Công nghiệp văn hoá ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả bài viết: HOÀNG MINH PHÚC
(Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai)
TÓM TẮT
Trong những thập niên gần đây, công nghiệp văn hóa thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sự phát triển của công nghiệp chế tạo, của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình toàn cầu hoá của nhân loại đã tạo nên sự thay đổi rất lớn trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn hoá và công nghiệp văn hoá. Với nhiều quốc gia, công nghiệp văn hoá đã trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn và là trọng điểm trong chiến lược phát triển đất nước. Sản phẩm công nghiệp văn hoá không chỉ góp phần nâng cao vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế mà còn tạo ra những hiệu ứng mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Bài viết này dựa trên các nghiên cứu về công nghiệp văn hoá với cách tiếp cận nghệ thuật học phân tích những dịch chuyển về không gian sáng tạo và vị thế người thực hành nghệ thuật để phác thảo và nhìn nhận vấn đề thực tiễn trong nghiên cứu.
Từ khoá: Công nghiệp văn hoá, không gian văn hoá sáng tạo, giá trị văn hoá.
ABSTRACT
In recent decades, the cultural industry has attracted research interest from many countries around the world, including Vietnam. The development of manufacturing industry, the industrial revolution 4.0 and the globalization process of mankind have made a great change in many fields including culture and cultural industry. For many countries, cultural industry has become a key economic sector and a key point in the country’s development strategy. Cultural and industrial products not only contribute to enhancing the position of countries in the international arena but also create strong political, economic, cultural and educational effects… This article is based on The study of cultural industry with the approach of the arts analyzes the movement of creative space and the position of people practicing art to outline and recognize practical issues in research.
Keywords: Cultural industry, creative cultural space, cultural value.
x
x x
1. Đặt vấn đề
Công nghiệp văn hóa là loại hình công nghiệp đặc biệt thể hiện cái nhìn mới về vấn đề kinh tế trong văn hoá. Nhiều thập niên gần đây, ngành công nghiệp văn hoá đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá và kinh tế thế giới, những hiệu ích về kinh tế – xã hội mà công nghiệp văn hoá mang lại làm thay đổi chính sách đầu tư cho văn hoá của nhiều quốc gia. So với các nước trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam bước vào quá trình phát triển công nghiệp văn hoá muộn hơn, thuật ngữ công nghiệp văn hoá đến năm 2014 mới được đề cập tới trong Nghị quyết số 33/ NQ-TW của BCHTW khoá XI “Phát triển công nghiệp văn hoá nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hoá Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hoá, góp phần quảng bá văn hoá Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hoá, góp phần quảng bá văn hoá Việt Nam ra thế giới… Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hoá và công nghiệp văn hoá”1. Đến nay, hệ thống các văn bản liên quan đến phát triển ngành công nghiệp văn hoá đã được Nhà nước quan tâm, ban hành góp phần định hướng các chuẩn giá trị của văn hoá và tạo điều kiện phát huy được hiệu ích kinh tế của các hoạt động văn hoá. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” khẳng định quan điểm của Chính phủ Việt Nam trong phát triển các ngành công nghiệp văn hoá “Các ngành công nghiệp văn hoá là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hoá. Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá dựa trên sự sáng tạo, khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ; khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hoá”2. Điều này cho thấy, nhu cầu về sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá không ngừng gia tăng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các thông báo quyết định thừa nhận sự đóng góp của văn hoá đối với việc tăng trưởng kinh tế cho thấy văn hoá đang dần tìm con đường hướng tới thị trường và cho thấy những thay đổi cơ bản về cách thức nhân loại sáng tạo, tiêu dùng và hưởng thụ các sản phẩm văn hoá. Thị trường các sản phẩm văn hoá cũng giống như các thị trường khác, đa dạng và phân khúc phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, thu nhập, tuổi tác… của khách hàng đã góp phần thúc đẩy nội lực của quốc gia về văn hoá, thúc đẩy được sức sáng tạo của người nghệ sĩ và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp văn hoá.
