Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Đặc điểm Phật giáo Nam Bộ thời Nguyễn - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Đặc điểm Phật giáo Nam Bộ thời Nguyễn

Tác giả bài viết: Tiến sĩ  TRẦN HỒNG LIÊN
(Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ)

     Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã hơn 2.000 năm nay. Quá trình phát triển của Phật giáo là quá trình in dấu ấn sâu đậm theo từng vùng đất mà đạo Phật hiện diện. Từ sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hóa (1558), Phật giáo theo đoàn di dân đi dần vào phương Nam. Cuộc phân tranh giữa Trịnh – Nguyễn cũng đã làm phân hóa sâu sắc sinh hoạt tinh thần của cư dân hai vùng lãnh thổ. Chúa Trịnh ở phương Bắc, thuộc Đàng Ngoài; Chúa Nguyễn ở phương Nam, thuộc Đàng Trong. Những chính sách của hai Chúa cũng đồng thời đưa đến sự chuyển đổi sâu sắc trong Phật giáo Việt Nam. Như vậy, Phật giáo thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong và khu vực được mở rộng, hiện nay thuộc vùng đất Nam bộ, đã có những đặc điểm gì? Sự hoằng hóa của các thiền sư từ giai đoạn các chúa Nguyễn sang triều đại nhà Nguyễn mang nét đặc thù nào? Và vào thời điểm ấy, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của luồng văn hóa nào là chủ đạo? Đó là những câu hỏi nghiên cứu gợi mở để góp phần dựng lại bức tranh khái quát về Phật giáo ở Nam bộ thời Nguyễn.

1. Thời chúa Nguyễn

     1.1 Có thể nhận thấy, góp phần lớn vào việc phát triển Phật giáo Đàng Trong chính là từ công lao của các thiền sư, của chúa Nguyễn và của người dân. Ngôi chùa x-a nhất do Nguyễn Hoàng xây dựng vào năm 1607 ở Trà Kiệu là chùa Bửu Châu. Chùa Quan Âm, còn gọi Minh Hương phật tự ở Hội An, do ng-ời Hoa xây dựng từ năm 1653.

     Không thể không kể đến sự hiện diện của bậc đại sư buổi đầu ở Đàng Trong là tổ Nguyên Thiều (thuộc thế hệ truyền thừa thứ 33 của Lâm tế tông). Nhưng vị thầy có công đặt nền móng cho Phật giáo lan tỏa vào Đàng Trong lại chính là Bổn Kiểu Khoáng Viên1. Qua ghi chép để lại trong nhà thiền của chùa Long Thiền (tỉnh Đồng Nai), nơi đã được xem như một trong những điểm đầu tiên của Phật giáo vào Nam bộ, đã cho thấy vị tổ khai sơn chùa thuộc phái Lâm Tế, đời thứ 32. Bản thảo đã ghi lại rằng: “ Năm 1658, triều Lê, vua Lê Thần Tôn trị vì. Lúc ấy miền Nam chúa Nguyễn Hiền Vương cai trị và khai hóa. Tổ Bổn Kiểu đồng thời đi vào Nam hóa đạo. Năm 1664, tổ Bổn Kiểu khai sơn Long Thiền tự, tổ sư từ Trung Việt để lui tới miền Nam, trên đường tu tập và hóa đạo. Tín đồ sùng bái, quy ngưỡng, đạo mạch thạnh hưng, sau tổ trở về nguyên quán, người được tổ giáng trạch kế tiếp là đại sư Nguyên Thiều”2.

      Phái Lâm Tế dòng Chúc Thánh với vị tổ người Phúc Kiến, khai sơn chùa Chúc Thánh ở Hội An, thuộc thế hệ truyền thừa thứ 34 là Minh Hải Pháp Bảo. Thiệt úy, đời thứ 35, đệ tử của ngài, đã trụ trì chùa Thiên ấn (Quảng Ngãi). Ngoài ra còn khá nhiều thiền sư Trung Hoa đã sang Việt Nam thuộc thế kỷ 17 như Thạch Liêm hòa thượng; Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ân Tông (Thuận Hóa); Minh Lượng Thành Đẳng, khai sơn chùa Vạn Đức (Hội An)…

     Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu truyền bá Phật giáo vào Đàng Trong, không chỉ có một hướng duy nhất là từ Bắc vào Nam theo lộ trình Nam tiến như nhiều người thường nghĩ. Từ Trung Quốc, Phật giáo đã thông qua cuộc di dân của quan quân Mạc Cửu mà vào thẳng vùng đất Mang Khảm từ năm 1708, sau này là Hà Tiên, nay thuộc tỉnh Kiên Giang. Sự hiện diện của ngôi chùa Tam Bảo do Mạc Cửu xây dựng cho mẹ ông sống tu đã góp phần lớn vào việc truyền bá Phật giáo vào miền Tây Nam bộ ở thế kỷ 18. Đại sư Huỳnh Long đã trụ trì tại chùa này, đẩy mạnh việc đưa Phật giáo lan rộng sang các tỉnh khác.

