Chính sách của vua Gia Long đối với các cựu thần triều Lê
Tác giả bài viết: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
(Viện Sử học)
Vua Gia Long lên ngôi (ở ngôi từ 1802-1820), quản lý đất nước từ Bắc đến Nam trong bối cảnh xã hội không ít phức tạp. Hiện tượng phân tán kéo dài, nạn đói nghèo, ruộng đất hoang hóa, dân phiêu tán, nạn thiên tai để lại nhiều hậu quả nặng nề trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Nhưng vấn đề quan trọng là lòng dân ly tán. Dân Bắc Hà vốn còn lưu luyến với nhà Lê và không ít người từ Bắc chí Nam còn nhớ tới triều Tây Sơn. Đặc biệt là sĩ phu, quan lại từng học hành, đỗ đạt và làm việc cho triều đình nhà Lê còn nhiều cân nhắc và chưa sẵn sàng theo nhà Nguyễn. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân dân, sĩ phu Bắc Hà vẫn còn ngấm ngầm chống lại triều đình nhà Nguyễn. Mặt khác, mâu thuẫn sâu sắc giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài và giữa nhân dân Đàng Trong với quan quân chúa Trịnh chưa dễ nguôi ngoai1. Phản ứng có tính chất xã hội được ghi chép trong chính sử là những cuộc nổi dậy của nhân dân dưới danh nghĩa phù Lê cũng khiến cho triều Nguyễn thêm những khó khăn. Cuộc trả thù man rợ của nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn càng làm kinh động lòng dân và trở thành định kiến lâu dài về sau đối với nhà Nguyễn. Cho nên, sau khi quản lý đất nước từ Bắc chí Nam, vua Gia Long đặc biệt quan tâm đến nhân dân Bắc Hà. Năm 1802, vua Gia Long đem đại quân ra Bắc với mục đích là trả thù nhà Nguyễn Tây Sơn và thu phục lòng dân Bắc Hà. Trong lời Hịch dụ quân dân Bắc Hà trước khi tiến quân ra Bắc nêu rõ: “Nghĩa lớn Kinh Xuân Thu không gì lớn bằng trả thù, mà quân của vương giả thì giết loạn thần là việc trước hết…”. Và kêu gọi nhân dân Bắc Hà cùng chung sức thực hiện mục đích của nhà vua và thưởng cho những ai bắt được quan quân nhà Tây Sơn. Trong sáu điều Hịch dụ quân dân Bắc Hà thì Điều 1, 2 và 6 là thưởng công cho những ai đánh được quân Tây Sơn và bắt được Nguyễn Quang Toản: “ Điều 1: Người hào mục mà đánh được đồn giặc (tức quân Tây Sơn – TG.chú) và đón bắt được giặc thì lượng công mà thưởng; ai có lòng hướng thuận, đến nơi quân để ứng nghĩa thì tùy tài thu dụng. Điều 2: Người dân mà bắt sống được giặc Nguyễn Quang Toản thì cho quan chức nhất phẩm, cấp ruộng 100 mẫu, thuộc binh 100 người; bắt được các em Quang Toản thì cho chức quan nhị phẩm, cấp ruộng 50 mẫu, thuộc binh 50 người ; bắt được bọn quận công đầu sỏ giặc thì cho chức quan tam phẩm, cấp ruộng 30 mẫu, thuộc binh 30 người. Chém chết được cũng thưởng như thế. Nếu lại dung chứa và dẫn đi, biết được thì sẽ xử theo quân pháp…; Điều 6: Đại binh tới đâu, hào mục địa phương biết được tình hình hư thực của giặc mà đến trình bày thì có khen thưởng. Nếu không nói thực và còn dung ẩn bọn giặc thì xử theo quân pháp”1. Mặc dù, một mặt, nhân dân Bắc Hà vốn đã quen với thể chế nhà Lê và không khỏi còn e ngại trước chính thể mới nhưng mặt khác, họ cũng chờ đợi ở chính thể mới một sự mới mẻ. Đại Nam thực lục chép khi nghe tin vua Gia Long ra Thăng Long nhân dân Bắc Hà đã nồng nhiệt chào đón nhà vua: “Ở Bắc Hà từ cuối đời Lê đến nay, lòng người chán loạn lạc, hàng ngày mong chờ quân nhà vua. Nay nghe tin xa giá đến, đều đặt án đốt hương để đón, xa gần dắt cõng nhau đến xem, đông như tường đứng. Chợ không thay đổi cửa hàng, làng xóm yên ổn, nhân dân đều mừng lại thấy cảnh tượng thái bình”2. Sau khi bắt được Nguyễn Quang Toản và thân thuộc, để yên lòng dân, ở Thăng Long, nhà vua có Chiếu dụ dân Bắc Hà. Trong đó, phân biệt rõ từng đối tượng, “chỉ giết những giặc đầu sỏ”, tức là quan quân nhà Tây Sơn, còn những người khác theo Tây Sơn thì hạn cho 3 đến 5 ngày thì phải ra đầu thú, nếu không thì bị trị tội. Chiếu viết: “Từ khi giặc Tây Sơn nổi loạn, nhân dân lầm than đã lâu. Trẫm nay vâng làm lệnh phạt của trời, trên để trả thù cho tổ tiên đất nước, dưới để cởi bỏ đau khổ cho nhân dân. Nay đại binh tới đâu, chỉ giết những giặc đầu sỏ, còn người nào bị ép phải theo thì đều tha, nên cứ ở yên như cũ. Những kẻ có nhận quan chức của giặc ra thú thì được miễn tội, gần thì hạn 3 ngày, xa thì hạn 5 ngày. Nếu quá hạn mà không ra thú, bị người ta bắt được thì làm tội. Những tàn quân của giặc mang theo binh khí trốn về thì lập tức phải đến cửa quân trao nộp, nếu cất giấu thì xử theo quân pháp”3.