2. Công nghiệp văn hoá
Thuật ngữ Công nghiệp văn hoá (Cultural Indusstries) lần đầu tiên năm được bàn tới năm 1947 trong tác phẩm Dialectic of Enlightenment “văn hoá bị thống trị bởi các hàng hoá được sản xuất bởi công nghiệp văn hoá và các hàng hoá này trong khi nhắm đến mục đích là những hàng hoá mang tính dân chủ, cá nhân và đa dạng hoá, trên thực tế lại có tính chuyên chế, hòa đồng và tiêu chuẩn cao… Chữ “công nghiệp” không nhằm chỉ quá trình sản xuất mà chỉ sự tiêu chuẩn hoá các sản phẩm cũng như hợp lý hoá kỹ thuật liên quan đến việc cung ứng, phân phối sản phẩm”3. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp văn hoá đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Khái niệm công nghiệp văn hoá xuất hiện và được định nghĩa đơn giản là các ngành công nghiệp sản xuất hàng hoá văn hoá. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, công nghiệp văn hoá đã dần trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, do vậy tuỳ thuộc vào vị trí trung tâm của ngành, mỗi quốc gia lại có một cách định nghĩa khác nhau về ngành công nghiệp văn hoá. Nếu như khái niệm văn hoá thường diễn đạt ý niệm trừu tượng về giá trị thì khái niệm công nghiệp liên quan đến sản phẩm hàng hoá. Khái niệm này đã bộc lộ những sức mạnh tiềm ẩn của văn hoá về phương diện kinh tế mà trước đây ít được chú ý. UNESCO cũng thừa nhận văn hoá là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. “Trong những nước tiên tiến, sự chi tiêu cho văn hoá ngày càng lớn, vượt quá cả sự chi tiêu để sinh sống. Kinh doanh văn hoá trở thành một ngành lớn đem lại thu nhập không kém thu nhập công nghiệp và thương nghiệp”4.
Theo UNESCO và một số quốc gia công nhận “công nghiệp văn hoá là các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hoá. Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện dưới dạng sản phẩm hay dịch vụ”5 và công nghiệp văn hoá là sự kết hợp 3 yếu tố:

Từ đó mới sinh ra các sản phẩm văn hoá nhằm đem lại lợi ích kinh tế.
Thông thường, khi nói tới văn hoá là nói đến sự sáng tạo, sự tự do sáng tạo, đến sự thể hiện năng lực cá nhân (cũng là bản chất của văn hoá, nghệ thuật). Vì vậy những sáng tạo văn hoá, sản phẩm văn hoá xuất hiện luôn gắn với những cá nhân cụ thể, hoặc dấu ấn cá nhân thể hiện tính độc đáo, tính đơn nhất giúp cho người hưởng thụ sở hữu những giá trị văn hoá mang tính sáng tạo, đặc sắc thay vì những sản phẩm hàng hoá được sản xuất hàng loạt. Điều đó được hiểu là, thay vì xem sản phẩm văn hoá, tác phẩm nghệ thuật trên phương diện thẩm mỹ, giá trị thẩm mỹ mà sản phẩm mang lại thì công nghiệp văn hoá xem xét văn hoá trên phương diện hàng hoá, tác phẩm nghệ thuật được xác định bởi giá trị kinh tế, chứ không phải bởi các giá trị thẩm mỹ, điều này khiến cho việc phân tích nghệ thuật độc lập thay đổi. Hiểu rộng hơn, trí tuệ con người vẫn là yếu tố then chốt trong việc tạo tác sản phẩm, còn việc kết hợp với tiến bộ của công nghệ nhằm mục đích tạo nên giá trị, thương hiệu và mức độ phổ biến của các sản phẩm công nghiệp văn hoá. Chính vì có nhiều cách hiểu như vậy, nên thuật ngữ công nghiệp văn hóa đã được các quốc gia nghiên cứu, bàn bạc và chính thức công bố ở Hội nghị Thượng đỉnh về hoạt động văn hoá tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) tháng 4 năm 1998. Mặc dầu còn nhiều ý kiến6 nhưng tựu trung thống nhất công nghiệp văn hoá là sự tập hợp các ngành kinh tế khai thác và sử dụng hiệu quả tính sáng tạo, kỹ năng, sở hữu trí tuệ, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa văn hóa xã hội; nhấn mạnh đến yếu tố đặc trưng của ngành là công nghiệp và sáng tạo. Điều này có nghĩa là năng lực sáng tạo cá nhân, thông qua phương tiện công nghệ hiện đại tạo nên một ngành kinh doanh hàm chứa giá trị kinh tế và văn hoá.