     Như vậy, có thể cho rằng dưới thời các chúa Nguyễn, Phật giáo đã lan tỏa theo chân các thiền sư mà vào Đàng Trong. Buổi đầu, trong các ngôi chùa do thiền sư Trung Hoa xây dựng như Long Thiền (Đồng Nai); Giác Lâm (Gia Định), Tam Bảo (Kiên Giang) đã dần được chuyển sang người Việt trụ trì. Có nhiều nguyên nhân để lý giải vấn đề này. Thiền sư Trung Hoa sang Việt Nam khá ít ỏi. Không chỉ tại Việt Nam, mà ở Trung Quốc số tu sĩ cũng không nhiều. Phong tục tập quán của Trung Quốc quan niệm “ đông con là nhà có phúc”, trong khi việc thọ giới tỳ kheo để trở thành một tu sĩ đòi hỏi phải “ly gia, cắt ái”, độc thân suốt đời làm đạo, vì vậy số lượng tu sĩ trong từng chùa thường có hạn. Sau khi sang Việt Nam truyền đạo, buổi đầu, có thiền sư lại trở về Trung Quốc, vì vậy, thế hệ trụ trì thứ hai của chùa thường là thiền sư Việt Nam. Dần dà theo thời gian, một số chùa do người Trung Hoa xây dựng, khai sơn ở Đàng Trong đều do người Việt thay thế trụ trì.

     1.2. Những ngôi chùa ở Đàng Trong, thời các chúa Nguyễn, được xây dựng trên gò cao, bên sườn núi, cạnh bờ sông… để dựa vào thế phong thủy tốt, vì nơi có âm dương tương hội, vượng khí sẽ sinh sôi, phát triển. Những ngôi chùa này buổi đầu đều là những am tranh, sau phát triển lên thành chùa, mang kiến trúc đặc biệt của vùng đất Nam bộ. Đó là kiểu nhà hình tứ trụ, gồm 4 cột bao quanh thượng điện. Quan niệm trong triết học phương Đông về ngôi thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái đã ảnh hưởng vào mô hình kiến trúc trên. Đó cũng là dạng kiến trúc thấy có ở đình Nam bộ hiện nay. Nhà dân không được cất ở theo dạng này.

     Chùa Giác Lâm, chùa Phụng Sơn ở Gia Định đều đ-ợc xây dựng trên gò cao, trên địa thế phong thủy tốt, có âm dương tương hội; chùa Giác Viên và nhiều ngôi chùa ở Tây Nam bộ được xây dựng bên bờ sông, rạch như Long Triều (Chợ Đệm), Phước Hậu (Vĩnh Long); Hội Sơn (Đồng Nai)…

     1.3. Những dòng Phật giáo vốn từ Trung Quốc đưa vào, có mặt khá sớm ở Tây Nam bộ. Phái Lâm Tế chánh tông, còn gọi Lâm tế Tổ đạo (vì lấy hai chữ đầu của bài kệ) do Tổ Định, thuộc thế hệ thứ 22, xuất bài kệ: Tổ đạo giới định tông. Phương quảng chứng viên thông, hành siêu minh thiệt tế…”. Sau này các vị tổ thuộc dòng đạo Bổn Nguyên đều lấy bài kệ truyền thừa này làm pháp hiệu1, như ngài Nguyên Thiều có pháp hiệu là Siêu Bạch; Thành Đẳng có pháp hiệu là Minh Lượng…

     Có công đầu trong việc truyền bá Phật giáo vào Đàng Trong là ngài Nguyên Thiều, thuộc phái Lâm tế, dòng đạo Bổn Nguyên. Tổ đình của dòng phái này đầu tiên ở Bình Định chính là chùa Thập Tháp. Tiếp nối dòng này có Minh Lượng Thành Đẳng (đời thứ 34) khai sơn chùa Vạn Đức ở Hội An, sau này phát triển mạnh ở Gia Định là chùa Giác Lâm. Chùa được xây dựng từ năm 1744, thuộc quận Tân Bình ngày nay, là tổ đình, ngôi chùa xưa nhất của thành phố Hồ Chí Minh, cũng có vị tổ khai sơn đầu tiên là đại sư Tịnh Hải2, có thể ngài là người Trung Quốc, vì chùa do người Minh Hương tên Lý Thụy Long quyên tiền xây dựng.

     Dòng Trí Huệ do Trí Thắng Bích Dung xuất bài kệ, phổ biến trong người Hoa hiện nay, được truyền thừa theo bài kệ: “ Trí huệ thanh tịnh, Đạo đức viên minh, Chơn như tánh hải…” đã hiện diện trong chùa Viên Giác, nay thuộc tỉnh Bến Tre. Dòng kệ này đã lưu hành trong các thiền sư Trung Hoa, cho thấy nó đã có mặt sớm ở Nam bộ.

     Dòng Tào Động do hòa thượng Thạch Liêm truyền sang, đã phát triển vào cuối thế kỷ 17. Trong một đại giới đàn diễn ra tại Thuận Hóa vào năm 1695, hòa thượng đã làm lễ quy y cho 1.400 người và ở Hội An cho 300 người. Thiền sư Hưng Liên, đệ tử của hòa thượng, từ Trung Quốc sang Đàng Trong vào năm 1677, đã được chúa Nguyễn Phúc Tần phong quốc sư. Ở Nam bộ, dòng này phổ biến trong cộng đồng người Hoa, theo bài kệ 40 chữ của thiền sư Tuệ Kinh, người huyện Thọ Xương, tỉnh Giang Tây nên còn gọi Thọ Xương pháp phái: “Tuệ nguyên đạo đại hưng, Pháp giới nhất đỉnh tân..”

