Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Góp thêm ý kiến về vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Góp thêm ý kiến về vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam

Tác giả bài viết: Tiến sĩ  TRẦN THỊ THANH THANH
(Khoa Lịch sử – Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh)

1. Vai trò của các chúa Nguyễn trong sự hình thành các cảng thị ở Nam Bộ

     1.1. Diện mạo của các cảng thị ở Nam Bộ như Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên và Sài Gòn được phản ánh khá cụ thể, sinh động qua những ghi chép trong Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí… Đây là nguồn tài liệu gốc, cung cấp thông tin căn bản và chủ yếu cho các nghiên cứu tìm hiểu của đời sau về các đô thị thương cảng ở Nam Bộ, bên cạnh một số ghi chép của người nước ngoài đến nước ta vào thời này.

     Về Cù lao Phố, những ghi chép trong Gia Định thành thông chí cho thấy nơi này có diện mạo của một đô thị, nằm gần trung tâm hành chính của dinh Trấn Biên, nối với trấn lỵ bằng một cây cầu: “Đại Phố châu (tục danh là Cù lao Phố)… cách trấn lỵ về phía đông chừng 3 dặm… Sông Phước Giang quanh phía nam, sông Sa Hà ôm ở phía bắc; trước có cầu gỗ ngang sông, rộng rãi bằng phẳng, thông đến trấn lỵ”, “Phố lớn Nông Nại… nhà ngói tường vôi, lầu cao vót, quán mấy tầng, rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm, mở vạch ba đường phố. Phố lớn lát đường đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh, đường bằng như đá mài, khách buôn họp đông, thuyền biển thuyền sông tránh gió bỏ neo lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đại đô hội. Nhà buôn to giàu chỉ ở đây là nhiều”. Một vùng quanh trấn lỵ đều là nơi đô hội, việc buôn bán rất dễ dàng, cách thức kinh doanh tiện lợi: “… tàu buôn đến đấy, bỏ neo đã xong, thuê phố ở trọ, tất đến chủ nhà hàng kê khai hàng hoá cả thuyền, đưa nộp giao cho cửa quan, rồi chủ hàng định giá mua cả, xấu tốt xô bồ, không có ứ đọng. Ngày trở buồm về, gọi là hồi đường, cần dùng hàng gì cũng phải khai rõ, trước kỳ chủ hàng chiếu theo đơn hẹn mà thu mua thay cho, chủ khách hai bên cùng tiện, đơn hàng tính trả xong, người khách cứ việc đờn ca chơi nhởi. Đã được nước ngọt trong sạch, lại không hà sâu gặm khoét ván thuyền. Chỉ đợi đến kỳ hạn chở đầy, sung sướng mà quay về thôi” .

     Cảng thị Mỹ Tho nằm trên vùng triền sông và cù lao sông Tiền, phố chợ gắn liền với lỵ sở của dinh Phiên Trấn: “Phía nam lỵ sở là phố chợ Mỹ Tho, nhà ngói đục chạm, chèo đi lại như mắc cửi, phồn hoa huyên náo, là một nơi đại đô hội”. Phố chợ nằm trên ngã ba sông Mỹ Tho gặp dòng kênh Bảo Định được đào năm 1705 thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Con kênh là một công trình phòng thủ quân sự, cũng là yếu tố tạo điều kiện phát triển kinh tế, quần tụ cư dân, làm cho bến chợ “nhà san sát như vẩy cá”, “nhà ở đông đúc…những thuyền mua gạo đều họp ở đấy”. Mỹ Tho trở thành một nơi giàu tài lực, vật lực, một trung tâm chính trị -kinh tế, được một hậu duệ của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Ánh chọn làm nguồn quan trọng khôi phục lực lượng ở Gia Định.

     Cảng thị Bến Nghé – Sài Gòn được khởi đầu từ một điểm tụ cư của người Việt. Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã đặt trạm thu thuế ở đây. Năm 1698, vùng này trở thành đơn vị hành chính của chính quyền Đàng Trong, dần phát triển thành một trung tâm buôn bán, quần tụ bên sông Bến Nghé, đường sông thông ra đến cửa biển.