Ở Việt Nam, công nghiệp văn hoá là một khái niệm khá mới, còn nhiều tranh luận nhưng nhìn chung thống nhất “Công nghiệp văn hoá là ngành công nghiệp sáng tạo, sản xuất, tái sản xuất, phổ biến biêu dùng các sản phẩm và dịch vụ văn hoá bằng phương thức công nghiệp hoá, tin học hoá, thương phẩm hoá, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng của xã hội, các hoạt động đó được bảo vệ bởi bản quyền”7. Quan điểm này đã nêu ra được những đặc trưng cơ bản của ngành công nghiệp văn hoá là một ngành công nghiệp nhưng mang tính đặc thù so với các ngành khác, được thể hiện ở những sản phẩm tạo ra có sự kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật cao với các giá trị văn hoá, giá trị kinh tế, các sản phẩm đó hướng tới phục vụ cộng đồng, phục vụ xã hội. Năm 2016, khái niệm công nghiệp văn hoá được Chính phủ thông qua trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 như sau: công nghiệp văn hoá “là sự ứng dụng của những tiến bộ khoa học – công nghệ và kỹ năng kinh doanh, sử dụng năng lực sáng tạo, nguồn vốn văn hoá để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ văn hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hoá của người dân”8. Nhìn chung, nhiều khái niệm đều ghi nhận văn hoá là một ngành công nghiệp đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghệ “Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực công nghiệp đặc trưng của thế kỷ XXI, được phát triển dựa trên cơ sở sử dụng kỹ thuật số hoá, dựa vào công nghệ kết nối thông tin và mạng Intenet, lợi dụng tài nguyên thông tin và tài nguyên liên quan nhằm phục vụ quá trình sáng tác, phát triển, phân phối, tiêu thụ và tiêu dùng sản phẩm văn hoá trên phạm vi toàn cầu”9. Các ngành công nghiệp văn hoá ở Việt Nam bao gồm ngành quảng cáo, kiến trúc, phần mềm và các trò chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, truyền hình và phát thanh, du lịch văn hoá10.
Toàn cầu hoá và việc hội tụ của các ngành công nghệ truyền thông đa phương tiện đã biến đổi người tiêu dùng từ những người tiếp nhận các thông điệp văn hoá thụ động thành những người đồng sáng tạo chủ động. Ví dụ như việc sử dụng kỹ thuật số trong lĩnh vực thiết kế mỹ thuật, sân khấu điện ảnh và âm nhạc đã làm thay đổi thị trường toàn cầu, dẫn đến sự xuất hiện của các ngành công nghiệp mới và người tiêu dùng mới. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật làm gia tăng vai trò của các ngành công nghiệp văn hoá tạo sự gắn kết đối với đời sống kinh tế – xã hội, sự sáng tạo của người nghệ sĩ trong lĩnh vực văn hoá, xu thế kinh tế của quốc gia… Như vậy, từ những sáng tạo cá nhân nhưng nhờ sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật và tài năng của nhà sản xuất, sản phẩm công nghiệp văn hoá được phổ biến tới mọi đối tượng, mọi tầng lớp công chúng trong xã hội. Nhìn chung, các ngành công nghiệp văn hoá là sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hoá, nghệ thuật, kinh tế và công nghệ. Các ngành này đều sáng tạo, sản xuất, phân phối các sản phẩm và dịch vụ sử dụng nguồn lực trí tuệ của con người, điều đó có nghĩa là hoạt động của ngành công nghiệp văn hoá dựa trên năng lực và kỹ năng sáng tạo của con người.