     Dòng Chúc Thánh do thiền sư Minh Hải Pháp Bảo xuất bài kệ truyền thừa gồm 8 câu (4 câu đầu dùng đặt pháp danh; 4 câu sau dùng đặt pháp tự): Minh thiệt pháp toàn chương, ấn chơn như thị đồng…” đã phổ biến ở Hội An, tổ đình là chùa Chúc Thánh. Ngoài ra, còn một bài kệ khác cũng do Minh Hải Pháp Bảo xướng xuất, gồm 24 câu, phổ biến ở Bình Định. Dòng Chúc Thánh với các thiền sư người Hoa như Thiệt Diệu, Thiệt Thọ… đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người Hoa, với trung tâm là tổ đình Chúc Thánh, trong khi các thiền sư Thiệt Dinh, Thiệt Đạo… với trung tâm là chùa Phước Lâm, đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng trong cộng đồng người Việt.

     Cuối thế kỷ 18, ba ngôi chùa thuộc dòng Chúc Thánh phát triển mạnh ở Nam bộ ngày nay là sắc tứ Tập Phước ở Gia Định, Thiên Tôn và Hội Khánh ở Bình Dương

     Dòng Liễu Quán do thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán xuất bài kệ Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng…”. Thiền sư là đệ tử của Minh Hoằng Tử Dung người Quảng Đông. Như vậy, chính từ thế hệ của Liễu Quán, thuộc đời thứ 35, đã chuyển sang người Việt, và là một dòng phái duy nhất trong số các dòng phái lưu hành giai đoạn này do người Việt xuất bài kệ. Dòng này đã phát triển mạnh ở Thuận Hóa với tổ đình Thiên Tôn. ở Nam bộ, dòng Liễu Quán phát triển tại nhiều tỉnh, thông qua các chùa như Linh Sơn Tiên Thạch tự, Phước Lưu, Phước Huệ (tỉnh Tây Ninh), Phước Long (tỉnh Tiền Giang), Long Triều (huyện Bình Chánh Tp. HCM), Đức Lâm (quận Tân Bình Tp.HCM)…

     Qua các dòng phái cùng sự hiện diện của các thiền sư Trung Hoa, những ngôi chùa ở Đàng Trong đã dần được thành lập, đánh dấu bước phát triển của Phật giáo Đàng Trong, tuy rằng giai đoạn đầu, sinh họat Phật giáo bị gián đoạn vì những thiền sư đến và đi, như đại sư Bổn Kiểu Khoáng Viên, như hòa thượng Thạch Liêm… Phải đến giai đoạn của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, Phật giáo Đàng Trong mới được khởi sắc hơn. Thiền sư đã đặt tên ngôi chùa do mình thiết lập là chùa Chúc Thánh, ngụ ý chúc cho thánh quân thọ lâu muôn tuổi để trị vì thiên hạ, ngoài ra còn ẩn chứa lý đạo bởi lẽ, giai đoạn tổ Minh Hải qua Đàng Trong là giai đoạn các chúa Nguyễn anh minh đang trị vì và Đàng Trong đang thời hưng thịnh. Đồng thời, các chúa Nguyễn là những vị nhiệt tâm hộ trì Phật giáo. Họ chính là những vị hộ pháp đắc lực cho chư tăng trong sự nghiệp truyền bá chánh pháp () Qua ý nghĩa hai chữ Chúc Thánh, chúng ta thấy được nơi đây có sự kết hợp hai yếu tố Đạo pháp và Dân tộc1.

     Nhà sử học Li Tana cũng nhận xét Trong tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn cảm thấy cần phải đưa ra một cái gì đó khác với tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các di dân người Việt về mặt tinh thần và tâm lý. Không thể sử dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình. Tuy nhiên, họ Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền thống của người Việt ở phía Bắc. Trong những hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại Thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ Nguyễn. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và mặt khác làm lắng động các mối lo âu của người di dân mà không đặt lại vấn đề về tính hợp pháp của những người cai trị2.

     Giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh, với sông Gianh làm ranh giới, các chúa đã sử dụng các người gốc nhà Minh này để khai khẩn và sử dụng như những đạo tiền quân, vừa khai khẩn vừa chống chọi với Chân Lạp. Do đó, sự thông thương giữa Trung Quốc và Đại Việt vào thời bấy giờ đã trở nên cấp bách và cần thiết, dù rằng đường bộ gặp sự cách trở vì thế lực của Trịnh và Lê ở Đàng Ngoài. Nhưng vì thế mà cảng Hội An đã trở thành một thương cảng quốc tế tấp nập để thông thương bằng đường biển với Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Dương, ấn Độ, v.v Thế lực của các chúa Trịnh đã làm lu mờ vai trò của vua Lê đối với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nho giáo không còn đủ sức cứu giúp nhà Lê. Nho giáo suy đồi, nên nhu cầu Phật giáo càng ngày càng quan trọng. Trong bối cảnh luồng sóng thông thương từ Trung Quốc và Nhật Bản vào Đại Việt, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) cũng theo vết chân di dân đó bành trướng đến miền trung nước Đại Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi: “…sai người qua Tàu mua Kinh, Luật và Luận hơn 1000 quyển…”. Đây cũng là kết quả rõ ràng nhất về việc Phật giáo Đại thừa bành trướng vào Đàng Trong, sau khi việc sư Đại Sán được mời đến Thuận Hóa và tạm trú một thời gian ở chùa Thiên Mụ1.

