Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ qua các BÀI THƠ về ĐỊA DANH ở NGHỆ AN của VUA THIỆU TRỊ - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ qua các BÀI THƠ về ĐỊA DANH ở NGHỆ AN của VUA THIỆU TRỊ

NGUYỄN HUY KHUYẾN

1. Dẫn luận

     Ngự chế Bắc tuần thi tập, kí hiệu H77/1- 6, hiện đang lưu trữ, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt, gồm 5 quyển, tổng cộng 190 tờ ghi chép rất nhiều bài thơ vua Thiệu Trị đã làm về những địa phương đã đi qua như: Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,… Bộ sách này được in năm 1844 và được ghi chép trong Đại Nam thực lục: “Tập thơ Ngự chế Bắc tuần khắc xong, ban cấp cho hoàng tử, hoàng thân, các quan văn võ và các quan ở các tỉnh về chầu, cùng phủ Thừa Thiên, trường Quốc Tử Giám, học chính các tỉnh đều 1 tập”. [64, tr. 608]

     Tại nhiều địa phương, các bài thơ do vua Thiệu Trị làm được ghi lại và sau đó được khắc vào văn bia dựng tại nơi được vua ngự chế thơ để làm kỉ niệm. Nhiều bài thơ sau này bị mất, do bia bị mất hoặc nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại mà bị mờ, bị mất chữ,…

     Tại tỉnh thành Nghệ An, vua Thiệu Trị đã dừng chân ở các hành cung dọc đường thiên lí và có làm một số bài thơ. Hai trong số đó đã được tìm thấy trong văn bia tại núi Hồng Lĩnh và văn bia ở con Kênh Sắt. Hai tấm bia này chính là bia khắc hai bài ngự chế do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác để ca ngợi cảnh đẹp hùng vĩ của núi Hồng và sự kì lạ của dòng kênh Sắt.

     Có nhiều bản dịch về hai tấm bia này cũng như những bình luận của các nhà Hán học, song cũng có những nhầm lẫn do văn bia mờ hoặc do đánh máy sai chữ. Để cung cấp thêm những bài thơ do vua Thiệu Trị viết về Nghệ An cũng như cung cấp lại nguyên văn hai bài thơ Hồng Lĩnh và Thiết cảng, chúng tôi mạo muội gửi tới độc giả nguyên văn các bài thơ này gồm cả phần chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa.

2. Nguyên văn các bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị

     Các bài thơ ngự chế này được in trong sách Ngự chế Bắc tuần thi tập, quyển 2, từ tờ số 11 đến tờ số 16. Bộ sách này hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt.

     Tình trạng văn bản của những bài thơ này hiện còn khá tốt, chữ được khắc trên mộc bản, phần bài thơ khắc chữ lớn, phần chú thích khắc chữ nhỏ.

     Sự việc vua Thiệu Trị Bắc tuần khi đi qua các tỉnh có làm thơ ngự chế và hai địa danh Hồng Lĩnh và Thiết cảng đã được vua sai quan sở tại khắc vào bia đá dựng ở bên đường: “Khắc các bài thơ ngự chế khi Bắc tuần ở các địa phương. Quan Nội các dâng sớ nói: “Trộm nghĩ: núi cao, sông chảy ngang dọc trình bày, đó là văn của đất. Tiếng vàng tiếng ngọc, điều lí trước sau, đó là văn của thánh nhân. Nước ta, bờ cõi muôn dặm, núi sông thắng tích chỗ nào cũng có. Năm nay, ngự giá ra Bắc, thăm mùa màng, hỏi việc nông, xem dân tình, xét quan lại, làm phúc, ban ơn, dạy chính sự, sửa việc binh, phàm trải qua chỗ nào đều có thơ để ghi việc, tính được gồm 173 bài. …Hai bài vịnh “Hồng Lĩnh”, “Thiết cảng” thì tả hết tình trạng núi sông, cơ trời mở đóng, mà cùng là hình thế bày ra ở đó. Ngước thấy bút pháp của thánh thượng như tài khéo của thợ trời, thật nên tiêu biểu, khắc lời cao cả, ghi trên tấm đá để trấn một phương, làm áng văn lưu truyền muôn đời. Vậy xin giao cho các nơi sở tại đem khắc vào bia lớn, để núi sông càng tươi đẹp, địa hạt thêm vẻ vang mà áng đại văn chương của thánh nhân sẽ cùng với núi cao sông chảy giữ được đến vô cùng”. [2, tr. 416-417]

