Dấu ấn tư tưởng phong thủy trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam
FENG SHUI CONCEPTS OF NARRATIVE PROSE IN VIETNAMESE MIDDLE AGE
Tác giả bài viết: TRẦN THỊ THANH NHỊ
(Trường Đại học Sư phạm Huế)
TÓM TẮT
Phong thuỷ là một loại kiến thức mà người ta dùng để xử lí và lựa chọn hoàn cảnh ăn ở, chủ yếu trên các phương diện: lựa chọn địa điểm, tức tìm một địa hình thoả mãn cả hai mặt tâm lí và sinh lí; xử lí về mặt hình thái trong cách bố trí, bao gồm lợi dụng và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, hướng nhà, vị trí, cao thấp to nhỏ, cửa ra vào, đường đi, nguồn cấp nước, thoát nước…; trên cơ sở nói trên, thêm vào một dấu hiệu, nhằm thoả mãn nhu cầu tâm lí tránh cái dữ, lấy cái lành cho con người. Những tư tưởng chủ đạo của phong thuỷ như: tàng phong đắc thuỷ, coi trọng hướng nam, di thể thụ âm… được văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam tiếp nhận. Sự ảnh hưởng này một mặt phản ánh sự tác động của Đạo giáo, văn hoá Trung Hoa vào trong văn học nước nhà nhưng mặt khác cũng thể hiện tinh thần tự cường văn hoá Việt (thông qua những tranh tài, đấu trí, đấu phép của các thầy địa lí, thần linh, người dân nước Nam và Bắc quốc).
Từ khoá: phong thuỷ, hướng nam, long mạch, tả thanh long, hữu bạch hổ.
ABSTRACT
Feng Shui is a concept that people use to Abstract handle situations and choose among accommodations, mostly following options: choosing locations where satisfy the psychological and physiological needs; handling the layout of morphological situation including using the advantage of natural circumstances, direction, location, doors, paths, water supply, drainage… Based on these elements and adding the psychological need, people can avoid the evils and take the good things. Some key ideas of Feng Shui are accepted by Vietnamese narrative prose such as “tang phong dac thuy”, high valued the South, “Di the thu am”… In addition, there was the impaction of Taoism and Chinese culture on Vietnamese narrative prose; however, they also showed the resilience of Vietnamese culture (through competitions, fighting of the geography teacher, gods, Vietnamese people and the China).
Keywords: Feng Shui, the South, layers of earth.
x
x x
1. Mở đầu
Dấu ấn của huyền học có một tầm ảnh hưởng không thể phủ nhận trong trong văn học trung đại Việt Nam. Trong đó nổi bật lên một số hiện tượng như bốc phệ, tướng số, tử vi, trạch cát và đặc biệt là phong thuỷ. Dấu ấn của phong thuỷ để lại trong tác phẩm thể hiện qua những mo tip truyện gắn với chuyện học hành thi cử, đỗ đạt, chuyện lên ngôi vua; thể hiện qua cách tác giả xây dựng nhân vật; thể hiện qua kết cấu tác phẩm cũng như kĩ thuật phục bút. Xưa nay những vấn đề trên ít nhiều được các nhà nghiên cứu có để tâm đến nhưng nghiên cứu, nhưng nhìn nhận phong thuỷ từ những lí thuyết chuyên ngành ảnh hưởng, thể hiện trong tác phẩm văn học thì chưa được đề cập đến. Vì thế, đây là một khoảng trống khoa học cần được nghiên cứu, bổ sung.
Phong thuỷ: Phong thuỷ theo Từ Hải viết: “Phong thuỷ còn gọi là Kham Dư − một loại mê tín ở nước Trung Quốc cũ cho rằng hình thế, hướng gió, dòng chảy xung quanh nhà ở hoặc mồ mả, có thể đem đến hoạ, phúc cho người ở hoặc người chôn, cũng chỉ cách xem nhà ở, phần mộ” [1, tr.13]. Trong cuốn Nguồn gốc phong thuỷ, GS. Phan Cốc Tây trong lời tựa viết: “Nội dung chính của phong thuỷ là một loại học vấn mà người ta dùng để xử lí và lựa chọn hoàn cảnh ăn ở, trong đó có nhà ở, cung thất, chùa chiền, lăng mộ, thôn xóm, thành thị; lăng mộ thì gọi là âm trạch, còn lại đều gọi là dương trạch. Phong thuỷ về hoàn cảnh ăn ở, ảnh hưởng chủ yếu trên ba mặt: Một, sự lựa chọn địa điểm, tức tìm một địa hình thoả mãn cả hai mặt tâm lí và sinh lí; Hai, xử lí về mặt hình thái trong cách bố trí, bao gồm lợi dụng và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, hướng nhà, vị trí, cao thấp to nhỏ, cửa ra vào, đường đi, nguồn cấp nước, thoát nước…; Ba, trên cơ sở nói trên, thêm vào một dấu hiệu, nhằm thoả mãn nhu cầu tâm lí tránh cái dữ, lấy cái lành cho con người ” [1, tr.13 − 14].