     Các chúa Nguyễn đã tạo nhiều thuận lợi cho Phật giáo Đàng Trong phát triển, thông qua sự du nhập trực tiếp của các thiền sư Trung Hoa vào Trung và Nam bộ. Điều này cũng góp phần chứng minh cho ảnh hưởng nhạt dần của các ngôi chùa do thiền sư Trung Hoa đặt nền móng ở phía Bắc, trong khi hiện nay, khắp Nam bộ vẫn còn khá nhiều ngôi chùa do người Trung Hoa xây dựng, vẫn đang tiếp tục hoạt động thông qua dòng phái Lâm Tế, Tào Động và một số rất ít thuộc phái Vân Môn. Như vậy, đã có 3 trong 5 phái (ngũ gia tông phái) phổ biến tại Trung Quốc đã du nhập và phát triển ở Đàng Trong.

     “Dưới thời chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn, với định chế chùa chúa, chùa vua xuất hiện, giới tăng lữ chịu sự chi phối khá chặt chẽ của nhà cầm quyền. Đặc biệt là vị trụ trì các chùa lớn (Tăng cang) đều do triều đình bổ nhiệm qua sắc chỉ của vua. Tính cách quần chúng của Phật giáo nước ta do đó chưa có gì rõ rệt trong suốt thế kỷ 18. Có lẽ phải đợi tới năm 1849, khi Phật Thầy Tây An (Đoàn Văn Huyên) khai sáng giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương tại Long Xuyên, quần chúng mới thực sự là đối tượng chính của việc truyền bá Phật pháp. Rõ rệt hơn vào đầu thập niên 1920, khi phong trào chấn hưng Phật giáo khởi động, giới cư sĩ bắt đầu góp phần tích cực vào việc hộ pháp và hoằng pháp, tương quan giữa quần chúng và Phật giáo mới trở thành trong sáng, lành mạnh, tích cực 2.

2. Thời triều Nguyễn

     Có ý kiến cho rằng chính sách triều Nguyễn qua các giai đoạn, nhìn chung là hạn chế sự phát triển của Phật giáo, thế nhưg phải chăng điều đó hoàn toàn chỉ xuất phát từ tư tưởng bài xích các tôn giáo khác ngoài đạo Nho trong một bối cảnh xã hội đầy rẫy phức tạp, đạo đức suy đồi, tăng chúng sa sút về giáo lý, một số người trốn bắt lính, trốn lao dịch mà vào chùa, và nhất là đất nước vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh, dân chúng đói kém, khổ sở? Gia Long đã sai các đình thần xét hết các chùa trong hạt, từ hoà thượng cho đến đạo đồng phải ghi hết số người vào sổ để dâng, rồi lại sai bộ truyền bảo: “Phàm tăng đồ tuổi từ 50 trở lên thì vẫn miễn lao dịch, chưa đến 50 tuổi thì phải chịu lao dịch như dân, kẻ nào dám trốn tránh thì bắt tội1 () từ nay về sau chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới và tô tượng, đúc chuông, đàn chay, hội chùa hết thảy đều cấm. Sư sãi có kẻ chân tu thì lý trưởng sở tại phải khai rõ số2.

     Nắm lại số chân tu (thi sư tăng, kiểm tra giáo lý), tạo điều kiện cho số này, dù ít ỏi, tiếp tục con đường đạo pháp là việc làm hợp lý và điều đó phần nào giúp làm sáng tỏ chánh pháp nhà Phật, chứ chưa phải là hành động bài xích. Cho nên điều dễ hiểu là dù có lệnh nắm lại số tăng đồ, cấm việc xây chùa, đúc tượng, nhưng trên thực tế tất cả những hoạt động đó như một sự gạn lọc, ngày càng làm cho sinh hoạt Phật giáo đi vào nề nếp và lệnh cấm đó cũng không ngăn cản được việc hình thành nhiều ngôi chùa mới.

     Dưới triều Nguyễn, môt hệ thống chùa tháp được trùng tu và xây mới. Ngoài Bắc có các chùa Dâu, Bút Tháp, Phật Tích, Keo… được phục chế, sửa chữa. Năm Gia Long thứ 14 (1815), vua ban sắc chỉ trùng tu chùa Thiên Mụ, triệu Mật Hoằng về kinh (1804) cấp chức Tăng Cang, sau đó sắc về làm trụ trì chùa Quốc Ân (Huế). Ngoài ra, nhiều chùa khác ở miền Trung và miền Nam cũng được sắc tứ như chùa Tam Bảo (Rạch Giá), Tam Bảo (Hà Tiên), Kim Chương (Thiên Tr-ờng), Tập Phước, Bảo An, Long Huê, Trường Thọ ở Gò Vấp. Sự quan tâm này xuất phát từ việc trả ơn cho các thiền sư của nhiều ngôi chùa trước đây đã đón tiếp, che dấu Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu Tây Sơn. Sử sách, hoành phi, câu đối tại các chùa này hiện nay vẫn còn là những chứng tích sinh động về sự quan tâm đặc biệt ấy.