     Vua xem sớ tâu, phê bảo rằng: “Khi trẫm ra Bắc, trải xem các địa phương, coi đến núi sông mà nhớ ơn liệt thánh, mừng tục thuần Mĩ mà mộ sự vẻ vang của triều xưa, không phải là chỉ ưa thích thơ văn mà thôi. Nhưng sơ thảo lần đầu, sợ chưa đủ để lại cho đời sau. Nay đã có lời xin thì giao cho các đại thần duyệt lại, tâu lên. Trương Đăng Quế, Vũ Duy Cẩn lại xin cho thi hành việc khắc. Vua bèn y cho. Bấy giờ mới chia định: …bài “Núi Hồng Lĩnh”, bài “Thiết cảng” ở Nghệ An;…, sai địa phương sở tại khắc thơ vào đá, dựng bia ở bên đường”. [2, tr. 417].

     Dịch nghĩa: Núi Hồng

Chín mươi chín ngọn núi bày theo thứ tự,
Núi đứng tầng tầng chót vót trông sừng sững. Hương Tích chùa xưa nay vẫn còn đây,
Sự tích về dấu vết của Trang Vương đã tan thành tro bụi.
Chim hạc bay ngoài đồng nội tương truyền về đậu trên đỉnh núi, Chim Hồng bay xa được ngợi ca nổi tiếng đã quay trở lại.
Núi non trùng điệp kéo dài liền với trời xanh, Một nửa núi mây che phủ, một nửa núi không.

     Nguyên chú:

(1) 山之陽有古寺, 名香蹟清光靜寂, 迥絕塵. 凡俗傳楚莊王之女, 酷好佛教遠來參禪, 修 化于此, 莊王追尋到處, 得之. 築臺居于寺之北. 今存舊址, 名莊王址.

     Sơn chi dương hữu cổ tự, danh Hương Tích, thanh quang tĩnh tịch, quýnh tuyệt trần. Phàm tục truyền Sở Trang Vương chi nữ khốc, hảo Phật giáo, viễn lai tham thiền, tu hoá vu thử, Trang Vương truy tầm đáo xứ, đắc chi. Trúc đài cư vu tự chi bắc. Kim tồn cựu chỉ, danh Trang Vương chỉ.

     Ở sườn núi có ngôi chùa cổ, tên là Hương Tích, tĩnh mịch sáng trong, xa rời chốn trần tục. Phàm tục truyền con gái của Sở Trang Vương, rất sùng Phật giáo, từ xa đến học thiền, tu hoá ở đây, Trang Vương đi tìm đến xứ này, tìm được con gái, ông cho xây dựng nhà cửa ở phía bắc ngôi chùa. Ngày nay vẫn còn nền móng cũ, tên là nền Trang Vương.

(2) 此山在河靜省德壽府起自宜春縣歷于天祿縣綿亙蜿蜒, 凡九十九峰, 相傳玄鶴群來 各棲嵿, 嵿乃 […] 1 鴻嶺名之誠, 牢不可破, 抑或別有意義亦未可知.

     Thử sơn tại Hà Tĩnh tỉnh, Đức Thọ phủ khởi tự Nghi Xuân huyện, lịch vu Thiên Lộc huyện miên cắng uyên diên, phàm cửu thập cửu phong, tương truyền huyền hạc quần lai các thê đỉnh, đỉnh nãi… hồng lĩnh danh chi thành, lao bất khả phá, ức hoặc biệt hữu ý nghĩa diệc vị khả tri.

     Núi này khởi nguồn từ huyện Nghi Xuân, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trải qua huyện Thiên Lộc kéo dài ngoằn ngoèo, tất cả có 99 ngọn núi, tương truyền có bầy chim Hạc đen đến đậu trên đỉnh núi, núi này có tên là núi Hồng, bền vững không gì phá được, hay là có ý nghĩa gì khác, cũng chưa thể biết.

     (Quyển 2, tờ 10a-11a/b)

     Sự tích về núi Hồng cũng được sách Đại Nam thực lục ghi chép qua lời của quan tỉnh địa phương là Vũ Đức Nhu. Qua lời kể ấy câu truyện như có sự huyền bí về lịch sử hình thành tên gọi của núi.