3. Công nghiệp văn hoá và sáng tạo
Trong thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có những thay đổi lớn từ các chính sách phát triển văn hoá, thay đổi về kinh tế và xã hội. Phát triển văn hoá đã được đưa lên làm một trong những trụ cột chính bên cạnh phát triển kinh tế và xã hội trên con đường tiến tới tăng trưởng bền vững. Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp khoảng 3% GDP (2020) và 7% GDP (2030) và giải quyết việc làm cho xã hội thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hoá đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hoá của người dân trong nước và xuất khẩu góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hoá11. Trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, sự sáng tạo được coi là yếu tố then chốt chi phối mọi lĩnh vực về kinh tế và ngành nghề, do vậy kiến thức chuyên môn và sự sáng tạo tài năng cá nhân sẽ tạo ra nét đặc sắc riêng. Trên thực tế, trong bất kỳ lĩnh vực nào sáng tạo cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới, là chất xúc tác cho sự thay đổi, kích thích phát minh và tiến bộ. Sản phẩm văn hoá cũng như các sản phẩm khác, cần đáp ứng nhu cầu của thị trường, marketing, xây dựng thương hiệu, mang bản sắc riêng… Bất cứ một quốc gia nào, dù giàu hay nghèo đều có những biểu tượng cho một hình ảnh tiêu biểu được hình thành từ những nhận thức của con người, nền văn hoá và trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Do vậy, trong mỗi sản phẩm công nghiệp văn hoá đều cần phải phản ánh văn hoá, tinh thần của quốc gia để khi ra khỏi biên giới lãnh thổ, các sản phẩm công nghiệp văn hoá trở thành đại sứ văn hoá dân tộc. Nếu các sản phẩm văn hoá đó chỉnh chu cả về hình thức lẫn nội dung sẽ góp phần quảng bá hình ảnh văn hoá quốc gia, dân tộc với quốc tế từ đó tạo ra những cơ hội mới trong hợp tác và đầu tư.
Thực hiện nhiệm vụ quảng bá thương hiệu quốc gia và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã triển khai và ban hành các quyết định liên quan như “Đề án Quảng bá thương hiệu quốc gia lĩnh vực điện ảnh”, “Đề án thương hiệu quốc gia lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh – Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”, “Nghệ thuật sơn mài Việt Nam”…. Điều này cho thấy, để quảng bá thương hiệu quốc gia và phát triển chiến lược công nghiệp văn hoá, trước hết bản thân mỗi người Việt Nam cần phải đánh giá, nhận thức về “sức hấp dẫn” của Việt Nam ở đâu để giúp củng cố tính độc đáo của quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc. Nhiều quốc gia trên thế giới đã tận dụng ngành công nghiệp văn hoá để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội mang lại dấu ấn đặc trưng của dân tộc họ, ví dụ anime, manga Nhật Bản, làn sóng văn hoá Hàn Quốc Hallyu, Kpop… Với trường hợp của Việt Nam, việc phát triển ngành công nghiệp văn hoá “đậm đà bản sắc văn hoá”, lấy văn hoá truyền thống làm cốt lõi phát triển có thể được xem là ưu thế, là nguồn tài nguyên văn hoá lâu dài. Bản sắc văn hoá, những giá trị văn hoá được nhân dân ta bồi đắp từ bao đời nay chính là nguồn vốn văn hoá, là cơ sở để tạo ra các sản phẩm văn hoá độc đáo.