     Cảng thị Hà Tiên hình thành và phát triển trong thế kỷ XVIII. Nơi này giáp biển phía Tây, là một vùng biển kín, “lại có Hòn Khoai Nhỏ đứng ở bên ngoài chắn sóng dữ mà bồi bãi biển… Nhiều cá to, hải sâm, vích, đồi mồi, trai, sò, tôm nõn, con điệp, ốc tai voi… Thuyền Quỳnh Châu ở Quảng Đông thường đến đậu ở hải đảo để mua hải sâm và bong bóng cá, lẫn với dân ta, buồm thuyền liền nhau…”. Phố chợ Hà Tiên bấy giờ được gọi là phố lớn, tập trung và mở rộng từ bờ biển vào sâu trong đất liền, có diện mạo của một đô thị.

     1.2. Trong quá trình hình thành các cảng thị trên, chính quyền chúa Nguyễn có vai trò quan trọng. Sách Đại Nam thực lục tiền biên chép rằng, vào năm Kỷ Mùi (1679) đời chúa Nguyễn Phúc Tần, “tướng cũ nhà Minh là Long môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là “bô thần” nhà Minh, vì nghĩa không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ”. Sau khi bàn bạc với các quan, chúa Nguyễn đồng ý ban chức tước cho họ và sai quan lại dẫn đường đưa họ đến vùng đất định cư. Được chúa Nguyễn thu nhận và tạo điều kiện, những di dân người Hoa này đã chia làm hai hướng: nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hoà. Đây là những nơi có sự tụ cư sớm của lưu dân người Việt: “Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (nay thuộc Gia Định), đến đóng ở Mỹ Tho (nay thuộc Định Tường); binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (nay thuộc Biên Hoà). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập…” .

     Tại ven biển Hà Tiên, theo Đại Nam nhất thống chí, “người tỉnh Quảng Đông Trung Quốc là Mạc Cửu sang phương Nam thấy đất này có lái buôn các nước tụ tập, nhân đấy chiêu tập dân xiêu tán ở các xứ Phú Quốc, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau lập thành 7 xã, tự đứng cai quản”. Năm 1708, đời chúa Nguyễn Phúc Chu: “…Cửu uỷ cho người bộ thuộc là Trương Cầu và Lý Xã dâng thư xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa nhận cho, trao cho chức Tổng binh. Cửu xây dựng dinh ngũ, đóng ở Phương Thành, nhân dân ngày càng đến đông”. Sau khi Mạc Cửu chết (1735), chúa Nguyễn Phúc Chú (Trú) phong cho con Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ làm đô đốc trấn Hà Tiên, “Cho 3 chiếc thuyền long bài được miễn thuế, sai xuất dương tìm mua các của quý báu để nộp. Lại sai mở cục đúc tiền để tiện việc trao đổi. Thiên Tứ chia đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành lũy, mở phố chợ, khách buôn các nước đến họp đông”.

     Vùng đất Đồng Nai – Gia Định trở thành một đơn vị hành chính thống nhất thuộc chính quyền Đàng Trong sau sự kiện năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đô thuyền thuỷ bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về nam đến ở cho đông. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập làm xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều là dân hộ [của ta]”. Từ một xã nhỏ Minh Hương do chúa Nguyễn Phúc Chu lập, những di dân người Hoa đã phát huy kinh nghiệm và truyền thống thương mại, mở phố chợ sầm uất, quy tụ thương nhân và dân chúng trong vùng.

     Trong hệ thống giao lưu kinh tế và hoạt động thương mại ở Đông Nam Á bấy giờ, Cù lao Phố, Sài Gòn, Mỹ Tho, Hà Tiên thực sự mang diện mạo của các đô thị, thương cảng.

     Năm 1790, hậu duệ chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Anh sau khi xưng vương ở Gia Định đã sai “đắp thành Bát Quái ở trên gò cao thuộc địa phận thôn Tân Khai tỉnh Bình Dương, gọi là kinh Gia Định”. Gia Định Kinh vừa là tên gọi của toà thành, vừa có nghĩa đây là kinh đô của vùng Gia Định.