     “Thuyền ngự do sông Đại Nại tiến phát, qua núi Hồng Lĩnh, vua triệu quan tỉnh là Vũ Đức Nhu, hỏi về thắng tích núi ấy. Nhu thưa rằng: “Núi này khởi đầu từ huyện Nghi Xuân, qua huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc), quanh co, liền lượt, gồm 99 ngọn. Tương truyền có đàn chim hạc đen đậu ở trên núi, cho nên đặt tên là “Hồng Lĩnh”, bên phía nam núi này có ngôi chùa cổ, tên gọi là Hương Tích. Tục truyền: xưa con gái của Sở Trang vương rất mộ đạo Phật ở xa đến thăm cảnh chùa rồi ở tu và hoá tại đây. Trang vương theo tìm được, mới dựng đài ở phía bắc chùa này, nay vẫn còn nền cũ, gọi là nền “Trang vương”. Vua cười nói: “Đó là câu chuyện hài hước của người Tề, nói sự quái lạ, truyền mãi không thể bỏ hết!”. Hoặc giả có ý nghĩa gì khác cũng chưa biết chừng”. [2, tr. 296].

___________
1. Nguyên văn chữ này bị mất nên chúng tôi chưa đọc được.

Dịch nghĩa: Sáng sớm ra khỏi thành Nghệ An bỏ thuyền đi đường bộ

Chiếu của vua tuyên đến quận Hoan,
Cờ loan hướng về châu Ái.
Nhân dân ra đường nghênh đón,
Đường xá đọng đầy hương thơm.
Sáng sớm muôn núi phủ màu xanh,
Trong khói xuân muôn cây tươi tốt.
[…] dấu chân thú chạy bụi không cuốn,
Đường bằng phẳng trông xa dài dằng dặc.

(Quyển 2, tờ 13b-14a)

     Dịch nghĩa: Dừng ngựa tại hành cung An Kim

Tốt thay được cảnh trời mát mẻ vui vẻ đi nhanh,
Không biết rằng trời đã quá trưa lâu rồi.
Cởi yên buộc ngựa nhàn nhã nghỉ ngơi,
Uống nước đầu sông Mã thấy làn sóng lay động.

(Quyển 2, tờ 14a)

___________
1. Chữ này trong văn bản bị mờ hết chữ không đọc được.

Đi dã ngoại ở Hưng Nguyên

Ngoại ô rộng lớn thoáng đãng cảnh yên tĩnh,
Núi cao trùng điệp che chắn cho nơi này.
Xung quanh núi ôm ấp bao bọc chầu về,
Đường xá vòng quanh chạy khắp nơi.
Mờ tối cảnh mây khói mờ mịt,
Trời không có gió mà có tiếng cây cối.
Nghe tiếng chim muông kêu trên đỉnh núi,
Ngôi miếu cổ mãi còn hương khói.

(Quyển 2, tờ 14a-14b)

     Dịch nghĩa: Đêm xuân được thơ ở hành cung An Hương

Một khắc đáng giá ngàn vàng đêm dài tịch mịch,
Hoa trên núi biết ý tự mình ngậm hương.
Gió đông đưa hương thơm đến trước thềm cảm thấy khoan khoái,
Vườn thượng uyển chẳng lưu lại hương thơm của hoa ngoài cánh đồng.

(Quyển 2, tờ 14b)

___________
1. Nguyên văn khắc chữ 文 văn, nhưng nếu theo logic thì phải là chữ văn 聞 (nghe), mới hợp lí.

     Dịch nghĩa: Cảng Sắt

Suối nhỏ chảy vòng vèo trong lòng muôn ngọn núi,
Nghe nói người xưa mượn công của tạo hoá.
Mỏ sắt ở lưng núi còn lưu lại đá vương vãi,
Cửa cảng oai trời cạn mà vẫn lưu thông.

     Lẽ huyền vi chẳng giải được chuyện lạ thần cơ, Đất bằng phẳng càng hiện rõ đạo đời hưng thịnh. Núi non của Lũng Thục cũng không sánh được, Dời đến nước Triệu nước Sở vẻ đẹp sao hết được.

     Nguyên chú:

(Quyển 2, tờ 15a-15b)

(1) 史記: 唐時高駢為安南都護, 駢使林諷領眾疏鑿此港, 以便漕運, 至興元縣山岡亂石, 人 工摧折殆, 欲中止.  時五月忽當晝雷震數百聲打碎其亂, 石尚遺一巨石眾工亦力不能施悉成港 道. 六月間雷復大震將巨石一時碎裂港道乃成, 時人稱為天威港, 港之西是鐵穴山故又名鐵港.