     Chỉ tính riêng vùng đất Gia Định, số chùa được tu tạo và sắc tứ nổi tiếng có hơn 7 ngôi. Đặc biệt với chùa Khải Tường thôn Hoạt Lột, huyện Bình Dương trước kia (nay là bảo tàng Chứng tích chiến tranh, thuộc đường Võ Văn Tần) được xây cất từ trước, sau đó vua Gia Long kiến tạo để kỷ niệm nơi sinh hoàng tử Đởm (Minh Mạng). Hiện nay, tượng Phật chính trong chùa còn được lưu giữ tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn có chùa Từ Ân năm 1802 được Hiếu Khương hoàng hậu ban sắc chỉ cho làm chùa công. Một số chùa mới dựng lên như chùa Tôn Thạnh (còn gọi chùa Ông Ngộ ở Cần Giuộc) do sư Viên Ngộ lập năm 1808, chùa Hưng Long (đường Ngô Gia Tự) do hoà thượng Phước An lập năm 17943, chùa Linh Thứu ở Mỹ Tho, năm 1811 vua ngự tứ (đây là chùa do vua kỷ niệm để nhớ lại nơi trốn Tây Sơn trước kia), chùa Bửu Lâm ở Định Tường do bà Nguyễn Thị Đạt xây năm 1803, chùa Thiên Phước ở Định Tường do người ở xã tên Ban Văn Thiên xuất tiền xây cất (1803)…

     Dưới triều Gia Long, nhiều tăng sĩ ở phía Nam đã được mời ra kinh đô giảng đạo như hòa thượng Liên Hoa, Mật Hoằng, Hải Tịnh. Thiền sư Hải Tịnh đã được phong tăng cang, được ban áo, mão, hia, được ban tặng giá võng khi trở về. Giá võng này hiện được lưu giữ tại chùa Giác Lâm (quận Tân Bình TP HCM). Điều này cũng cho thấy Phật giáo ở Nam bộ có mối giao lưu và ảnh hưởng đến Phật giáo Trung bộ.

     Dưới triều Minh Mạng, việc cải tổ và chấn chỉnh trong sinh hoạt Phật giáo rõ nét nhất là việc cấp độ điệp . Việc này do bộ Lễ thi hành. Cũng giai đoạn này việc phân định chức sắc cho tăng sĩ được thực hiện rõ ràng hơn. Qua việc cấp độ điệp, dưới triều Minh Mạng hình thành thêm môt chức sắc mới cho tăng sĩ là chức Tăng Cang1. Đàn chay cũng được dựng lên và kéo dài nhiều ngày.

      Đời vua Thiệu Trị, vua cũng ban sắc chỉ xây tháp 7 tầng chùa Thiên Mụ2, sắc chỉ lập chùa Diệu Đế (Huế). Trước kia nơi đây là phủ của ông, sau khi lên ngôi, đổi phủ thành chùa. Thiệu Trị còn làm thơ ca tụng cảnh chùa, Đại Nam Nhất thống chí có ghi: “ Năm Thiệu Trị thứ ba, tập thơ thánh chế vịnh 20 cảnh thần kinh, có một bài đầu đề là Giác Hoàng phạn ngữ khắc vào bia và dựng bia ở phía Đông của chùa” (tập 1, 1969, tr.71).

     Đời Tự Đức, chùa được sắc chỉ khá nhiều, thành chùa công như Thiên Mụ, Giác Hoàng, Thánh Duyên.. và cấp bằng sắc cho các chùa công. Ngoài ra, vua còn ban sắc chỉ cho các chùa được cấp công điền (cho chùa công) như chùa Khải Tường (Sài Gòn), Tam Thai và ứng Chân (Quảng Nam) Thiên Mụ, Linh Hựu…3.

     Bên cạnh một số chủ trương chính sách của triều Nguyễn áp dụng cho Phật giáo như cấm dân xây chùa, đúc tượng, nắm lại số tăng sĩ, đưa vào lao động, sắc tứ chùa, sắc chỉ các chùa công, cấp độ điệp, định chức sắc cho chư tăng, cấp công điền cho chùa… Đại Nam Thực lục chính biên còn ghi lại một quan niệm của triều Nguyễn (Gia Long) về giáo lý Phật giáo như sau: “ Người thờ Phật cốt để cầu phúc báo, sách nhà Phật nói: Có duyên Phật độ, không duyên Phật chẳng độ (sách truyện nói): Thờ cha mẹ chẳng ra gì ăn chay niệm Phật cũng vô ích. Trung với vua đến thế dẫu không cúng Phật cũng không sao. Như thế người có duyên cần gì phải Phật độ, mà người không duyên Phật độ làm sao được 4. Qua quan niệm này, có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn đã tiến hành phê phán Phật giáo nhằm đánh đổ tôn giáo này từ mặt giáo lý5.

     Thực ra, nhìn lại quá trình nhà Nguyễn áp dụng các chính sách đối với Phật giáo, quá trình đó xuyên suốt các đời vua dưới triều Nguyễn, cho thấy hoạt động này chỉ là nhằm chấn chỉnh, đặc biệt dưới hai triều Gia Long và Tự Đức sự chấn chỉnh có nghiệm nhặt hơn, bởi dưới triều Gia Long trật tự kỷ c-ương đòi hỏi phải nhanh chóng ổn định xã hội; và thời vua Tự Đức, triều đình suy yếu, lực lượng chống đối ngày một nhiều, thế phải quay về độc tôn Nho để cũng cố địa vị. Ngược lại dưới đời Minh Mạng và Thiệu Trị, xã hội tương đối ổn định hơn. Minh Mạng đã nói : “ Trẫm đối với đạo Phật, cái ý không khen không chê…”1.