Sau khi hoàn tất việc truy kích quan quân vương triều Tây Sơn, ở Bắc Hà, chỉ trong năm 1802, nhiều sự kiện diễn ra cho thấy, vua Gia Long quan tâm đặc biệt đến nhân dân Bắc Hà nói chung, các cựu thần nhà Lê nói riêng. Thực tế cho thấy, tổ chức triều đình nhà Nguyễn trong những năm đầu khi mới thành lập với nguồn nhân lực chính là các tướng lĩnh cùng xông pha trận mạc với vua Gia Long. Thời gian lại chưa đủ để vua Gia Long tổ chức tuyển chọn quan lại bằng khoa cử, nên nhà Vua rất chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ quan lại từ trung ương đến các cấp ở địa phương có trí thức và phẩm hạnh. Nhà vua đặc biệt chiêu dụ người hiền tài, có thể đã đỗ đạt và đã từng làm quan dưới triều Lê hoặc có học nhưng chưa đỗ đạt nhưng sẵn sàng hợp tác với triều đình nhà Nguyễn. Những người có tài có đức, xuất thân trong những gia đình danh gia vọng tộc và tầng lớp sĩ phu Bắc Hà, những trí thức ẩn dật với mục đích là, một mặt, tuyển chọn người có kiến thức, có tài, đức cho vương triều, nhưng mặt khác, không kém phần quan trọng là ổn định nhân tâm trong nước. Chính sách của vua Gia Long đối với thần dân nhà Lê trong những năm đầu khi mới thiết lập vương triều có thể kể đến các nội dung sau:
1. Chiêu dụ những Hào mục, các Học sinh
Những hào mục trước đây từng là thần dân nhà Lê nhưng không chịu hợp tác với triều Tây Sơn, dù là can phạm cũng không xét hỏi, mau trở về địa phương để tuỳ tài mà lục dụng. Trong Chiếu ban hành về việc này viết: “Mới đây Tây Sơn gây biến, ngôi nhà Lê bị mất rồi. Bọn các ngươi ôm lòng trung căm giận đã lâu, chẳng chịu để giặc sai khiến. Nhiều người trốn lánh, nhóm họp ở núi rừng chưa biết về đâu. Nay bọn giặc đã trừ, phong tục văn chương cùng một mối. Người trí giả biết cơ, đừng nên chần chờ trông ngóng. Vậy đặc dụ rằng, phàm ai bị can phạm trước kia đều không xét hỏi, đều cho giải tán nghĩa binh, đem nộp khí giới, do địa phương sở tại làm biểu báo lên, trẫm sẽ tùy tài lục dụng. Các ngươi đều nên xét kỹ sự cơ, đừng để ăn năn về sau”1. Một số thổ tù ở các tỉnh miền núi phía Bắc khi được vua chiêu dụ với những điều phải trái, họ đều theo về với nhà vua: “Các thổ tù ở Tuyên Quang, Hưng Hóa và Thái Nguyên phần nhiều còn mang lòng chờ xem. Vua muốn dùng văn cáo để vỗ yên, sai tuyên bố lời dụ bảo cho những điều họa phúc, do đó họ kế nhau đến hành tại triều kiến”2.