     Sử kí: Đường thời Cao Biền vi An Nam đô hộ, Biền sử Lâm Phúng lãnh chúng sơ tạc thử cảng, dĩ tiện tào vận, chí Hưng Nguyên huyện sơn cương loạn thạch, nhân công tồi triết, đãi dục trung chỉ. Thời ngũ nguyệt hốt đương trú lôi bách thanh đả toái kì loạn, thạch thượng di nhất cự thạch, chúng công diệc lực bất năng thi tất thành cảng đạo. Lục nguyệt gian lôi phục đại chấn tương cự thạch nhất thời toái liệt. Cảng đạo nãi thành, thời nhân xưng vi Thiên uy cảng, cảng chi tây thị thiết huyệt sơn cố hựu danh Thiết cảng.

     Theo sử sách ghi chép: Thời Đường Cao Biền làm Đô hộ sứ nước An Nam. Biền sai Lâm Phúng sai dân ta đào con kênh này, để thuận tiện cho chuyên chở. tới địa phận huyện Hưng Nguyên, đá núi lởm chởm, nhân công bị đưa tới chỗ nguy hiểm, họ muốn dừng lại giữa chừng. Vào tháng 5 đột nhiên ban ngày bỗng nghe hàng trăm tiếng sấm đánh tan tảng đá ấy, song còn sót lại một tảng đá lớn, công nhân không đủ sức thi công hoàn tất tạo thành dòng kênh. Đến tháng 6, lại một tiếng sét lớn, tảng đá lớn trong chốc lát vỡ tan, hình thành cảng đạo. Thời bấy giờ, người ta gọi là “Cảng Thiên Uy”. Phía Tây cảng là Mỏ Sắt, nên lại có tên là “Thiết cảng”.

(2) 相傳此港道因有江河引流通之嶺岫隨勢鑿之, 自河內可通乂安以南. 今則相夾田疇 涵蓄資農.若於山下縈紆則浮沙日壅以成平地. 似乎天意, 漕運有方, 設險有所, 居中禦外不 可通達如初. 玄妙機緘亦未 可知. 玆因事以理論之怪異 之事. 耳食之言, 未足信也.

     Tương truyền thử cảng đạo nhân hữu giang hà dẫn lưu thông chi lĩnh tụ tuỳ thế tạc chi, tự Hà Nội khả thông Nghệ An dĩ nam. Kim tắc tương giáp điền trù hàm súc tư nông. Nhược ư sơn hạ oanh hu tắc phù sa nhật ủng dĩ thành bình địa. Tự hồ thiên ý, tào vận hữu phương, thiết hiểm hữu sở, cư trung ngự ngoại, bất khả thông đạt như sơ. Huyền diệu cơ giam, diệc vị khả tri. Tư nhân sự, dĩ lí luận chi, quái dị chi sự. Nhĩ thực chi ngôn, vị túc tín dã.

     Tương truyền kênh này vì nhân có những lạch sông ngòi dẫn thông đến hang núi, tuỳ thế núi mà đào kênh, từ Hà Nội thông đến Nghệ An cho tới phía Nam. Ngày nay thì ruộng đất của nông dân bao quanh, ở dưới chân núi thì hàng ngày phù sa bồi đã thành bình địa. Giống như ý trời, vận chuyển đường thuỷ có sách, nguy hiểm có chỗ, ở bên trong che bên ngoài, không thể thông suốt như trước nữa. Những lẽ sâu kín huyền vi cơ trời cũng chưa thể biết. Nay nhân sự việc này, lấy cái điều quái dị đó mà bàn luận, thì lời nói truyền thuyết đó, chưa đủ để tin cậy vậy.