4. Không gian sáng tạo và nghệ sĩ
Công nghiệp sáng tạo như đã bàn luận ở trên là ngành công nghiệp sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp văn hoá, sản phẩm của công nghệ văn hoá liên quan mật thiết với sáng tạo, với vai trò của người nghệ sĩ và không gian thực hành nghệ thuật, sáng tạo của người/nhóm nghệ sĩ đó (cá nhân hoặc tập thể). Người/nhóm nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo, họ có thể là nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, ca sĩ, nhà thiết kế, đạo diễn, nhà biên kịch, nghệ sĩ múa…, dựa vào tài năng, khả năng của cá nhân hình thành ý tưởng và hiện thực hoá ý tưởng trong thực tế để tạo nên sản phẩm văn hoá. Quá trình này bao gồm cả việc lưu thông, phân phối sản phẩm công nghiệp văn hoá, đưa sản phẩm văn hoá tới người tiêu dùng thông qua không gian sáng tạo.
Không gian sáng tạo là một môi trường mở và thân thiện để mọi người có thể gặp gỡ, trao đổi ý tưởng, đối thoại với nghệ sĩ, sáng tạo, thử nghiệm các hình thức nghệ thuật hoặc thể hiện bản thân. Tuỳ thuộc vào sở thích và sự quan tâm của bản thân, những người tham dự tự do quyết định địa điểm và hình thức tham dự. Tại các không gian văn hoá sáng tạo này, họ cũng có thể tiếp nhận những kiến thức, kỹ năng hoặc những giá trị mới. “Không gian sáng tạo là một địa điểm, có thể là địa điểm thực hoặc địa điểm trực tuyến, là nơi đem những con người sáng tạo đến với nhau. Đó là nơi tụ họp, chia sẻ không gian và hỗ trợ cho các hoạt động kết nối, phát triển kinh doanh và thu hút cộng đồng trong các lĩnh vực sáng tạo, văn hoá và công nghệ”12. Các không gian sáng tạo nhanh chóng trở thành một hiện tượng toàn cầu, trở thành một cách thức tổ chức đổi mới. Các loại hình hoạt động của không gian văn hoá vì thế bao gồm:

Như vậy, không gian văn hóa sáng tạo một địa điểm, nơi mọi người có thể cùng nhau thể hiện những ý tưởng nghệ thuật và sáng tạo trong một môi trường tự do và cởi mở, từ đó chia sẻ những sản phẩm nghệ thuật tới cộng đồng. Tại Việt Nam, phần lớn các không gian văn hoá này đều hoạt động độc lập và thường tập trung ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, có thể trực tuyến, có thể tại một địa điểm thực cố định/di chuyển (do thuê, mượn để tổ chức sự kiện). Đó là những không gian linh hoạt (là kinh doanh tư nhân được đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân là doanh nghiệp, chỉ có một số ít là tổ chức phi chính phủ) có thể là thư viện, quán cafe, phòng tranh, studio, trường học, nhà riêng, xưởng họa (studio), không gian công cộng như Sàn Art, Cafe thứ Bảy, Gallery Quỳnh, Nhà ga 3A, ADC Academy, trung tâm nghệ thuật Factory… thường được dẫn dắt và quản lý bởi các nghệ sỹ hoặc người thực hành nghệ thuật và sáng tạo. Những tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa và có tiềm năng trong việc tham gia và hỗ trợ các biểu đạt nghệ thuật cũng như các cơ hội tiếp cận với đời sống văn hóa. Như vậy, văn hoá cũng là một nhân tố quan trọng kết nối với cộng đồng, cung cấp công cụ và không gian cho những biểu đạt có tính sáng tạo và đưa đến tiếng nói cho các cá nhân để tăng sự hiểu biết, sự đồng cảm, và khuyến khích những thay đổi tích cực.