Những học trò chưa đỗ đạt, vua tuyển dụng bằng cách, cho họ trình bày cách thức giải quyết công việc, đựng trong phong bì dán kín, rồi trình lên vua xem xét, cất nhắc bổ dụng. Không rõ số lượng người dự là bao nhiêu nhưng trúng tuyển được 32 người. Năm 1802, “Học trò Bắc Hà dâng phong bì kín trình bày công việc. Được trúng có 32 người là bọn Phan Chính Thể, Nhữ Công Thiệu, Nguyễn Duy Cung, Bùi Phổ. Vua sai ghi tên để bổ dụng”3.
2. Bổ nhiệm các quan chức cũ triều Lê cho cai quản các Phủ, Huyện
Sau khi bổ nhiệm các quan văn võ, phần lớn là những tướng lĩnh đã từng xông pha trận mạc với vua Gia Long chia trị các trấn Bắc Thành, vua ra lời Dụ rằng: “Hiện nay nước mới được yên, dân đương ngửa trông đức mới. Bọn ngươi đều nên tuyên dương đức hóa, vỗ yên nhân dân điêu hao, khiến dân ta đều được yên nghiệp, để cho xứng sự ủy thác”4. Nội dung lời Dụ tỏ rõ mong mỏi cả nhà vua là “vỗ yên nhân dân điêu hao”, “khiến dân ta đều được yên nghiệp”.
Những chức quan cấp phủ ở các trấn thuộc Bắc Hà phần lớn đều là quan chức cũ triều Lê hoặc hương cống. Sử chép: “Các trấn Sơn Nam thượng hạ, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, Thanh Hoa nội ngoại, Nghệ An, mỗi phủ đặt một quản phủ, một tri phủ, kiêm lý một huyện, mỗi huyện đặt một tri huyện, lấy các chức cai cơ, tham quân và hương cống triều Lê cũ và những người dâng phong bì trình việc được trúng tuyển bổ vào. Những phủ huyện châu thổ dân ở Yên Quảng, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Thanh Nghệ thì lấy quan người thổ cho quản lãnh.
Ở các huyện thì cho phép chọn các sĩ nhân là đốc học của các trấn cử ra 23 người để bổ làm tri huyện các huyện”5.
Năm 1805, cho phép các doanh, trấn nếu khuyết chức tri huyện thì cho phép chọn người bầu cử lên đợi Chỉ để tuyển bổ. Năm 1811, vua lại tiếp tục ra lệnh cho Bắc Thành và các trấn Thanh Hoa (Thanh Hóa), Nghệ An chọn những người làm việc ít lỗi lầm từ năm Đinh Mão (1797) trở về trước thì khai rõ tên, tuổi, quê quán, được tuyển dụng năm nào thuộc phủ huyện nào thì tâu lên để quyết định thăng bổ. Việc tuyển chọn được quy định chặt chẽ. Ví dụ, xét “lý lịch”, phẩm hạnh của từng người ở các địa phương rồi đệ trình lên vua, khi có Chỉ của vua mới chính thức được bổ nhiệm.
3. Chính sách đối với người họ Lê và các hoàng thân triều Lê
Chính sách của vua Gia Long khá rõ ràng. Đối với thần dân mang họ Lê, vua vỗ về cho yên nghiệp. Còn những hoàng thân nhà Lê thì tuỳ theo tài năng, đức độ mà giao việc. Sử chép: “Những người các hệ họ Lê đến hành tại bái yết. Vua yên ủi rồi cho về. Người dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Đạt cùng 400 người bộ thuộc đem khí giới nộp ở trấn Thanh Hoa nội. Đốc trấn Nguyễn Đức Xuyên đem việc tâu lên. Sai triệu Duy Đạt đến hành tại, còn bộ thuộc thì cho về yên nghiệp”1.
4. Thu dụng những quan chức cũ của triều Lê và những quan chức đã từng làm việc cho triều Lê theo Tây Sơn
Những quan chức cũ của triều Lê, vua Gia Long cũng cân nhắc, nếu hoàn toàn phục vụ nhà Lê thì thu dụng, nhưng nếu đã từ nhà Lê theo Tây Sơn thì cũng thu dụng theo vụ việc. Ví dụ, cho Ngô Văn Sở làm Trấn thủ Thanh Hoa ngoại, Nguyễn Danh Xán làm Tham hiệp. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích đều là những người nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực trong đó có ngoại giao. Vua biết sắp có cuộc bang giao với nhà Thanh nên mặc dù biết họ phục vụ cho triều Tây Sơn đến chịu tội, nhà vua chưa xét hỏi ngay mà có ý dùng vào việc bang giao của triều đình. “Các Thượng thư giặc là Ngô Nhậm, Nguyễn Gia Phan, Phan Huy ích đến hành tại chịu tội. Vua cho là sắp có cuộc bang giao mà bọn Nhậm vốn là bầy tôi cũ của triều Lê, đã quen công việc, Huy ích lại từng làm sứ thần của giặc đi sang nước Thanh, bèn hạ lệnh cho ở ngoài để phòng hỏi đến”2. “Vua thấy nước mới yên định, sổ sách tản mát, tô dung thuế khóa chưa có định chuẩn, nghe Tư mã giặc là Nguyễn Văn Dạng từng coi việc hộ, bèn sai tường kê các ngạch thuế, do Hộ bộ tâu lên từng điều để tham chước thi hành”3.