Nhiều tài liệu sử học cho thấy, các bậc trí thức đại sĩ Việt Nam từ lâu đã có ý thức tìm kiếm, sưu tầm những tài liệu phong thuỷ. Có thể viện dẫn ra đoàn cống sứ năm 1760 − 1762 do Chánh sứ Trần Huy Mật, Phó sứ Lê Quý Đôn, Trịnh Xuân Thụ dẫn đầu, khi hoàn thành nhiệm vụ trở về đã mang theo một số sách mua ở Trung Quốc, trong đó có sách về huyền học. Trần Huy Mật mua Tử vi đẩu số, Địa lý tuyết tâm (TTTN nhấn mạnh); Lê Quý Đôn mua Tử vi đẩu số, Mai hoa Dịch số… Tư tưởng, lí thuyết, tư duy về phong thuỷ không chỉ được áp dụng trong đời sống thực, được lịch sử ghi lại trong nhiều bộ sử mà còn thể hiện rất rõ trong nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Điều này chứng tỏ các nhà văn trung đại có một vốn hiểu biết nhất định (thậm chí là tinh thông) về phong thuỷ.
2. Nội dung
2.1. Một số thuật, thuyết phong thuỷ cơ bản thể hiện trong văn xuôi tự sự trung đại
2.1.1. Thuyết di thể thụ âm
Thuyết di thể thụ âm cho rằng: cơ thể con người có được từ cha mẹ, thi hài đắc khí, di thể sẽ thụ âm, giữa người chết đi và người sống có “tình khí tương cảm”. Đất tốt thì thần linh an, thần linh an thì con cháu thịnh vượng. Trong Truyện tể tướng xã Mộ Trạch, Vũ Duy Chí được làm tể tướng theo quan niệm phong thuỷ là do Tằng tổ được chôn nơi đất tốt: Xét chỗ đất ấy, phía trước có “ấn phù thuỷ điện” (cái ấn nổi trên mặt nước) làm tiền án, phía sau có “đan phượng hàm thư” (chim phượng đỏ ngậm thư) làm hậu chẩm, ngồi hướng Ất trông sang hướng Tân. Các nhà phong thuỷ đều cho là ngôi đất “thiên táng” rất đẹp, con cháu tất có người làm đến công hầu [2, tr.467]. Còn ông Kinh Lược làm nên quan lớn đỗ cao vinh hiển, các thầy địa lí đều bảo nhờ có mộ cụ thầy nho ở chợ Nghệ phát về đường văn, cực kì sang quý (Chuyện ông Kinh Lược) [3, tr.900]. Trong khoảng niên hiệu Thịnh Đức và Vĩnh Thọ đời Lê Thần Tông, họ Vũ khoa nào cũng có người đỗ tiến sĩ: Khoa Bính Thân đỗ ba người, khoa Kỉ Hợi đỗ bốn người, còn các khoa khác, khoa thì đỗ hai người, khoa thì đỗ một người; đồng thời, có cùng ba mươi người cùng làm quan trong triều. Điều này được lí giải là do ông tổ họ Vũ thấy xã Mộ Trạch có phong thuỷ tốt, bèn đến cư trú ở đó. Cháu bảy đời của Cao Biền tên là Lư sang nước ta xem xét những kiểu đất quý. Khi đến cổng làng Mộ Trạch, ông chỉ tay và bảo rằng: Đây là tổ tiến sĩ. Việc nhờ phúc ấm tổ tiên truyền lại được thể hiện rõ trong bài tán của thám hoa Vũ Thạnh mừng Đình Ân: Mạch đạo diên trường từ tám trăm năm về trước/ Danh công thạc vọng người dời đều trọng/ Từ Cao tổ, tằng tổ đến cháu vân,cháu nhĩ đời nào cũng có người huân hiền kế tiếp/ Tước lộc khoa danh nhờ có phúc ấm tổ tiên nên được vẻ vang/ Tám đời họ Tiêu danh tiếng chưa hết/ Ba cây hòe họ Vương dấu vết hãy còn thơm (Truyện họ Vũ ở Mộ Trạch) [3, tr.458]. Thuyết Di thể thụ âm nói riêng, phong thuỷ nói chung bắt nguồn từ việc sùng bái linh hồn. Người xưa quan niệm khi chết thì hồn khí về trời, thể phách về với đất, linh hồn là bất tử và tiếp tục tác động đến cuộc sống con người trần gian.