     Thành còn được gọi là Quy Thành, có “hình hoa sen nở tám cửa, tám đường đi ngang đi dọc, bề đông tây 121 trượng 2 thước, bề nam bắc cũng thế, cao 10 thước, chân dày 7 trượng 5 thước, đắp làm 3 cấp… Hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước, đặt cầu treo, ngoài đắp lũy đất, chu vi 794 trượng, hiểm trở, kiên cố tráng lệ… ngoài thành đường ngõ, phố chợ bày hàng ngang dọc, đều có thứ tự…”

     Tòa thành xây xong, là một công trình phòng thủ quân sự, đồng thời là một đầu mối giao thông đường bộ và đường thủy: “…Đường quan lộ bên tả từ cửa Chấn Hanh qua cầu Hòa Mỹ, qua sông Bình Đông mà đến trấn Biên Hoà. Đường quan lộ bên hữu gặp chỗ quanh co đều chăng dây làm cho thẳng, từ cửa Tốn Thuận qua chùa Kim Chương, qua phố Sài Gòn đến cầu Bình Yên, qua gò Tiên Tự mà đến sông Thuận An.Bến đò Thủ Đoàn sang sông Hưng Hoà, qua giồng Trấn Định đi giồng Triệu. Đường rộng 6 tầm, 2 bên đều trồng các cây thổ nghi như mù u, mít, cầu cống thuyền đò sở tại thời thường sửa chữa, đường phẳng như đá mài, gọi là đường thiên lý phía nam…”.

     Việc dựng đặt dinh, phủ, việc xây thành, mở đường là những bước thúc đẩy quá trình hình thành đô thị. Trong các thư tịch bấy giờ, phần ghi chép về các toà thành luôn có những đoạn về đường sá, chợ búa, phố xá, nhà cửa… như một bộ phận quan trọng của toà thành. Điều này phản ánh diện mạo tiêu biểu của đô thị ở Nam Bộ nói chung, đó là thành trấn, lỵ sở của chính quyền thường đặt ở nơi tụ cư của dân chúng, và thúc đẩy quá trình tụ cư phát triển. Đây cũng là một cách hiểu thường được dùng để giải thích nghĩa của từ “thành thị”: “thành” là khu vực hành chính, quân sự của chính quyền, “thị” là khu vực quần tụ của cư dân. Có dân là có chợ, “thành” “thị” thường gần nhau, gắn bó với nhau. Hiện tượng tên huyện ở nhiều địa phương Nam Bộ mang hai chữ “Châu Thành” cũng phản ánh phần nào diện mạo đó.

     Như vậy, một đặc điểm của sự hình thành các cảng thị ở Nam Bộ thời các chúa Nguyễn là yếu tố quần tụ cư dân thường có trước, do những điều kiện tự nhiên và nhu cầu kinh tế, sau đó nhà nước chọn đặt dinh trấn hành chính, hoặc xây dựng thành lũy nhằm mục đích quản lý, bảo vệ, phòng thủ. Những bến chợ quanh trấn thành ở Biên Hoà, Mỹ Tho, Hà Tiên ở thế kỷ XVII – XVIII, Sài Gòn – Chợ Lớn đến thế kỷ XIX đã dần phát triển thành phố chợ, phố cảng… Tại những nơi này, vai trò của chính quyền là tạo điều kiện cho việc buôn bán, mở mang giao thương, những bến sông, cảng biển vốn mang tính chất trạm dịch, trạm trung chuyển dần dần trở thành những khu vực cư dân sầm uất, trung tâm kinh tế, dần dần có tính chất và diện mạo của đô thị.

     Các đầu mối giao thông thuỷ là điểm khởi đầu của một cảng thị. Vùng đất Nam Bộ sông rạch chằng chịt, cảnh quan phổ biến của nơi cư dân quần tụ là “trên bến, dưới thuyền”, “dạt dào sông nước”. Hệ thống sông rạch cùng với các công trình kênh đào do chính quyền tổ chức thực hiện tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện mở ra đến biển, là mạch máu của cả một vùng. Các con kênh lớn được đào trong thời kỳ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX ở Nam Bộ trước hết do yêu cầu quân sự, phòng thủ của chúa Nguyễn, vua Nguyễn, nhưng đã có nhiều tác dụng trong việc phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán, tập trung cư dân, tạo nên một vùng sông nước đô hội.