Một loạt các cựu thần triều Lê được vua Gia Long bổ nhiệm những chức vụ khác nhau: “Lấy Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc, Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn, Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm và Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ, Nguyễn Đường làm Kim hoa điện học sĩ, Phạm Thích, Võ Trinh làm Thị trung học sĩ, Vũ Đình Tử, Nguyễn Huy Thảng làm Cần chính điện học sĩ. Bọn Duy Hợp đều là cựu thần nhà Lê (Võ Trinh là hương cống, còn đều là tiến sĩ), khi nhà Lê mất, không làm quan với giặc, trốn ở dân gian, đến nay vào yết kiến, vua cho ngồi và yên ủi hỏi thăm, ban cho hậu, rồi có mệnh ấy”1.
Sử sách từng chép đến những nhân vật như Ngô Thì Vị (1774-1821) và Nguyễn Du (1765-1820). Ngô Thì Vị chưa từng đỗ đạt nhưng vốn xuất thân trong gia tộc nhiều đời đỗ Tiến Sĩ, ở Tả Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội). Tả Thanh Oai đã từng lưu truyền câu: “Họ Ngô một bồ Tiến sĩ”. Trong lịch sử, Tả Thanh Oai từng nổi danh là làng khoa bảng. Nguyễn Du mới đỗ đến Tam trường nhưng thuộc dòng họ Nguyễn Tiên Điền rất có thế lực ở Thăng Long. Cả hai ông đều được vua Gia Long vời ra làm quan. Ngô Thì Vị được thăng đến chức Hữu Tham tri Bộ Lại tước Lễ Khê hầu. Nguyễn Du được thăng đến chức Hữu Tham tri Bộ Lễ tước Du Đức hầu.
5. Kêu gọi những trí thức ẩn dật ở Bắc Hà ra giúp triều đình
Nhà Vua đã ra Chiếu dụ các cựu thần nhà Lê và các hương cống ẩn dật rằng:
“Mới đây giặc Tây Sơn can phạm đạo thường, làm cho trời đất tối đen trong lúc ấy có nhiều người ẩn náu, không muốn làm quan cho giặc, mà ôm đức giữ tài là để chờ thời. Nay đảng giặc dẹp yên, võ công cả định, chính là buổi chấn hưng văn hóa, xây dựng trị bình. Nhân tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao? Vậy nên báo cáo cho nhau, đều đến hành tại để cho bọn Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Lễ bộ Đặng Đức Siêu, Tán lý Đặng Trần Thường, Tham tri Phạm Như Đăng, Học sĩ Nguyễn Viên, lần lượt dẫn vào yết kiến. Ta sẽ nghe lời nói thử việc làm, tùy tài bổ dụng, cho người hiền được có vị, người tài được có chức, họp lòng nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước”. Do đó những người ẩn dật ở Bắc Hà tranh nhau ra giúp việc”2.
6. Khen thưởng bề tôi nhà Lê có công đánh quân Tây Sơn
Một mặt, vua Gia Long truy kích đến cùng hoàng thân của nhà Nguyễn Tây Sơn, mặt khác, đối với cựu thần nhà Lê có công tham gia chống quân Tây Sơn “theo nghĩa bỏ mình”, đến nay, được xét công để khen thưởng. Đại Nam thực lục chép: “Ghi chép các bề tôi trung nghĩa ở Bắc Hà. Chiếu rằng : Khen thưởng người trung nghĩa là việc đầu của nhà nước. Mới đây giặc Tây Sơn xướng loạn, hãm hại nhân dân, những người trung nghĩa ai cũng căm giận, hoặc đương thuở nhà Lê suy yếu liều mình đánh giặc, đến khi việc nước đã hỏng mà còn cầm quân chống giặc, hết lòng hết sức, không kể được thua. Khi trẫm mới thu phục Gia Định, quyết chí diệt thù, cũng đã biết rõ một tấm trung thành của bọn người, dù muôn dặm non sông, cũng chẳng cho là xa cách, hằng thông tin sứ, ứng nghĩa cũng nhiều… Nay đã diệt quân hung ác, cả định võ công, nghĩ đến những người trung nghĩa ấy chính nên khen thưởng. Vậy hạ lệnh cho các địa phương Bắc Thành và Thanh Nghệ, xét trước đây có ai theo nghĩa bỏ mình thì cho con cháu họ hàng đem việc bày tâu, xét ban tuất điển”1.