     Vua Thiệu Trị khi Ngự giá qua Thiết cảng nghe được sự tích lạ mới nói với đại thần Trương Đăng Quế: “Ngự giá đi qua Thiết cảng. Vua bảo đại thần Trương Đăng Quế rằng: “Đường cảng này, tương truyền: nhân có các sông chảy xuống thông qua các núi, người ta mới lựa theo hình thế, đào ra, từ Hà Nội có thể đi suốt đến phía nam tỉnh Nghệ An; nhưng đến nay phù sa mỗi ngày một bồi thêm, đã thành ra đất bằng; tựa như vì chốn Thần kinh đã định, giữ hiểm đã có chỗ, chuyển vận đã có phương, ở bên trong, giữ bên ngoài, không thể thông đạt như trước, đó là cơ trời huyền diệu, chưa dễ lường biết, nhưng lấy lí mà bàn thì: tục truyền việc Cao Biền đào cảng này, nhờ uy trời chấn động, vỡ đá, thật là một sự quái lạ. Lời truyền thuyết vu vơ ấy không đủ tin được”. [2, tr. 298]

     Thiết cảng là kênh đào rất quan trọng từ xưa đến nay, song có lẽ những sự huyền tích về sự hình thành dòng kênh này khiến nó được thần thánh hoá, cho dù vua Thiệu Trị không tin điều đó là có thật.

3. Một vài so sánh nhận xét về văn bản trong văn bia và văn bản trong thơ ngự chế

     Mặc dù chúng tôi chưa được tiếp cận với bản gốc văn bia bài Thiết cảng tại Nghệ An, nhưng thông qua bài viết: Thiết cảng – bài thơ ngự chế, khắc lên bia của tác giả Bùi Văn Chất dịch và giới thiệu chúng tôi cũng xin được so sánh một vài chữ khác giữa hai văn bản này


Nhận xét: ở câu thứ 2 của bài thơ chữ 公 được khắc trong văn bia còn chữ 工 công được in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập.

     Câu thứ 7 phần nội dung bài thơ chữ 此 thử được khắc ở văn bia, còn chữ 比 được in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Hai chữ này có hình dạng gần giống nhau rất dễ nhầm.

     Trong phần chú thích được in chữ nhỏ hơn phần chính bài thơ chữ lai 來 và chữ tư 來 ở trong văn bia, còn chữ giáp 夾 và chữ tư 資 in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Hai chữ này có hình dạng giống nhau nên rất dễ nhầm lẫn.

     Trong câu phần chú thích chữ vi 為 in ở văn bia còn chữ vị 未 in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Như vậy, nếu so sánh cả hai văn bản thì chúng tôi nhận thấy có 5 chữ khác biệt ở trong văn bia và trong ngự chế thi.

     Việc đào kênh Thiết cảng đã bị gián đoạn nhiều lần, không những tốn kém tiền của nhiều mà mãi vẫn không có được lượng nước như ý. Trước tình hình đó thời vua Tự Đức tiếp tục cho đào để làm lợi lâu dài về sau.

     Sách Đại Nam thực lục ghi chép về việc vua Tự Đức sai phái người đi kiểm tra Thiết cảng, theo tấu báo của quan tổng đốc Nghệ An và Hà Tĩnh. “Thự Tổng đốc An – Tĩnh là Vũ Trọng Bình tâu xin đào đục Thiết cảng ở hạt Nghệ An (dài hơn 1193 trượng). Đình thần bàn cho là: Liền năm mất mùa đói kém, còn đương phải cứu chữa cho dân. Nay bắt dân khơi đào, sức dân không làm nổi. Vả lại, hiện nay của kho ít, công việc nhiều, có nhiều sự không tiện, đường cảng ấy sẽ để tính sau”. [3, tr. 695]

      Qua lời tấu của quan địa phương phần nào chúng ta biết được để đào con kênh dài 1.193 trượng, rất tốn kém, ngay cả triều đình cũng gặp khó khăn. Năm Tự Đức thứ 19 (1866), vua giáng dụ sai quan tỉnh tiếp tục cùng với nhân dân đào kênh để không bị bỏ dở “Khâm phái là Phạm Ý đi việc công về tâu nói: Việc khai Thiết cảng ở Nghệ An, công trình to lớn, dân gian không vui lòng làm việc, hiện nay nắng và ẩm thấp, lại cảm nhiễm nhiều, mà khai đào đã sâu vẫn chưa thấy nước, thế khó thành công. Vua giáng dụ sai quan tỉnh cứ theo hiện tình tâu về, nếu làm đã sắp xong thì phải đào để được lợi lâu dài, nên xét xem dân cần thứ gì mà giúp đỡ, khuyên bảo khiến cho quên nhọc vui lòng làm, thì công trước không đến nỗi mất không”. [3, tr. 1060]

     Dịch nghĩa: Nghỉ trưa ở hành cung An Luỹ

Một nửa dựa vào thôn núi một nửa ở đường,
Vài cây cột nhỏ dựng nhà để nghênh đón xe vua.
Dừng xe xem xét vì niềm vui của dân,
Nghệ An, Hà Tĩnh việc nông đều tốt đẹp.

