại là một dòng sông huyền bí chứa đựng một kho tàng lớn của văn hóa Phật giáo. Với nét đẹp từ bi, trí tuệ, Phật giáo đã từng bước chinh phục con người của dòng sông nơi đây, nhẹ nhàng đi vào đời sống văn hóa tâm linh của người dân vùng Mê-kông một cách rất hiền hòa. Không một nơi nào Phật giáo đi qua mà không để lại những nét vàng son để rồi nơi ấy lại phát triển một cách rất riêng theo từng lãnh thổ.

     Nếu như ở Trung Quốc, Phật giáo đã đóng góp rất lớn cho lĩnh vực tư tưởng và ngôn ngữ cũng như những thánh tích Phật giáo thì ở Lào, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Phật giáo lại được đưa lên hàng đầu với cương vị là quốc giáo, còn gì tốt đẹp và hạnh phúc hơn khi người dân nơi đây, họ sống rất hài hòa và lương thiện, họ luôn lấy giới luật, lấy nhân quả nghiệp báo của Phật giáo làm nền tảng cho cuộc sống tâm linh hướng thượng, và Việt Nam vào thời đại Lý Trần, đỉnh cao là thời đại Nhà Trần Phật giáo cũng trở thành quốc giáo, với giáo lý kinh Thập Thiện được Nhà Trần áp dụng, khuyên người dân trong cách đối nhân xử thế đã tạo nên một trang sử vàng cho Phật giáo. và ngày nay, Phật giáo vẫn luôn có một vị trí vững chắc trong lòng người dân Việt Nam.

     Có thể nói rằng, “Dòng sông Phật giáo” không chỉ bồi đắp cho đời những kiến trúc văn hóa, nghệ thuật độc đáo mà hơn tất cả ở nơi đó, chính lòng tin yêu, lòng kính ngưỡng đối với Phật giáo một cách nguyên vẹn, thủy chung và thành kính đã tạo cho người dân của dòng sông một đời sống tinh thần phong phú, giàu có. Tượng Phật, kiến trúc đền đài được tạo tác khắp nơi mà dường như vẫn chưa bao giờ là đủ. Người dân của dòng sông Mê-kông tạc tượng Phật quanh năm, không với mục đích để bán mà là để thể hiện niềm tin yêu và lòng tôn kính vô bờ bến đối với Đức Phật. Nếu như dòng sông Mê-kông chảy mãi không ngừng trong dòng thời gian bất tận của vũ trụ thì “dòng sông Phật giáo” cũng chảy mãi không ngừng trong trái tim và tâm hồn của một đồng cư dân của dòng sông rộng lớn. Đó là niềm tự hào và hạnh phúc lớn lao của hàng đệ tử Phật trong thời đại ngày nay. Càng tự hào bao nhiêu, hàng hậu học chúng ta càng nhận thấy trách nhiệm lớn lao trong việc phải giữ gìn và phát huy những giá trị di sản văn hóa Phật giáo lên một tầm cao mới gắn liền với hơi thở và cuộc sống của thời đại. Chính vì vậy, bên cạnh niềm vui về những di sản văn hóa Phật giáo trên dòng sông Mê-kông được thế giới công nhận, được các quốc gia hết sức trân quý, giữ gìn, chúng ta cũng thật sự quan tâm đến những tác động nghiêm trọng về nguồn tài nguyên sông nước do việc khai thác tài nguyên khoáng sản quá mức ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân các quốc gia có dòng sông Mê-kông chảy qua. Thiết nghĩ rằng, việc giữ gìn cho dòng sông Mê-kông tươi đẹp cần phải được thế giới và các quốc gia của dòng sông Mê-kông quan tâm nhiều hơn nữa để giữ gìn và kiến tạo gia tài các di sản Phật giáo tiếp nối từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Và nếu như tất cả chúng ta thiếu trách nhiệm, thiếu bổn phận và lơ là với một giá trị văn hóa lịch sử cao quí này, thì chắc chắn tương lai chúng ta phải gánh chịu hậu quả mà chính sự vô trách nhiệm của chúng ta tạo nên. Điều này đồng nghĩa là chúng ta có tội với lịch sử, văn hóa mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. “Dòng sông phật giáo” không còn là sở hữu của riêng ai mà nó là tài sản của toàn nhân loại. Hãy gìn giữ và bảo vệ!

_________
1. Tham khảo Webside địa lí và cuộc sống.

2. Nguyễn Phan Quang – Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884, Nxb TPHCM, 2000, tr 9.

3. Trần Quang Thuận, Phật Giáo Trung Quốc, Nxb Tôn Giáo, 2008, tr 148.

4. Sđd, tr 148.

5. Phan Ngọc, Đi xa để lại nghĩ gần, http://old.thuvienhoasen.org.

6. Sđd, tr 92-93.

7. Sđd, 296-297.

8. Sđd, tr 140.

9. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2012, tr 15.

10. Sở Vương Anh là em cùng cha khác mẹ với Vua hán Minh Đế, được phong tước vương năm 41.

11. Lý Hoặc Luận ( những luận lý làm tiêu tan các mối nghi hoặc về Phật giáo).

12. Trung tâm Phật giáo Lạc Dương (kinh đô Trung Hoa) và Bành Thành (tỉnh Giang Tô).

13. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2012, tr 15.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Nguyễn Phan Quang vã Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884, Nxb TP. HCM, 2000.

2/ Trần Quang Thuận, Phật Giáo Trung Quốc, Nxb Tôn Giáo, 2008.

3/ Trương Sĩ Hùng, Tôn giáo và văn hóa Đông Nam Á, Hà Nội, Nxb Khoa học, 2007.


4/ Trần Quang Thuận, Phật Giáo Miến Điện, Nxb Tôn Giáo, 2008.

5/ Thích Nguyên Tạng, Phật giáo khắp thế giới, Nxb Phương Đông, 2006.

6/ Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2012.

7/ Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập I, Nxb Tổng Hợp TPHCM, 2006.

8/ Trần Thúc Việt: Vị trí của Phật giáo trong đời sống xã hội Đông Nam Á.
http://daitangkinhvietnam.org.

9/ Phan Ngọc, Đi xa để lại nghĩ gần, http://old.thuvienhoasen.org

10/ http://tapchivanhoaphatgiao.com

11/ Tham khảo http://www.quangduc.org

12/ Tham khảo Webside địa lí và cuộc sống.

Nguồn: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam và
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM
Phật giáo vùng Mê-Kông: Di sản và văn hóa

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Chảy mãi một dòng sông Phật giáo (Tác giả: TT. Thích Huệ Thông)