     Mặt khác, có thể thấy việc cải tổ và chấn chỉnh của chính nhà Nguyễn đã đem lại cho Phật giáo một bộ mặt mới, phản ánh rõ nét một cơ cấu đẳng cấp của xã hội phong kiến qua ngôi chùa. Nhà vua đã muốn sở hữu cả những cơ sở thuộc về phần hồn của dân chúng. Vua muốn phân biệt rạch ròi: chùa công là chùa của vua, có sắc tứ, dành cho hoàng hậu và công chúa lui tới, lập đàn chay cúng tế linh đình hàng tháng. Ngoài chùa công còn xây chùa nhỏ trong nhà để tầng lớp này có thể gần gũi Phật hơn. Và một loại chùa do dân lập, loại chùa đó, khi lên ngôi, với quyền hành vua là thiên tửđã ra lệnh cấm đoán – nhưng thực tế chỉ hạn chế phần nào việc lập chùa của dân chúng.

     Trong khi những hoạt động Phật giáo mang màu sắc cung đình diễn ra bằng nhiều hình thức, bằng việc hạn chế sự phát triển của Phật giáo trong dân gian qua các chiếu, dụ… thì trong nhân dân, Phật giáo lại được sống ở một môi trường hoàn toàn khác. Phải nói rằng, từ ngay trong bản thân Phật giáo, sức sống khế lý, khế cơ đã có sẵn bởi vì khi vào Việt Nam, Phật giáo luôn gắn với dân tộc như máu với thịt, như nước thấm vào đất. Phật giáo đã thu hút được những người dân cùng khổ, vì loạn lạc chiến tranh, vì mất mùa đói kém. Người dân đến với đạo Phật vì Phật giáo là đạo cứu khổ, cứu nạn, là niềm an ủi tinh thần của họ trong cảnh oan trái. Cho nên không phải ngẫu nhiên trong bối cảnh của triều Nguyễn, một dòng văn học Phật giáo bình dân ra đời, với tác phẩm nổi tiếng “Quan Âm Thị Kính”. Quan Âm Thị Kính là một tập truyện thơ, viết bằng văn vần lục bát, gồm 786 câu, ra đời vào thời Nguyễn. Từ trước, chưa ai biết được tác giả, nên xếp vào loại khuyết danh. Gần đây theo những phát hiện tư liệu mới, các nhà nghiên cứu đã truy tìm lai lịch của tác phẩm này là do nhà sư Nguyễn Cấp viết, vào cuối đời ông. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi thì Nguyễn Cấp trước khi đi tu đã trải qua một cuộc đời đầy thăng trầm gió bụi với nhiều nỗi đoạn trường, oan khuất do chế độ phong kiến hà khắc nhà Nguyễn gây ra. Tác phẩm truyện thơ Quan Âm Thị Kính (còn có tên là Quan Âm tân truyện), có bản in cổ nhất hiện còn tìm được là vào năm 1868. Ngoài Quan Âm Thị Kính, ông còn sáng tác một tác phẩm thấm nhuần màu sắc Phật giáo là “ Tam tự Kinh quốc âm ca”.

     Có thể thấy, sự ra đời của tác phẩm ở vào cuối những năm 60 của thế kỷ XIX là kết quả, sự hun đúc của một đời người, đại biểu cho tầng lớp bị áp bức, oan khuất trong suốt mấy chục năm qua dưới triều Nguyễn. Người bình dân Việt Nam đã tìm thấy ở đây một phần cuộc đời của chính họ.

     Đối với các chiếu, dụ cấm chỉ lập chùa, tô tượng, đàn chay, tế lễ, có lẽ cũng chỉ có tác dụng tạm thời và ít ỏi ở một phạm vi hạn hẹp nào đó. Một số chùa do dân lập ra ngày nay còn được nhắc đến, tuy nhiên do được xây dựng bằng vật liệu thô sơ, ít kiên cố nên chỉ còn lại một số rất ít so với thực tế trước kia. Trong khi các chùa do vua lập hoặc được vua trùng tu, đa số còn được sử sách ghi lại và được xây dựng kiên cố hơn, nên còn tồn tại khá lâu dài trong lịch sử. Do đó, khi nói đến những hoạt động Phật giáo của người dân dưới triều Nguyễn, không thể quên những hoạt động tín ngưỡng của đại đa số nhân dân lao động và cần thấy rằng đó mới là những hoạt động chủ yếu. Người dân đi chùa ngày sóc, vọng, âm thầm ăn chay niệm Phật tại gia với một mong ước, một niềm tin giúp họ sống, vượt qua mọi thử thách, cam go và gian khó. Đặc biệt trong quá trình vào khai phá đồng bằng sông Cửu Long, chính là quá trình chùa am mọc lên hàng loạt. Người dân đi đến đâu là có chùa am đến đó. Ở vùng đất mới, thiên nhiên khắc nghiệt với rừng rậm hoang du, đầy dã thú, họ dựng chùa để có nơi cầu an lúc còn sống và cầu siêu khi qua đời. Trong tình hình đó, một số chư tăng đã trở thành những thầy cúng đám thuần túy, ngày càng xa lạ với giáo lý cao xa trong kinh điển, chỉ biết đáp ứng nhu cầu thực tiễn trước mắt và có tiền để sống, nhờ vào các dịp cúng tế đó. Cho nên, có lẽ không hoàn toàn đúng khi cho rằng : “Đến đây, từ trên vua quan cho đến thứ dân, ai ai cũng an trí đạo Phật là ở sự cúng cấp, cầu đảo, chứ không biết gì khác nữa. Phần đông tăng đồ chỉ nghĩ đến danh vọng, chức tước, xin bằng tăng cang, trụ trì, sắc tứ. Một phương diện khác thì chỉ biết cúng cấp, cầu đảo, phù chú ( phù chú đã thành phù thủy hoá) làm tay sai cho các nhà vua, chúa, quan quyền phú hộ. Tinh thần Phật giáo đến đây hầu đã tuyệt diệt. Nên dù các triều vua vẫn tín ngưỡng, sùng phụng, làm chùa đúc tượng mà tinh thần Phật giáo vẫn suy1