2.1.2. Nguyên tắc cơ bản của phong thuỷ táng địa
Rồng đến có thế, phát mạch từ xa, việc lựa chọn táng địa đầu tiên phải xem đến thế của sơn mạch trên phạm vi vĩ mô. Trong phong thuỷ gọi núi đến từ xa là thế, núi ở nơi gần là hình, trước tiên bàn về thế, sau đó bàn về hình, hình do thế quyết định. Các nhà phong thuỷ cho rằng thế lai long uốn lượn uyển chuyển là rất tốt cho sự hình thành sinh khí to lớn cho nên trong Táng thư cũng có ghi “địa thế nguyên mạch, sơn thế nguyên cốt, uốn lượn Đông Tây hoặc là Bắc Nam, ngàn thước là thế, trăm thước là hình. Thế đến hình dừng, là nơi toàn khí. Đất toàn khí an táng phù hợp” [1]. Thế của rồng thường có quan hệ với phát mạch xa xôi, đều ở những dãy núi hội tụ, cho nên mới gọi là lai long thiên lí, ý nói huyệt vị phong thuỷ thường có quan hệ với đầu nguồn của long mạch, chỉ có sơn mạch to lớn mới có thể hình thành chi long dài rộng. Trong Hoan Châu kí, nhân vật cụ già kì lạ chính là một thầy phong thuỷ cự phách tìm huyệt cho nhà Nguyễn Cảnh: “xăm xăm đi vào núi Mộng Sơn, xem kĩ địa hình ngôi mộ tổ của Nguyễn Cảnh, thấy có kiểu “từ lâu hạ điện”, bèn lần theo long mạch tìm đến xã Hoa Lâm, thấy hòn Ngọc Sơn đỉnh cao to khí thế” [4, tr.50]. Áp dụng đúng nguyên tắc của phong thuỷ táng địa, nên ông cụ nhanh chóng phát hiện ở vùng có một ngôi đất quý “tân long chuyển tốn nhập tả hữu, cước kết kim tinh khai thuỷ huyệt”, phía trước thì phân phía sau thì hợp, bên trái thì rồng bên phải thì hổ, có vẻ như trương cờ mở lọng vậy. Mặt trước có sông lớn chảy qua, dòng lượn quanh co, nước trong leo lẻo. Đây đúng là đất phát “tam công, võ tướng“, một long mạch tuyệt vời”. Quả nhiên, sau này nhà Cảnh Thị con cháu phát công khanh.
2.1.3. Thuyết tàng phong đắc thuỷ
“Khi gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng. Khí của cổ nhân không tan, có đi có dừng gọi là phong thuỷ“, thuyết này cho rằng “phong” và “thuỷ” là nhân tố quan trọng để giữ gìn sinh khí, vì vậy vừa phải tàng phong lại vừa phải đắc thuỷ. Và phép phong thuỷ coi đắc thuỷ là trên, tàng phong là thứ, vì vậy thuỷ trở thành nhân tố quan trọng nhất để giữ gìn môi trường sinh thái có sinh khí. Sự kiện Đỗ Uông vào thi đình, đỗ Bảng nhãn, làm quan nhà Mạc đến chức Thị Lang, đời Lê Trung Hưng, ông lại quay về với nhà Lê coi giữ việc giấy từ ngoại giao được lí giải là nhờ ngôi mộ phát tích: Ngôi mộ ở một khu đất lớn thuỷ hình vòng quanh vài mươi mẫu, trên vùng đất ấy, chỗ lồi, chỗ lõm, chỗ mở, chỗ khép, hình thế cũng đẹp, chính giữa nổi lên một gò kim hình, chừng độ hơn mười bước, có một ngòi nước hình chữ nhất chảy ngang, rồi chảy vòng lại hình như chữ ất. Đây chính là kiểu đất Cao vương từng nói: thuỷ loan ấp tự (nước chảy vòng hình chữ Ất) (Chuyện Đỗ Uông) [3, tr.86]. Chuyện Quang Thục hoàng thái hậu sinh được vương tử là nhờ thuở còn là người thường, ngụ tại phía nam nhà Quốc Tử Giám. Nơi đây nước hồ bao bọc xung quanh nhà, các thầy địa lí cho là có khí thiên tử (Thánh Tông hoàng đế) [3, tr.268]. Thuận Nghĩa và Chiêu Vũ sai thủ hạp tên là Trí về vương đình dâng lên chúa Hiền vương sách bàn về thiên thời, địa lợi, nhân hoà, trong đó, khi xét địa lợi đã phân tích rất kĩ về mặt phong thuỷ, vận dụng lí thuyết tàng phong đắc thuỷ tạo nên vượng khí cho địa bàn lựa chọn: “xem trên bản đồ địa dư thì xứ Nghệ An long mạch khởi từ Châu Quỳ đổ xuống, chuyển vào châu Bố Chính rồi lại chuyển ra miền Kì Hoa, Thạch Hà, đến huyện Thiên Lộc vượt khởi lên thành dãy Hồng Lĩnh, làm thành một thế đất chung đúc vượng khí, đúng là nơi định cục của bậc đế vương mới dấy. Về đường thuỷ thì có thể thông với hai cửa biển cổ họng, đường bộ có thể chứa được đội quân mười vạn người ngựa. Xin cho quân ra đóng dinh tại đó làm thành thế trận “trường xà”, lấy La Sơn làm tả giác, lấy Nghi Xuân làm hữu giác, lấy đồn Khu Độc làm tiên phong, dàn thành thế trận đóng giữ, chờ cho quân địch tự tan rã. Lại thấy ở miền Hương Sơn long mạch như tám đầu rồng chầu về cung Tử vi, thanh long thì phục ở núi Thiên Nhẫn, bạch hổ liền với bờ sông. Như thế là Thất diệu, Tam tinh, Long thuỷ đều giao hội tại minh đường, lấy Hồng Lĩnh chín mươi chín ngọn cao làm án ngự, trấn giữ phía ngoài cho thế thế đất đẹp dấy nghiệp đế vương” (Nam triều công nghiệp diễn chí) [5, tr.432]. Thuyết này xuất phát từ sự tôn sùng gió và nước cổ đại.