Trên thực tế, ở Việt Nam đã hình thành hệ thống mạng lưới không gian văn hoá sáng tạo. Thành phố Hà Nội vừa được UNESCO công nhận là Thành phố Sáng tạo ngày 30 tháng 10 năm 2019 là một minh chứng13. Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng là 2 trong 3 trung tâm công nghiệp văn hoá của cả nước được nhà nước quan tâm đầu tư nguồn lực để hình thành và phát triển thị trường đã được nêu trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 203014. Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, nếu như công chúng chỉ biết tới các trung tâm triển lãm như Giảng Võ, Vân Hồ, một vài gallery bán tranh nghệ thuật (phần lớn là nghệ thuật bình dân), một vài rạp chiếu phim (Rạp Tháng Tám, Rạp Vinh Quang…), nơi thưởng thức nghệ thuật (nhà hát Thành phố, hòa Bình, Bến Thành, Đại Đồng…). Đến khi nghệ thuật đương đại Việt Nam định hình và phát triển, không gian sáng tạo mang tính quy mô được công chúng biết tới nhiều nhất như L’Espace (Hà Nội), L’Indicaf (Tp Hồ Chí Minh), Viện Goethe (Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh), Hội đồng Anh, Quỹ Ford… và đến những năm đầu của thế kỷ 21, các không gian độc lập được mở ra như Heritage Space, Zone 9, X98… cho thấy quy mô và tiêu chí phục vụ thay đổi theo xu hướng xã hội.
Những không gian này đồng thời là những trung tâm năng động, nơi cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho các nghệ sĩ và người thực hành sáng tạo, giúp họ có một địa chỉ, một không gian để làm việc và tương tác với công chúng. Điều này làm cho tiếng nói nghệ thuật trở nên đa dạng, góp phần biểu đạt sáng tạo giúp cho văn hóa sáng tạo của Việt Nam phát triển, mang tính độc đáo. Mạng lưới không gian văn hoá sáng tạo khuyến khích sự tự do biểu đạt nghệ thuật và thúc đẩy quyền sáng tạo, thưởng thức và tiếp cận đời sống văn hoá. Không gian văn hoá sáng tạo giúp người nghệ sĩ tham gia vào hội thoại giao thoa văn hoá, giải quyết vấn đề sáng tạo tập thể và tăng cường năng lực sáng tạo. Họ là những tổ chức trung gian (chuyên nghiệp/ bán chuyên/tư nhân), là nơi tạo ra các diễn đàn (lợi nhuận/phi lợi nhuận) nhằm xây dựng các mối quan hệ giữa nghệ sĩ (người sáng tạo/chủ thể) và công chúng (người thụ hưởng/khán giả) trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá. Mạng lưới không gian hướng đến các hoạt động cụ thể để phát triển chuyên môn, trao đổi học thuật (kết nối), thực hành sáng tạo (sáng tạo)… hướng tới việc làm gia tăng các giá trị văn hoá (có định hướng kinh doanh).
Những không gian sáng tạo này, trở thành những địa chỉ văn hoá nghệ thuật, nơi công bố những tác phẩm nghệ thuật đương đại, nơi kết nối và truyền cảm hứng cho cả nghệ sĩ, công chúng và người thực hiện. Là nơi các nghệ sĩ (bán chuyên) hiện thực hoá ước mơ và cũng là nơi hình thành thị trường (theo một cách riêng) “tiêu thụ” những sản phẩm công nghiệp văn hoá… Theo thời gian, những địa chỉ này cũng là nơi cung cấp kiến thức, kỹ năng, nâng cao trình độ thẩm mỹ, truyền cảm hứng, thực hiện dự án và hoàn thiện cá nhân. Mỗi không gian sáng tạo còn là nơi làm việc lý tưởng cho các nhân viên/cá nhân/người kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá và thể hiện trình độ hưởng thụ văn hoá của tầng lớp nhân dân trong xã hội.
5. Kết luận
Sự mới mẻ trong lãnh địa mới về công nghiệp văn hoá đã cho thấy sự dịch chuyển về khái niệm trong lĩnh vực văn hoá nói chung và nghệ thuật nói riêng. Hệ thống thuật ngữ và khái niệm mới ra đời, sự thay đổi về chủ thể và không gian sáng tạo, về các giá trị thẩm mỹ… Mặc dù Việt Nam tiếp cận với lĩnh vực công nghiệp văn hoá muộn hơn so với thế giới và các quốc gia khác trong khu vực, nhưng Đảng và Nhà nước luôn xác định được tầm quan trọng của văn hoá trong tiến trình phát triển của đất nước với quan điểm chỉ đạo “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”15. Định vị văn hoá như là một công cụ cho sự phát triển kinh tế, bước đầu thiết lập những chính sách, luật định, cơ chế để Việt Nam có thể trở thành một trung tâm lớn và đứng đầu thị trường về các ngành công nghiệp văn hoá ở Đông Nam Á vào năm 2020 – 2030./.