     Từ một điểm tụ cư, trạm thu thuế, trở thành trung tâm hành chính – quân sự, trung tâm kinh tế – văn hoá, vùng Bến Nghé – Sài Gòn – Chợ Lớn phát triển hơn cả, dần dần trở thành một đô thị tiêu biểu của Nam Bộ. Thành lũy, đường sá phục vụ yêu cầu hành chính, quân sự, góp phần tạo điều kiện cho hoạt động thương mại. Ngoài đường thuỷ, hệ thống đường bộ được mở rộng và xây dựng, hình thành 2 trục đường thiên lý chạy về phía bắc và phía tây. Đường thiên lý qua Đồng Nai, Bình Thuận hướng về kinh đô và các tỉnh phía bắc, đều đặt trạm dịch, “gặp ngòi suối thì bắc cầu, chỗ bùn lầy thì xếp xây đắp đất…khi đi qua sông lớn thì lệ đặt thuyền chở đò”. Đường đi các tỉnh miền Tây từ thành Gia Định hướng về phía Cao Miên, “chỗ gặp sông ngòi thì bắc cầu xây cống, chỗ bùn lầy thì lấy đất bồi đắp, qua rừng đẵn cây, mở đường thiên lý, mặt đường rộng 6 tầm, thực là đường bình an cho người, ngựa. Những nơi hẻo lánh không có nhà người ở, thì việc đưa tin truyền báo khi hữu sự, việc nghỉ trọ của hành khách vãng lai theo thể lệ bưu chính mà thi hành”.

     Bấy giờ, hoạt động tổ chức các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền, việc thực hiện quyền lực nhà nước của các chúa Nguyễn nhằm cai quản đất đai, quản lý dân cư, thu thuế từ hoạt động thương mại và các nguồn lợi khác… đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình tụ cư, khai khẩn của người Hoa, người Việt và các nhóm cư dân bản địa, đặc biệt tạo điều kiện cho hoạt động mở phố chợ chủ yếu do người Hoa chủ trương, dần dần hình thành một vùng dân cư trù mật, chợ phố sầm uất. Trong bối cảnh đó, các cảng thị đã ra đời và phát triển.

     Có một thực tế là cảng thị Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên hình thành, phát triển trong thế kỷ XVII, XVIII và đều suy tàn vào cuối thế kỷ XVIII do những nguyên nhân chiến tranh. Chỉ còn cảng thị Sài Gòn – Chợ Lớn trở thành trung tâm chính trị – kinh tế, một đô thị lớn của Nam Bộ ở thế kỷ XIX. Điều này cho thấy tác động của các hoạt động quân sự đối với sự thịnh suy của các cảng thị này.

     Như vậy, có thể nhận xét rằng trong các thế kỷ XVII – XVIII, các chúa Nguyễn đã để lại những dấu ấn quan trọng cho quá trình đô thị hóa ở Nam Bộ. Các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho việc quần tụ cư dân, phát triển kinh tế, mở mang hệ thống giao thông, giao thương, chọn đặt và tổ chức xây thành lập trấn, làm nên các trung tâm hành chính – quân sự, kinh tế – văn hoá, hình thành nên các cảng thị, nền móng và diện mạo ban đầu của các đô thị sau này.

2. Vai trò của vương triều Nguyễn trong việc tổ chức hệ thống bưu chính:

     Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một trong những bộ sách đồ sộ nhất của kho tàng thư tịch bằng Hán văn của triều Nguyễn. Bộ sách là một tập hợp các chiếu chỉ, nghị chuẩn đã được thi hành, chứa đựng các quy định, thể thức về mọi mặt hoạt động của bộ máy nhà nước từ năm Gia Long thứ 1 (1802) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851). Qua thông tin từ các chỉ dụ đã được thi hành của các vua Nguyễn trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, có thể thấy vai trò cai quản và điều hành quốc gia của vương triều Nguyễn có một nét tiến bộ hơn các triều đại trước, đó là thiết lập hệ thống trạm dịch khắp toàn quốc chuyên lưu chuyển công văn phục vụ việc quản lý của triều đình và địa phương, tổ chức chặt chẽ hoạt động bưu chính trên một đất nước rộng lớn nhất so với các thế kỷ trước đó.