2.1.4. Phong thuỷ coi trọng hướng
Quan niệm về phương vị trong phong thuỷ rất ít dùng Nam, Bắc, Đông, Tây để biểu thị mà đa số dùng trước, sau, trái, phải để biểu thị. Cách dùng tứ linh để biểu thị phương vị
đã xuất hiện rất sớm trong sách cổ thời Tiên Tần1 . Sách đề cập đến Thuyết phương vị: Nơi táng địa, thanh long ở bên trái, bạch hổ ở bên phải, chu tước ở đằng trước, huyền vũ ở đằng sau lấy tứ linh để đại diện cho bốn phương vị. Đương nhiên, tứ linh ở đây tượng trưng bởi thế núi. Có tứ linh toạ trấn, có cảm giác đối xứng sang trọng đã trở thành một loại khuôn mẫu cố hữu trong phong thuỷ, tức là các đỉnh núi hướng về huyền vũ phải cúi đầu, các núi ở hướng chu tước phải như nhảy múa hoạt bát, các núi ở hướng thanh long phải nhấp nhô liên tục, các núi ở hướng bạch hổ phải phủ phục mềm mại, như vậy thế núi mới là môi trường tốt. Sự thành đạt của con cháu dòng họ Nguyễn Cảnh là nhờ tổ tiên được táng vào huyệt có hướng tốt: Dù trướng che cao biếc/ long mạch xuất tốn, tân/ khanh tướng với công thần/ đời nối đời không đổi/ chỉ hiềm án cát rộng dạt trôi/ nên phải quê người danh mới rạng (ý nói long mạch kéo từ đông nam đến tây bắc) [4, tr.50]. Bản thân Thượng thư Nguyễn Văn Huy và con cháu ông đều đỗ đạt, hiển vinh hơn người là do mộ tổ tiên được táng vào huyệt phương vị đắc địa: Mô đất ngồi phương Cấn (Đông Bắc) trông phương Khôn (Tây Nam) (Truyện mộ tổ ở Vịnh Kiều) [2, tr.472]. Đền thờ Phạm Ngũ Lão làm ngay trên cái nền cũ của ông trông xuống ao, ở giữa ao có cái kim ấn nổi trên mặt nước, độ ngoài nửa dặm thì có cái giáo dài làm hộ vệ, sông Phù ủng là hổ thuỷ nghịch triều, các nhà phong thuỷ đều khen là nơi dương trạch tốt. Đời Lê trong làng Phù Ủng có một quan văn thần tên là Võ Vĩnh Tiến, tuổi trẻ đã làm nên khoa hoạn, những kì lão ở trong làng đều ghen ghét, việc gì cũng đè nén không cho dự, ông mới bàn với dân xoay miếu thần về hướng bắc, xong đâu đấy, lập đàn chiêu hồn, rồi nhảy xuống sông mà thề rằng: Làng này đã coi khinh khoa hoạn thì về sau không nên có nữa. Từ khi Võ công mất, học trò trong làng không mấy người đỗ đạt được nữa. Làng mới hối hận về chỗ xử tệ với ông quá. Khoảng năm Bính Ngọ, Đinh Mùi lại xoay miếu thần về hướng cũ, nhưng trong làng lại bị dịch tai hại, dân không được yên, đành lại phải để về hướng bắc (Phạm Ngũ Lão) [3, tr.83]. Miếu thần quay về hướng bắc trong quan niệm là hướng xấu đã ảnh hưởng đến khoa vận của cả làng.
2.2. Thế đất ảnh hưởng đến hình dáng, nghề nghiệp, hoạ phúc con người
Theo quan niệm phong thuỷ, thế đất ảnh hưởng rất lớn đến vận số, hoạ phúc cá nhân. Hoàng Phúc khi bị bắt nhận xét về vận mệnh của mình và của Nguyễn Trãi dựa trên thế mả của tổ tiên: “mả tổ nhà tôi có xá văn tinh, dù có gặp nạn cũng chỉ có trong trăm ngày mà thôi; không như mả nhà ông có vận tru diệt. Xét mả tổ nhà ông ở Nhị Khê, huyệt táng ở ruộng bằng phẳng, người thì cho rằng kiểu tướng quân mở cờ, người thì cho rằng kiểu tướng quân cụt đầu. Về hướng Mùi có cái gò Rùa, đuôi phản lại. Trong bản Kiềm kí, Hoàng Phúc nói rằng: “Nhị đệ mạch đoản, hoạ thảm tru di” chính là chủ vào đấy” (Ông Lê Trãi) [3, tr.203]. Quả nhiên, Hoàng Phúc sau đó được tha sớm, còn sau này Nguyễn Trãi mắc nạn chịu án tru di tam tộc.