__________
1 Nghị quyết số 33/NQ-TW Hội nghị lần thứ chín BCHTW khoá XI ngày 09 tháng 6 năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
2 Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
3 Thuật ngữ công nghiệp văn hoá do hai nhà nghiên cứu thuộc trường phái Frankfurt là Max Horkheimer (1895- 1973) và Theodor W.Adorno (1903-1969) sáng tạo và được coi là thuật ngữ chủ chốt trong tác phẩm Dialectic of Enlightenment (Phép biện chứng và khai sáng) của Horkheimer và Adorno của Nxb Stanford University năm 2006. Thuật ngữ này được các quốc gia chính thức công nhận năm 1998 trong Hội nghị Thượng đỉnh về văn hoá tại Stockholm, Thuỵ Điển..
4 Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, tr.19, 2013.
5 UNESCO, Các ngành công nghiệp văn hoá – Tâm điểm của văn hoá trong tương lai, web: htttp//portal.unesco.org/culture/en/ev, 2009.
6 Một số quốc gia như Anh, Úc, New Zealand, Singapore sử dụng khái niệm “các ngành công nghiệp sáng tạo” (creative industries); Úc và Đài Loan sử dụng thuật ngữ “các ngành công nghiệp văn hoá và sáng tạo” (cultural and creative industries); một số nhà nghiên cứu Mỹ và Canada dùng khái niệm “công nghiệp nghệ thuật” (Arts Industriel).
7 Nguyễn Thị Hương, Đề tài Phát triển công nghiệp văn hoá ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, 2009.
8 Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 về Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đd.
9 Phạm Hồng Thái, Sự phát triển của công nghiệp văn hoá ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, 2015.
10 Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 về Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đd.
11 Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 về Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đd.
12 Theo báo cáo trong chương trình Kinh tế sáng tạo của Hội đồng Anh năm 2014.
13 Mạng lưới các thành phố sáng tạo của Unesco thành lập từ năm 2004 với sự tham gia của 180 thành phố thuộc 72 quốc gia trên thế giới. Mạng lưới nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các thành phố được vinh danh với tôn chỉ hướng tới thúc đẩy nguồn lực văn hoá và sáng tạo văn hoá làm nền tảng cho quá trình phát triển đô thị bền vững.
14 Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 về Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đd.
15 Nghị quyết 33-NQ/TW Hội nghị lần thứ Chín BCHTW Khoá XI ngày 14 tháng 5 năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Bích Huyền, Đặng Hoài Thu, 2014), Giáo trình các ngành công nghiệp văn hoá, Nxb Lao động, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Hương, Đề tài Phát triển công nghiệp văn hoá ở Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp, 2009.
3. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.
4. Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013.
5. Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của BCHTW về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
6. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2013.
7. Quyế t đị nh số 581/QĐ-TTg ngà y 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020.
8. Quyết định số 4661/QĐ-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2012 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch phát triển văn hoá thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Kế hoạch số 112/KHUBND ngày 29 tháng 5 năm 2017 về việc thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hoá thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
9. Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
10. Phạm Hồng Thái, Sự phát triển của công nghiệp văn hoá ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, 2015.
11. Vai trò của các Không gian Văn hoá Sáng tạo trong nền Kinh tế Sáng tạo Việt Nam, Dự án Không gian Văn hoá Sáng tạo Việt Nam, 11/2018, British Council.
12. portal.unesco.ort/culture/en/ev.
Nguồn: Tạp chí Khoa học trường Đại học Mở Hà Nội 66 (4/2020) 25-33
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Công nghiệp văn hoá ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn (Tác giả: Hoàng Minh Phúc) |