     Dịch nghĩa: Nghỉ đêm ở hành cung An Quỳnh

Muôn khe suối vạn cây tùng trên núi nghe sảng khoái như tiếng tiêu thổi,
Đêm xuân bừng tỉnh giấc ngỡ như là tiếng sóng cuốn.
Mây đã về núi xa bầu trời quang đãng,
Trăng mới mọc ở phía đông chiếu sáng cả nơi vua ở.

(Quyển 2, tờ 16a)

4. Các trạm thông tin (hành cung) ở Nghệ An và giá trị nội dung của các bài thơ

     Thời Nguyễn dọc đường thiên lí từ Thuận Hoá ra đến Bắc Thành và từ Thuận Hoá vào phía Nam có rất nhiều trạm thông tin và dịch trạm. Khi có dịp tuần thú, vua đến nơi nào thì nơi đó lập tức phải dựng nhà nghỉ còn gọi là hành cung. Thông thường hành cung là nơi vua ở tạm nên không cần làm cầu kì kiên cố. Nhiều khi chính vua ra lệnh cho quan sở tại địa phương không cần dựng nhà cầu kì tốn kém.

     Tỉnh thành Nghệ An thời vua Thiệu Trị có những hành cung như An Dũng, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh. Những hành cung này đã từng được vua cảm tác làm thơ khi nghỉ chân tại đây.

     Sách Đại Nam thực lục cho biết về tên các hành cung ở Nghệ An: “Thưởng thêm cho các trạm thông tin trên đường thuỷ, đường bộ từ Quảng Trị ra Bắc. (Phàm những trạm chạy tin rất nhiều, thì châm chước liệu cấp thêm … An Dũng, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh ở Nghệ An”. [2, tr. 291]

     “Lại nữa, những trạm trên đường bộ từ Quảng Trị ra Bắc, đường xe vua ra Bắc tuần qua đó, như trạm. An Dũng, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh ở Nghệ An”. [2, tr. 358]

     Các bài thơ trên đã mang đến những nội dung tư liệu hết sức quý giá để nghiên cứu về vùng đất Nghệ An, đặc biệt là việc xây dựng con kênh Sắt và vẻ đẹp của núi Hồng. Bên cạnh đó là những di tích mà vua Thiệu Trị đã từng ghé lại nghỉ ngơi trong các hành cung. Đúng như lời nhận xét của đình thần về hai bài thơ của vua Thiệu Trị về núi Hồng Lĩnh và Thiết Cảng: “Hai bài vịnh “Hồng Lĩnh”, “Thiết cảng” thì tả hết tình trạng núi sông, cơ trời mở đóng, mà cùng là hình thế bày ra ở đó. Ngước thấy bút pháp của thánh thượng như tài khéo của thợ trời, thật nên tiêu biểu, khắc lời cao cả, ghi trên tấm đá để trấn một phương, làm áng văn lưu truyền muôn đời. Vậy xin giao cho các nơi sở tại đem khắc vào bia lớn, để núi sông càng tươi đẹp, địa hạt thêm vẻ vang mà áng đại văn chương của thánh nhân sẽ cùng với núi cao sông chảy giữ được đến vô cùng”.

     Ngoài giá trị sử liệu, những bài thơ này còn cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về phong cảnh tuyệt mĩ. Phong cảnh của tỉnh thành Nghệ An có hương, có hoa, có chim muông cây cối, có chùa cổ miếu xưa hoà quyện vào nhau tạo nên bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Đọc các bài thơ cảm tác tại các hành cung của vua Thiệu Trị mới thấy rất rõ điều đó. Trên núi có thông, tiếng rít vào nhau tựa như có ai thổi tiêu, đâu đó trên ngôi miếu cổ khói hương vẫn còn nghi ngút, đêm đêm nghe tiếng chim kêu trên đỉnh núi, để rồi ánh trăng sáng chiếu rọi chốn cung vua.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Ngự chế Bắc tuần thi tập, bản chữ Hán, kí hiệu H77, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (bản dịch tập 6), NXB Giáo dục, Hà Nội.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (bản dịch tập 7), NXB Giáo dục, Hà Nội.