Năng khiếu, nghề nghiệp cá nhân cũng là do phong thuỷ. Nhờ dương trạch nhà ở của Thám hoa Đinh Lưu cạnh núi Thần Đồng, núi này hình dáng giống quả cầu cho nên ông đá cầu rất giỏi (Thám hoa Đinh Lưu) [2, tr.581]. Còn Trâu Canh có chỗ ở: Chỗ ông ở phía trước có mấy mẫu ruộng cao hình giống chiếc bàn dao cắt thuốc, cho nên nổi tiếng về nghề làm thuốc (Chuyện Trâu Canh ở xã Tử Trầm) nên sau này được danh giá nhờ có công chữa bệnh cho vua [2, tr.562]. Vì thế, khi gặp hoạ có thể dùng phong thuỷ để cải tạo tình hình: Quang Bí ở Trung Quốc 18 năm, người nhà nhớ lời dặn của Hoàng Phúc: “Ngày trước, ta để tâm đến một ngôi đất phía tây làng… Ngôi đất ấy gối vào một cái khăn đội đầu, trông về một cái đai vàng, mặt trời và mặt trăng đỡ hai bên vai. Ngựa xuất hiện ở phía tây. Huyệt ngồi vị Tý trông sang Ngọ. Ta đã chôn một tấm ván gỗ ở dưới… Cần phải dặn con cháu rằng ngày sau có người đi sứ mà chậm về thì phải đào chân con ngựa ấy, tự khắc về ngay”, bèn đào chân ngựa ông mới được về (Truyện Lê Cảnh Tuân − phụ chép truyện Quang Bí, Thúc Hiển, Thiếu Dĩnh) [2, tr.523 − 524]. Con người phi thường có thể ngẫu nhiên được trời đất phú bẩm tài năng, nhưng cũng có thể chủ động tạo ra điều kiện tiếp nhận năng lượng vũ trụ bằng thuật phong thuỷ. Có cụ già giỏi địa lí đến chơi trong hạt cười: Tiến sĩ phải học mới được thì có gì là lạ, rồi ông cụ Nguyễn Trật cho ngôi đất nọ, bảo lấy sách ra đốt hết. Đến khoa thi hội, trường thứ nhất, trường thứ hai, nhờ họ giúp đỡ, được trúng, trường thứ ba, lặt được mảnh giấy, theo đúng mà chép, cũng trúng (Ông Nguyễn Trật) [3, tr.263].
2.3. Những ngôi mộ làm nên đế vương và việc phá, bồi bổ, cải tạo long mạch
Những ngôi mộ kiểu “quần sơn củng phục” (các núi chầu lại), có thể làm được một đời đế vương (Truyện mộ tổ ở Vịnh Kiều) [2, tr.473], nhưng có nhiều trường hợp huyệt ở nơi dị thường, không phải do các thế núi quây quần lại (theo lí thuyết) mà ở ngay trên mặt đất, nơi bình địa như trường hợp ngôi mộ tổ nhà họ Trần: bấy giờ có một thầy địa lí Trung Quốc sang nước ta xem đất, theo long mạch từ núi Tam Đảo đi xuống, qua Thăng Long, Cổ Bi đến các xã Kệ Châu và Cao Xá thuộc huyện Kim Động: “… thấy nhiều đống đất hoàn tụ… đây là chỗ đóng quân và nấu cơm. Đến xã Phương Trà huyện Nam Xương không thấy vết tích đâu nữa, nước sông chảy mạnh, lẽ nào huyệt lại ẩn tàng dưới đáy sông, bèn sang sông đi đến xã Hà Liễu, huyện Ngự Thiên, thấy các ngọn núi đều đứng thẳng, chỗ cất đầu lên ở đây, tìm chỗ phát tích tại xã Nhật Cảo và chỗ kết cục tại xã Thái Đường mới hạ la bàn để xem xét, không ngờ ở nơi bình địa mà lại có đất đế vương” (Ngôi mộ họ Trần) [2, tr.557, 558]. Có trường hợp dị thường hơn nữa là mộ ở ngay dưới nước như trường hợp có một thầy địa lí bên Tàu sang nước ta tìm đất, dõi theo long mạch tới động Hoa Lư. Buổi tối thầy địa lí lại xem thiên văn, thấy có một tia hồng quang như giải lụa đỏ từ đầm bốc lên bắn thẳng vào sao Thiên Mã, xem xét hồi lâu, đoán rằng dưới đầm tất có thần vật. Ông ta nhờ Đinh Bộ Lĩnh xuống đầm thăm dò, quả nhiên thấy có một vật hình như con ngựa đứng dưới đáy đầm, dưới đầm quả nhiên có ngôi huyệt quý (Đinh Tiên Hoàng kí) [2, tr.555].
Chuyện phá, cải tạo, bồi bổ long mạch. Phương pháp bổ cứu phong thuỷ có thể dẫn thuỷ tụ khí. Một số làng mạc tiến hành dẫn nước, đào ao ở những vị trí khác nhau nhằm tụ tài, trừ tà hoặc để có lợi cho khoa giáp, trồng cây gây rừng; việc trồng cây có tác dụng ngăn gió tụ khí, bảo vệ cho sinh thái của tiểu môi trường, làm cho cảnh quan thể hiện rõ phong phú về nội dung và sinh cơ, xây tháp chấn sát hoặc tháp hưng văn vận. Trường hợp nhà Trần khơi thuỷ đạo để cải tạo long mạch là một ví dụ. Vua Trần sau khi xem sấm thư của người khách phương Bắc, ý nói: “Ngôi mộ phát tích ở Thái Đường nay sắp hết thịnh, cần phải khơi thông thuỷ đạo, thì mới giữ được lâu dài”, tin lời ấy, bèn chiểu theo hoạ đồ ở sấm thư đào một thuỷ đạo từ sông Cái xã Phú Xuân đi vào, quanh đến xã Thái Đường (Ngôi mộ họ Trần) [2, tr.557 − 558]. An Vương biết trong kiểu đất nhà mình có câu “Truyền được tám đời thì vạ nổi lên từ trong tường vách” nên mới bày cuộc xây dựng ở Cổ Bi để yểm trừ (Nguyễn Công Hãng) [3, tr.157].