     Tóm lại, có thể nói rằng, tiếp tục một tín ngưỡng đã có hàng nghìn năm và qua đó duy trì một truyền thống văn hoá Phật giáo mang màu sắc văn hoá Phật giáo Việt Nam thì về cơ bản, Phật giáo thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã chuyển tải được điều đó.

     Dưới thời các chúa Nguyễn, Phật giáo đã nhanh chóng xác lập sự hiện diện của mình qua ngôi chùa, qua các thiền sư; từ thiền sư Trung Hoa đã chuyển sang người Việt từ thế hệ truyền thừa kế tiếp. ở giai đoạn đầu, do các thiền sư đến và đi, không trụ lại lâu dài, nên sự phát triển có gián đoạn. Các dòng phái Phật giáo, đa số đều do thiền sư Trung Hoa xướng xuất bài kệ, chỉ có dòng Liễu Quán là của thiền sư Việt Nam. Dòng Chúc Thánh phổ biến mạnh ở miền Trung, nhưng ở Nam bộ, đa số chùa theo dòng Đạo Bổn Nguyên, vì tổ đình Giác Lâm đã là trung tâm hoằng pháp mạnh mẽ ở thế kỷ 18, đào tạo nhiều thế hệ đưa về trụ trì khắp các chùa ở Nam bộ.

     Phật giáo dưới triều Nguyễn nhuốm nhiều màu sắc không giống nhau và thậm chí khá khác biệt ở hai môi trường quan quyềndân dã.

     Phật giáo dưới triều Nguyễn để lại một số thành quả đáng ghi nhận về kiến trúc, mỹ thuật qua việc tạo dựng, trùng tu các ngôi chùa dưới thời này. Ở mỗi miền đã có được những đặc trưng riêng. Đường nét và kiến trúc đó đương nhiên đã xuất phát từ những nghệ nhân đầy tài năng và tấm lòng đến với Phật giáo, để lại trong tác phẩm của mình, gởi lại cho người sau sự rung cảm sâu xa. Từ đường nét kiến trúc cho đến sự bài trí bên trong ngôi chùa, đặc biệt là những ngôi chùa ở miền Nam, giai đoạn dưới triều Nguyễn quả đã có những đặc trưng riêng, từ những Phật điện vắng vẽ trước kia, nay đã có nhiều tượng hơn (tượng Tam Thế, Cửu Long, Tứ Thiên Vương, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan Âm, Ngọc Nữ, Kim Đồng…) Nếu như việc xuất hiện nhiều động đắp bằng đất (đó là hình ảnh của hang núi, mà mỗi hốc của hang đều được phân định rõ ràng vị trí cao thấp cho các vị Phật, Bồ Tát và Thiên thần… của các chùa ở phía Bắc như Chùa Láng Hà Nội, Chùa Thổ Hà – Hà Bắc thì ở miền Nam, đã có sự chuyển hóa, đơn giản hơn. Thập điện chỉ là hệ thống gồm 10 vị vua, được đặt đối xứng ở chính điện, mỗi bên 5 vị.

      Bên cạnh sự đổi mới về điện thờ, một hệ thống kinh sách cũng được sưu tập và khắc in. Có những người có ý thức chuyên làm việc này, có những ngôi chùa chuyên phụ trách việc khắc in và tàng trữ các ván in như chùa Đại Giác (Biên Hoà), Giác Lâm, Giác Viên ở Gia Định, Vạn An ở Đồng Tháp… Những kinh kệ, những giới luật, những phổ hệ, những truyền đăng, những kể hạnh… được in ra với khối lượng lớn. Vượt tất cả các triều đại trước đó, những kinh như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Dược Sư, Địa Tạng, Tam thiên Phật danh, Đại du dà… Những lục như Thiền uyển tập anh ngữ lục, Kế Đăng lục, Tam Tổ thực lục… đều được in ra trong thời kỳ này1. Chỉ tính riêng tại chùa Giác Lâm, một hệ thống kinh sách đã được đưa từ tổ đình Thập Tháp Di Đà (Bình Định) vào, một số lại được trùng khắc và tạng bản tại chùa như quyển Tông phái ký do Bổn Quả biên tập, nay vẫn còn lưu giữ tại chùa.

     Dưới triều Nguyễn, ở Nam bộ, chùa do dân lập phát huy được vai trò hoằng pháp trong người dân, đa số là chùa làng. Những ngôi chùa được sắc từ gắn liền với địa điểm được Nguyễn ánh trú ngụ trong thời gian lánh nạn Tây Sơn. Do nhu cầu của cư dân vùng đất mới cần thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi có người thân qua đời, nên Phật giáo Đàng Trong và dưới triều Nguyễn mang nét đặc thù, có sự hiện diện đông đảo của các ứng phú sư (thầy cúng đám) mà ít chú trọng vào giáo lý thâm sâu của đạo Phật.