     Hoạt động của trạm dịch được đặt dưới sự cai quản của Ty Bưu chính thuộc Bộ Binh để đảm bảo kỷ luật nghiêm minh, chuyển đạt công văn nhanh chóng, an toàn. Điều hành Ty Bưu chính là các chức Chủ sự, Tư vụ do triều đình bổ nhiệm, có các Thư lại giúp việc do án sát ty của các tỉnh cử đến. Mỗi trạm dịch có một trưởng trạm (Dịch thừa) và một phó trạm (Dịch mục) phụ trách.

     Mạng lưới nhà trạm lấy kinh thành Huế làm trung tâm, tỏa ra phía Bắc tới biên giới Việt – Trung, phía Nam đến biên giới Cămpuchia và Vịnh Thái Lan. Các trạm dịch được đặt cách nhau từ 20 đến 36 lý, tức là khoảng 15 – 25 km. Ngoài việc chuyển đưa văn thư của chính quyền và tin tức quân sự biên phòng, hoạt động của nhà trạm còn bao gồm cả việc vận chuyển vật công. Có lúc nhà trạm còn là nơi cung cấp phương tiện giao thông như ngựa, thuyền cho quan viên qua lại, hoặc là nơi tạm nghỉ chân của sứ giả…

     Hoạt động bưu chính chủ yếu sử dụng trạm đường bộ, gọi là lục trạm. Phu trạm thường chạy bộ. Nếu công việc khẩn cấp và trên công văn có chữ “mã thượng phi đệ” thì phu trạm được phi ngựa để chuyển đi. Tuỳ theo cung đường, mỗi trạm được cấp từ 3 đến 6 con ngựa khỏe và tiền để nuôi ngựa. Các trạm phải chăm ngựa thật cẩn thận chu đáo. Theo quy định bấy giờ, nếu ngựa già yếu, chức dịch nhà trạm phải trình quan sở tại xem xét, xác nhận và hoá giá bán đi, mua ngựa khỏe bổ sung cho đủ số. Nếu ngựa bị bệnh hoặc bị thương tích, nhà trạm phải trình quan tỉnh hoặc quan huyện sở tại cho khám và chữa trị hoặc xác nhận nguyên nhân nếu ngựa chết, làm giấy cam kết nộp cho bộ Binh, đồng thời mua ngay ngựa mới để bổ sung. Nếu trong một năm, nhà trạm làm chết 1 hoặc 2 ngựa thì trưởng và phó trạm sẽ bị xử phạt 40 roi, nếu để 3 ngựa chết sẽ bị phạt 80 trượng (tức là bị đánh 80 gậy). Nếu trong vòng 3, 4 ngày làm chết liền 2 ngựa trở lên mà không do dịch bệnh thì quan cai trạm vừa bị đòn vừa phải bồi thường.

     Tại những vùng có giao thông thủy thuận tiện, những nơi có đầm lầy, sông ngòi dày đặc không thể dùng ngựa được, nhất là các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, việc trạm thường dùng đường thuỷ, gọi là thuỷ trạm. Tại mỗi thuỷ trạm thường có từ 9 đến 10 chiếc thuyền chuyên việc chuyển đưa công văn. Thuyền có mái che, được đóng chắc chắn, thường xuyên được tu bổ.

     Phu trạm có nhiều loại: phu chạy bộ, phu cưỡi ngựa, phu chèo thuyền… Ngoài ra có loại phu chuyên võng cáng quan lại đi công vụ, hoặc gồng gánh các vật công… Phu trạm được tuyển từ dân đinh các làng xã nơi bố trí trạm dịch, theo sự phân bổ của triều đình. Họ được cấp tiền và gạo hàng tháng, được cấp giáo dài và đao nhọn làm vũ khí, được miễn binh dịch và lao dịch. Số phu ở mỗi trạm dịch thường từ 30 đến 100 người, tuỳ theo điều kiện đường sá và khối lượng công việc.