Nhiều trường hợp dùng phong thuỷ để trấn áp khí thiên vương (Áp khí thiên bá). Phong thuỷ lấy khí làm hạt nhân, cho rằng đất tốt hay xấu do khí quyết định, vì vậy trong phong thuỷ có thuyết vọng khí. Vọng khí có thể nhìn thấy sự hưng suy của các triều đại, nhân sự quan trường vì vậy những người thống trị đều rất tin tưởng vào thuyết này. Trong Hoan Châu kí, kể truyện Kế quận công Phan Ngan thấy mộ tổ để ở núi Lưỡng Kiên là nơi có hình dáng người bị chặt đầu “có hai vai mà không có đầu” trong lòng lo lắng, bèn mang hậu lễ đi đón một thầy thuật sĩ cao tay về, nhờ xem đi xem lại chỗ đặt ngôi mộ. Nhìn thế núi, quan sát khí mạch, thấy được chân hình, thuật sĩ bày cách là thế đất rất quý, sẽ sinh người kiên cường, chỉ đáng tiếc là đầu núi lộ xương, tai vạ không phải là nhỏ… có thể nhổ một cây cù mộc có cành nhánh cong queo đem trồng trên núi, giống hình đầu người. Như vậy thế sa mạch sẽ dần dà được tu bổ. Khi việc cải tạo này hoàn thành ắt sẽ làm nên nghiệp vương bá. Phan Ngạn từ đó thường được sai phái, thực sự có công lao, được phong tước quận công, ngấm ngầm hiệp sức với đảng ngụy tiếm xưng quốc sư, muốn khởi đầu sự nghiệp vương bá. Bình An Vương biết việc này bèn sai quân đến núi Lưỡng Kiên chặt bỏ cây yêu quái trên đỉnh núi [4].
Cao Biền từng đi khắp các nơi núi non sông biển nước ta xem những nơi nào có vượng khí linh thiêng thì tìm cách cắt yểm đi, ý là muốn cướp đoạn nước Nam ta. Cao Biền thấy trên núi có khí thiêng bèn đào hào phía sau chân núi để cắt mạch, khiến cho linh thiêng về sau không cự tụ được (Nam triều công nghiệp diễn chí) [5, tr.82]. Hay trường hợp Đinh Bộ Lĩnh thì bị thầy địa lí phương Bắc lừa phá huyệt bằng cách dâng gươm đeo vào huyệt ở cổ ngựa với lời giải thích: “Cái huyệt ấy tuy đẹp, nhưng ngựa không có gươm thì không được tốt. Nay tôi tặng cho một thanh gươm, ông đem xuống treo ở cổ ngựa, như vậy thì ông sẽ được dọc ngang trời đất, đánh đâu được đấy. Điều này dẫn đến hậu hoạ là ông ở ngôi được 12 năm thì bị tên hầu cận là Đỗ Thích ám sát, con cả là Đinh Liễn cũng bị giết” [2, tr.555]. Nguyễn Cố trong Ngôi mộ họ Trần vì bội tín nên bị người phương khách lấy lại huyệt bằng cách phá hoại: Khách bảo người họ Trần lấy đồng đỏ đúc lưỡi tầm sét và lấy cây vang lấy nước để dùng. Một đêm mưa to gió lớn và luôn có tiếng sét đánh, khách và người họ Trần đem lưỡi tầm sét đến cắm xuống mộ tổ của Nguyễn Cố, xuyên thủng đến quan tài, rồi lấy nước vang tưới vào mộ. Nguyễn Cố ra thăm, cho là mộ bị sét đánh có máu chảy ra vội vàng dời mộ đi chỗ khác. Như thế, đa số các cách triệt phá phong thuỷ đều gắn với việc dùng kim khí, kim loại (gươm, lưỡi tầm sét) đâm vào để triệt phá huyệt. Điều này thường gặp trong văn hoá bùa phép, trấn yểm của Đạo giáo.
Con người sinh ra lấy hình thể từ cha mẹ, nên khí mạch di chuyển trong huyệt mạch, bồi bổ cho xương cốt. Con cháu từ đó mà cảm ứng được hoạ phúc. Từ đó, phúc lộc vĩnh trinh, vạn vật hoá sinh. Nếu long mạch bị triệt, luồng khí không nuôi dưỡng được xương cốt. Lúc đó, xương cốt sẽ khô mục, giống như cuống hoa bị cắt, nhựa không nuôi được hoa quả thì hoa quả sẽ bị hư, như trường hợp long mạch nhà Trần bị cắt đứt nên nhà Trần bị mất vào tay nhà Hồ. Tương tự, long mạch của nhà Tây Sơn bị cắt thì con cháu cũng bị yếu thế, nhà Tây Sơn sau đó mất về tay nhà Nguyễn… Trong dân gian có câu: “giữ như giữ mả tổ” chính là để bảo vệ sự trường tồn, thịnh vượng của cả dòng họ và xa hơn nữa là bảo vệ sự trường tồn của một triều đại, một quốc gia.