     Dù rằng bên cạnh lễ cúng vẫn còn những bùa chú, bói toán, thậm chí cả đồng bóng nữa, nhưng những người bình dân đón nhận đạo Phật, đón nhận những tư tưởng vốn gần gũi nhưng sâu xa của Phật giáo như lòng từ bi, tính ăn hiền ở lành, lòng vị tha… Những tư tưởng đó thâm nhập vào họ, ít nhiều cũng đã góp phần đem lại cho xã hội triều Nguyễn một sự cân bằng nhất định. Những hoạt động Phật giáo của triều Nguyễn nhằm chấn chỉnh lại xã hội, cũng như cho chính bản thân Phật giáo là những việc làm tương đối tích cực, không xuất phát từ tư tưởng đả kích hay bài xích Phật giáo. Có thể nói rằng những thành quả mà Phật giáo dưới triều Nguyễn đạt được một phần xuất phát từ những chấn chỉnh đó. Nó đã góp phần vào việc hình thành một nền văn hóa Phật giáo của triều đại và làm cho triều đại đó khác biệt hẳn so với các triều đại trước. Tuy nhiên, có những điều cần được nhắc nhớ như một bài học về việc cũng cố và duy trì tinh thần chánh pháp của Phật giáo mà nếu thiếu nó thì tinh thần Phật giáo sẽ suy đồi. Đó là sự thiếu sót về đạo hạnh của tầng lớp tăng sĩ, sự xa rời giới luật và chánh pháp, không lấy tổ quốc và dân tộc làm lý tưởng hướng đến, mà dùng Phật giáo như một công cụ phục vụ cho thiểu số, của triều Nguyễn.

     Hơn lúc nào hết, tư tưởng chánh pháp của Phật giáo trong thời đại ngày nay cần thiết phải được khôi phục và củng cố vì thiếu nó, chất keo nối kết truyền thống văn hoá Việt Nam sẽ tan rã.

__________
1 Sách “Tông phái ký” (chữ Hán) ghi Bổn Quả, vì chữ Hán hai từ Quả Kiểu viết gần giống nhau. Hòa thượng Thanh Từ ghi Bổn Khao.

2 Thiện Niệm 1956. Sự tích Long Thiền tự.Tổ đình sơn môn Nam Việt. Giáo hội Lục Hòa Tăng Biên Hòa xuất bản. Tr.7.

1 Pháp hiệu là tên do vị thầy truyền pháp, dạy đạo đặt cho đệ tử.

2 Lý văn Hùng, Tào Tín Phu, Trần Hàng(?) Trì, Thôi Tiêu Nhiên 1948. Tây Đề niên giám. Bản chữ Hán. Tr. 25.

1 Thích Giải Nghiêm. Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của thiền phái Lâm tế Chúc Thánh tại Quảng Nam. http:www.quangduc.com

2 Li Tana 1999.Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18. Nguyễn Nghị dịch. Tp.HCM. Nxb Trẻ. Tr. 194-195.

1 Nguyễn Hữu Vinh, Hòa thượng Thạch Liêm, Chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ. Truy cập ngày 4/8/2008.

2 Trần Tri Khách. Dòng chảy Phật giáo Việt Nam. Truy cập ngày 4/8/2008.

1 Đại Nam thực lục chính biên, 1963, tập II, Nxb Sử học. Hà Nội. Tr. 289.

2 Đại Nam thực lục chính biên, 1963, tập III, Nxb Sử học. Hà Nội. Tr. 167.

3 Theo Vân Thanh, Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn của các giáo phái Phật giáo, trang 177, thì chùa được tạo năm Giáp Dần 1794, người trong làng tên Binh Yển quyên tiền để hòa thượng Phước An lập năm Gia Long thứ 2 (1803), nhưng theo Đại Nam Nhất Thống chí thì chùa được xây dựng từ năm 1794. Năm 1803 là năm trùng tu chùa, do hòa thượng Chánh Niệm tiến hành.

1 Các Hoà thượng được đổi lại là Tăng cang do việc sư Giác Ngộ là Hòa thượng, người đất Gia Định, là người tu trong hang núi, nơi có nhiều cọp dữ, nhưng ông không sợ hãi, ông chữa được bệnh cho dân nhờ cầu an mà khỏi. Vua phục tài, phong là Hoà thượng, do đó để phân biệt với các Hoà thượng khác, vua sắc chỉ đổi lại tăng cang cho các hoà thượng, ngụ ý tăng cang là chức thua hoà thượng một bậc.

2 Tháp Từ Nhơn, sau đổi là Phước Duyên bảo tháp.

3 Vân Thanh 1974. Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn của các giáo phái Phật giáo, tr. 181.

4 Đại Nam thực lục chính biên, tập IV. Nxb Sử học, Hà Nội, 1963, tr .166.

5 Nguyễn Tài Thư ( chủ biên ), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr 354.

1 Đại Nam thực lục chính biên, tập XXII, Nxb Khoa học xã hội, 1966, tr 156.

1 Thích Mật Thể, sách đã dẫn, tr 215-216.

1 Nguyễn Tài Thư ( chủ biên ) sách đã dẫn, tr. 364.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Đặc điểm Phật giáo Nam Bộ thời Nguyễn (Tác giả: TS. Trần Hồng Liên)