7. Tha thuế cho nhân dân Bắc Hà và Thanh, Nghệ
Nhân dân ở Bắc Hà và Thanh, Nghệ được triều đình ra lệnh tha một đến hai vụ thuế để nới sức dân: “Miễn thuế vụ hạ năm nay cho Bắc Thành, Nghệ An và Thanh Hoa ngoại trấn. Vua cho rằng võ công mới định, nhân dân chưa được lại hơi, nên đặc biệt xuống lệnh tha thuế vụ hạ. Người nào đã nộp rồi thì đến mùa đông sẽ trừ. Duy huyện Chí Linh trấn Hải Dương bị tàn tệ quá nhiều nên thuế vụ đông cũng được miễn”; “Tha thuế quan tân năm nay cho trấn Lạng Sơn, còn những thuế sản vật thì định mỗi năm chia làm bốn quý để nộp”2.
Mục đích làm yên lòng dân trong cả nước của vua Gia Long cũng cốt để gây dựng cơ sở căn bản cho quá trình xây dựng vương triều, xây dựng đất nước. Nhà vua đã ra nhiều Chiếu, Dụ kêu gọi các tầng lớp nhân dân, cựu thần nhà Lê hợp tác và tham gia bộ máy hành chính các cấp cho triều Nguyễn. Đối với dòng họ Trịnh cũng vậy. Quan hệ thông gia lâu đời giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn nên chính sách của vua Gia Long cũng ưu đãi đối với họ Trịnh: “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: Tiên thế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ giữ việc thờ cúng, để giữ tình nghĩa đời đời”3.
Quan tâm đến đời sống kinh tế của nhân dân, nhà Vua còn ra lệnh cho quân lính không được cướp bóc, quấy rối nhân dân. Nếu ai vi phạm thì xử theo quân pháp, quan cai quản cũng bị xử phạt. “Lại răn các quân thủy bộ, chiếu rằng: Nay dân mới theo về, lòng còn sợ hãi, ta đương nghĩ cách vỗ về. Trước đây đã răn bảo các quân, đến đâu không được cướp bóc, mà còn nghe có kẻ trái phạm, thì lấy gì để thỏa lòng mong muốn của dân ? Từ nay quân nhân đều nên kính tuân lệnh cấm. Nếu ai quen thói trái phép, quấy rối dân gian, bị lính tuần bắt được, hoặc bị dân sở tại bắt giặc, thì xử theo quân pháp. Quan cai quản cũng bị xử nặng”4
Tóm lại, chính sách của vua Gia Long đối với cựu thần nhà Lê với những nội dung nêu trên cho thấy, việc xây dựng đất nước, xây dựng vương triều không giống như đem quân đi đánh trận mà rất cần được nhân dân từ Nam ra Bắc đồng lòng ủng hộ. Dân là căn bản của nước, vì vậy, Gia Long hiểu hơn hết những năm đầu khi mới cầm quyền là ổn định nhân tâm, hướng nhân dân vào guồng máy hoạt động của vương triều. Mọi tầng lớp nhân dân Bắc Hà đều được vua Gia Long ra Chiếu, Dụ kêu gọi góp công sức xây dựng vương triều. Trong đó, đáng chú ý là những trí thức Nho học, những quan lại cũ của triều Lê đã từng quen việc triều chính hoặc những người đã từng đỗ đạt, hoặc những người có học mà chưa đỗ đạt đều được nhà vua tùy tài mà bổ dụng, “cho người hiền được có vị, người tài được có chức, họp lòng nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước”. Qua đó, thêm một khía cạnh để nhìn nhận, đánh giá công bằng vị vua đầu triều Nguyễn – Gia Long.
_________
1 Xem: Bạch Hào: Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn qua một số ít bức thư của người ngoại quốc đã ở Việt Nam đương thời, Tập san Văn Sử Địa, số 14, tháng 2-1956.
1 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr.496.
2 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 503.
3 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 503.
1 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 504.
2 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 516.
3 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 508.
4 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 504.
5 Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr.300.
1 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 505.
2 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 505.
3 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 506.
1 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 508.
2 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 507.
1 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 508.
2 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 508, 509.
3 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 508.
4 Đại Nam thực lục, Chính biên, tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr. 509.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)