Địa lí và thiên lí hay chuyện người chọn đất, trời chọn người cho đất. Con người ai cũng muốn tìm đất đẹp để táng mộ phần tổ tiên, nhưng tìm được đất là một chuyện mà táng được lại là chuyện khác. Có người nọ tìm được đất tốt, định táng tiên phần nhưng đành chịu vì nằm mơ thấy thần nhân đến bảo: “Ta cai quản địa phương này. Nhà ngươi ít phúc, không đương nổi cái huyệt ấy. Ta giữ cái huyệt cho họ Vũ. Ngươi nên nhường cho họ đó, thì con cháu ngươi sau này sẽ được họ ấy báo đáp lại”. Về sau, họ Vũ hưng thịnh, sinh ra nhiều người tài nghệ vũ dũng hơn người (Truyện họ Vũ xã Trung Hành) [2, tr.559]. Có cụ tên huý là Tả, con trai Hùng Quận công nằm mộng thấy một vị thần dẫn ra ngoài làng, tới xứ Mả Cả, trỏ tay mà bảo: “Đây là thế đất quý. Gia đình ông vốn trung nghĩa được Thượng đế xét biết đến nên ta mới bảo cho chỗ đất quý. Cẩn thận chớ nhầm”, bèn đem táng mộ ông bà vào đất đó. Ấy chính là thế đất “Hổ yêu đái ấn, Võ tướng trọng quyền” tiếp nối phúc dài lâu vậy”. Từ đó, cụ trở nên mạnh mẽ, dũng lược phi thường, tài bắn súng thật tuyệt vời (Truyện về sinh phong đại vương tán trị công thần thượng tể lộc công họ Đinh) [2, tr.659].
Xem đất chỉ cho người đời, nhưng số thầy thì “hàm răng chẳng còn”, “để ruồi nó bâu”, rốt cục, thầy địa lí không mấy khi được đất tốt nhất hạng. Tả Ao tiên sinh nhân có việc ra núi Hồng Lĩnh, thử trèo lên núi trông xem, ngắm được một cái huyệt rất quý bèn về đem tiên phần đến chôn. Người Minh trông thiên văn nói: các ngôi sao đều chầu về cả phương Nam, nước An Nam được đất rồi. Bèn ngầm đào trộm mả và lừa đem đứa con trai ông về Tàu. Mẹ ông mất, ông định đem táng ở một cái huyệt ngoài hải đảo. Ngày giờ đã định, không may sóng gió cản trở, không ra chôn được, thành ra lỗi kì. Ông than rằng: Đó là cái huyệt miệng rồng, năm trăm năm mới mở một lần, mà chỉ mở trong một khắc. Nay đã lỡ rồi, còn gì nữa. Thật là số mệnh của ta. Ông đã ngắm sẵn huyệt cho mình, nói là kiểu con chó đuổi đàn dê, táng chỉ ba ngày sẽ thành địa tiên, nhưng đường xa liệu chừng không đến nơi được, bèn chỉ một cái gò bên cạnh đường là một ngôi huyết thực. Sau quả nhiên làm phúc thần (Tả Ao tiên sinh) [3, tr.224]. Truyện Tả Ao họ Nguyễn cũng viết về Tả Ao, ông đến Thiên Mỗ huyện Từ Liêm nhận ra một cái huyệt lớn, muốn táng mộ họ Trần vào đó. Mới đặt tấm tróc long xuống đất, lật đi lật lại ba lần mà không được, ông bèn niệm chú gọi thần đất lên hỏi, thần đất nói: đất này sẽ phát ba đời quốc sư đại vương, con cháu công hầu khanh tướng không dứt. Trời đã dành cho nhà họ Nguyễn Quý rồi, họ Trần đức bạc không xứng với đất này. Nếu ông táng mộ họ Trần vào đây, làm trái ý trời, ắt sẽ lụy đến thân. Thuật địa lí nước Nam không ai tinh thông bằng Tả Ao, nhưng chỉ đem phúc đến cho người chứ không cứu nổi sự thanh bần của con cái. Bởi vậy, cần lấy tu nhân tích đức làm gốc, còn nếu chỉ chuyên vào việc địa lí thì hạn hẹp thay [3, tr.966].