     Do yêu cầu an toàn và bảo mật thông tin liên lạc, công văn giấy tờ gửi đi đều được bỏ vào bì dán kín, cuộn lại cho vào một ống bằng tre gọi là ống trạm, miệng ống được phong kín, ống được cho vào túi vải trắng buộc chặt, tại chỗ buộc được gắn cánh kiến, có đóng dấu địa chỉ gửi công văn. Chiếu văn của vua, chỉ dụ thăng bổ quan lại phải được để vào ống trạm có vẽ rồng. Tất cả các công văn đi và đến đều phải được vào sổ mỗi khi đến trạm. Khi chuyển ống trạm đi, người phu nào cũng phải mang theo vài tờ giấy gọi là tờ trát. Trên tờ trát ghi rõ số người chạy trạm, số ống trạm, nơi đến của từng ống trạm. Mỗi khi đến một trạm chuyển tiếp, ngời phu trạm phải xin đóng ấn chứng nhận thời điểm và số ống trạm được chuyển qua. Căn cứ vào những thông tin đó, các quan chức bưu chính có thể kiểm tra chặt chẽ quá trình chuyển đưa công văn. Đối với những tin tức quan trọng hoặc những việc quân sự cơ mật, phải có vật làm tin gọi là bài trạm. Bài trạm thường được làm bằng ngà hoặc sừng, có khắc chữ “phi tốc”, “hoả tốc”, nơi đặt điếm trạm…

     Nếu có công văn khẩn, các trạm phải tức tốc chuyển gấp, không kể ngày đêm. Mỗi trạm được phát 2 lá cờ màu đỏ thêu chữ “mã thượng phi đệ” để làm hiệu. Các trạm phải chọn vài nắm lông đuôi gà trống dài đẹp, dùng chỉ kết lại và bọc đầu cán cờ. Trên đường chạy trạm, cờ hiệu dùng để báo cho dân chúng biết từ xa, tránh đường cho ngựa trạm phi qua. Phu trạm cưỡi ngựa “chạy có cờ”, nếu lỡ gây tai nạn cho người đi đường cũng sẽ được miễn tội. Trong dân gian còn truyền rằng cọp cũng không dám vồ lính trạm đang chạy việc công.

     Việc chuyển giao công văn đúng hạn rất được coi trọng. Thời hạn đi đường của công văn qua hệ thống trạm dịch được quy định chặt chẽ. Phu trạm chuyển công văn nhanh chóng, sớm hơn thời hạn được thưởng mỗi người một quan tiền. Nếu đến chậm nửa giờ bị xử phạt 30 roi, chậm 1 giờ bị phạt ngay 30 roi, chậm 1 giờ rưỡi bị phạt ngay 40 roi hoặc nặng hơn tuỳ mức độ quan trọng của công văn. Chẳng hạn, theo một bản tâu của bộ Hình năm 1829, có lần phu trạm đưa thư hạng tối khẩn từ Hà Nội về Huế, theo quy định phải chạy trong 4 ngày 6 giờ, nhưng đã đi mất 5 ngày 10 giờ rưỡi. Phu trạm của 35 trạm trong vụ này đều bị xử phạt ngay 40 trượng. Lại dịch ở Thừa Thiên để chậm 2 giờ ruỡi mới đưa thư đến Bộ, bị phạt mỗi người 40 roi. Quan chức bộ Hộ nhận ống trạm xong để sau 2 giờ mới mở xem làm chậm công việc, bị phạt mỗi người 30 roi. Nếu việc chuyển công văn bị chậm trễ do mưa lụt, phu trạm phải có giấy chứng thực của quan sở tại. Nếu văn thư bị ướt, lỡ công việc, quan sở tại sẽ xử phạt 100 roi người phu nào chuyển ống trạm ấy…

     Hệ thống trạm dịch rải khắp con đường thiên lý từ nam ra bắc, có tổ chức chặt chẽ và hoạt động quy củ, đã góp phần đảm bảo sự thông suốt về thông tin liên lạc, một yếu tố quan trọng của quyền lực hành chính thời kỳ vương triều Nguyễn. Qua các chiếu chỉ được ban hành thời các vua từ Gia Long đến Tự Đức và các quy định được thực hiện, việc tổ chức, điều hành hoạt động bưu chính đã phản ánh một phần vai trò quản lý hành chính khá hoàn thiện của vương triều Nguyễn thời này, một thành tựu đáng ghi nhận của văn minh dân tộc thế kỷ XIX.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Góp thêm ý kiến về vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam (Tác giả: TS. Trần Thị Thanh Thanh)