Cao Biền − một người quyền phép, sức mạnh dời sông, chuyển núi, lấp bể nhằm thay đổi vận khí nước người nhưng kết cục thì vận khí của chính y thì ra sao? Tài năng của Cao Biền không giúp y tránh khỏi việc bị triệu về nước và bị giết. Trong văn học viết, các tác giả xây dựng kết cục là chính Cao Biền, khi chứng kiến khí thiêng nước Nam: “… mây mù nổi to, rồi có khí lành năm sắc rực rỡ lấp lóe như sao sáng rực, lạnh rợn người. Trong năm sắc ấy có một người cưỡi rồng vàng, đầu đội mũ hoa đỏ, mình mặc áo ráng màu tía, xiêm thêu giày đỏ, đồng thời mùi hương ngào ngạt, tiếng nhạc vang lừng, hồi lâu mới tan bèn dựng đền, đắp tượng thờ, rồi lấy đồng sắt chôn để trấn áp… Bỗng một cơn mưa bão rất to, đổ cây, tung đất, bao nhiêu đồng sắt đã yểm bỗng biến ra thành tro bụi. Biền thấy vậy than rằng: Ta sắp về Bắc mất. Rồi quả nhiên, Biền phải về thật (Quảng lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương) [2, tr.76].
Bà ngoại Đỗ Uông goá chồng sớm làm việc tốt được người Hoa Kiều cảm cái cao nghĩa, muốn lấy ngôi đất đền ơn cho bà với kiểu đất Cao vương, nói: thuỷ loan ấp tự (nước chảy vòng hình chữ Ất). Sau Đỗ Uông vào thi đình, đỗ Bảng nhãn, làm quan nhà Mạc đến chức Thị Lang. Nhưng mà Đỗ Uông sau bị tai vạ, con cháu cũng suy, không tiếng tăm gì, thế thì cái mẹo của con người cũng không bằng cái lẽ tự nhiên của tạo hoá (Đỗ Uông) [3, tr.86].
Một điều đặc biệt nữa trong phong thuỷ là trường hợp thiên táng, con người không chọn đất mà trời chọn nơi táng địa. Chuyện kể rằng một hôm mẹ Mạc Đĩnh Chi lên gò kiếm củi, bị một con khỉ đực hiếp, bố ông lấy dao chém chết. Sáng hôm sau ra xem thì thấy mối đã đắp đất lên xác khỉ thành một cái mộ lớn, từ đó mẹ ông thụ thai. Ông thấp bé, xấu xí, người ta cho là giống khỉ. Khi bố ông sắp mất, dặn người nhà mai táng ngay vào chỗ mộ con khỉ, chắc là cũng ngầm hiểu được thiên cơ nên mới làm vậy (Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi) [2, tr.557]. Còn Nguyễn Luật gặp hổ ngã lăn xuống, hổ không nỡ ăn thịt, chỉ dùng chân bới đất lấp kín thi hài. Cảnh thấy cha không về, vội vàng ra chợ xem bói. Thầy bói vốn là người thạo về Dịch lí, đã gieo tiền xin âm dương, được quẻ “Kỉ tị nhật thần, đắc chấn chi nhị“. Thầy bói dựa vào quẻ bói, đã kể lần lượt cho Cảnh nghe chuyện hổ vừa mai táng Luật. Về sau khi con cháu có công lớn với bản triều, Luật được phong tặng là Khai quốc suy trung dương nghĩa phụ quốc công thần, quản lĩnh thiết đột trung thánh dực tướng Diễn Phúc hầu (Hoan Châu kí) [4].
3. Kết luận
Từ việc khảo sát một loạt truyện có dấu vết quan niệm, tư tưởng phong thuỷ, có thể nhận thấy các nhà văn trung đại Việt Nam đã có một sự am hiểu khá sâu sắc về các lí thuyết chuyên sâu phong thuỷ. Kĩ thuật văn chương điêu luyện cùng với vốn kiến thức phong phú, uyên thâm về huyền học, đặc biệt là phong thuỷ, đã góp phần làm cho văn bản trở nên hấp dẫn, kì bí và có sức thuyết phục cao với bạn đọc. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lưu Bái Lâm (1994), Phong thuỷ − Quan niệm của người Trung Quốc về môi trường sống, Nxb Đà Nẵng. 2. Trần Nghĩa (1997), Tổng tập tiểu thuyết Việt Nam, tập 1, Nxb Thế giới, Hà Nội. 3. Trần Nghĩa (1997), Tổng tập tiểu thuyết Việt Nam, tập 2, Nxb Thế giới, Hà Nội. 4. Nguyễn Cảnh Thị (2011), Hoan Châu kí, (Trần Nghĩa giới thiệu), Nxb Thế giới, Hà Nội. 5. Nguyễn Khoa Chiêm (2003), Nam triều công nghiệp diễn chí, (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thuý Nga giới thiệu), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
__________
1. Trong Lễ kí có ghi “hành, trước là chu tước, sau là huyền vũ, trái là thanh long, phải là bạch hổ”, quan niệm dùng tứ linh để biểu thị phương vị lại có quan hệ với quan niệm “tứ tượng” trong thiên văn học. Người xưa khi quan sát tinh tú trên trời, đã chia bầu trời ra 28 loại tú, lại chia ra theo Đông Nam, Tây Bắc, mỗi hướng 7 tú, 7 tú hướng đông biểu tượng là long, 7 tú hướng nam biểu tượng là tước, 7 tú hướng tây biểu tượng là hổ, 7 tú hướng bắc biểu tượng là huyền vũ,vì vậy 4 tượng thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ đã trở thành đại danh từ của 4 phương vị Đông, Tây, Nam, Bắc.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội − số 9/2016
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Dấu ấn tư tưởng phong thủy trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam (Tác giả: Trần Thị Thanh Nhị) |