Họ Nguyễn ở Gia Miêu
Tác giả bài viết: Kỹ sư NGUYỄN VĂN THÀNH
(Câu lạc bộ UNESCO các dòng họ Việt Nam)
Họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn nên con cháu đông đúc và nhiều người viết phả từ xa xa.
Nguyễn Phúc tập thế phả. Phả này được thờ ở Thái miếu. Năm 1802, khi xuống chiếu Chiêu vấn công tính công tộc, vua Gia Long đã cử 2 vị học sĩ là Tham tri Lễ bộ, Cần chánh điện Học sĩ, Hanh Thông hầu Nguyễn Phúc Nghĩa và Thái thường Tự khanh, Viên Ngọc hầu Nguyễn Phúc Thái làm việc xét phả nên lúc này họ Nguyễn có khá nhiều phả quý. Hơn nữa, ngoài việc viết ngọc phả của vua chúa nhà Nguyễn là việc Nhà nước, họ Nguyễn có nhiều trung tâm phả lớn, như: Liễu Ngạn, Thuận Thành của họ Nguyễn Gia (Thiều), Vụ Cầu, Mậu Thịnh, Bình Trung…
Từ thời Minh thuộc sang thời Lê, họ Nguyễn ở Gia Miêu là họ Bình Ngô khai quốc vì cụ Nguyễn Công Duẩn tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, có công lớn, được vua Lê Thái Tổ ưu đãi, trở thành gia đình Bình Ngô khai quốc công thần.
Trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn, nhà bác học này đã căn cứ vào phả họ Nguyễn do con cháu xa đời của Chiêu Huân công Nguyễn Cam (trước kia khi đọc nhầm là Kim) cung cấp tư liệu và Lê Quý Đôn đã kết luận: Số ruộng 470 mẫu 5 sào mà vua Lê Thái Tổ ban cho cụ Nguyễn Công Duẩn không phải ruộng thục mà là ruộng hoang của các thế gia đời trước tuyệt tự, cùng ruộng hoang khác của các trang, xã, tổng. Sau khi được ban ruộng hoang, gia đình Nguyễn Công Duẩn phải tự tổ chức khai hoang lấy để ruộng hoang thành ruộng thục mà truyền cho con cháu.
Lê Quý Đôn đã sử dụng phả họ Nguyễn để nghiên cứu vấn đề ruộng đất thời Lê và viết vấn đề ruộng đất thời Lê sơ trong Kiến văn tiểu lục.
Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết về tổ tiên chúa Nguyễn là dòng họ Nguyễn Công Duẩn ở Gia Miêu ngoại trang thời Lê sơ. Họ Nguyễn có hơn 200 người làm quan trong triều (thời Lê Thánh Tông).
Phả họ Nguyễn có chép lại tờ dụ mà vua Lê Thái Tổ ban 417 mẫu 5 sào ruộng (ruộng hoang) cho Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn, tuyên dương công trạng của cụ Nguyễn Công Duẩn trong công cuộc đánh dẹp giặc Minh. Nội dung tờ dụ tuyên dương công trạng này gần đây được Địa chí huyện Hà Trung in lại ở trang 844 và trang 845.
Gia Miêu ngoại trang ngày nay có 2 di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp Nhà nước, đó là: Đình Gia Miêu ngoại trang thờ ngài Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn và Nhà thờ họ Nguyễn Hữu cũng thờ Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn.
Cụ Nguyễn Công Duẩn có 7 người con trai lập thành 7 chi, trong đó người con trai thứ 4 là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác. Cụ Nguyễn Như Trác sinh được một người con trai là Đà Giang Kinh lược sứ Nguyễn Văn Lưu. Lên 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thuộc võ nghệ, dưới triều Hiến Tông (1497 – 1504) ông làm Đà Giang Kinh lược sứ (Trấn thủ xứ Đà Giang, tức vùng Tây Bắc).
Năm 1509, đông đảo người họ Nguyễn theo Nguyễn Văn Lang lập Lê Oanh làm minh chủ để đánh đổ Lê Uy Mục. Nguyễn Văn Lưu về theo Nguyễn Văn Lang có công nên vua Lê Tương Dực phong làm Trừng Quốc công. Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu sinh 2 người con giai:
Chiêu Huân công Nguyễn Cam
Uy Xuân hầu Nguyễn Tông Thái (Tổ họ Bế (Nguyễn) ở Cao Bằng).
Trong Thanh Hóa chư thần lục có ghi 3 vị thần người Gia Miêu ngoại trang được thờ ở Thanh Hóa là:
Hoằng Quốc công.
Trinh Quốc công.
Sảng Quốc công.
Sảng Quốc công là thân phụ Nghĩa Huân vương Nguyễn Văn Lang.
Sảng Quốc công Nguyễn Văn Lỗ là em ruột của Phó Quốc công Nguyễn Như Trác. Sảng Quốc công Nguyễn Văn Lỗ làm nhà ở làng Tâm Quy nay là xã Hà Tân, nên con trai cả là Nghĩa Nhân vương Nguyễn Văn Lang làm quan Thái tể thì cũng ở đất Tâm Quy.
Tất cả con cháu Sảng Quốc công Nguyễn Văn Lỗ hợp lại làm 5 chi, còn chi Chiêu Huân công Nguyễn Kim là chi 4 ở lại tại Gia Miêu ngoại trang, không có ai lên Tâm Quy cả!
Chi thứ 4 là do Phó Quốc công Nguyễn Như Trác sinh ra. Phó Quốc công Nguyễn Như Trác, thụy Đức Khánh, là con thứ 4 Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn. Ông sinh ra Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu. Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu có 2 con giai:
Chiêu Huân công Nguyễn Cam (1468 – 1545).
Uy Xuân hầu Nguyễn Tông Thái (vì chống lại Nhà Mạc nên về sau con cháu ở Cao Bằng).
Năm 1802, khi vua Gia Long ra Bắc có hạ chiếu chiêu vấn công tính công tộc như sau:
Chiếu cho các chi phái biết:
Kể từ khi Tiên Thái vương (chúa Nguyễn Hoàng) định đô Thuận Hóa, thì anh em trong họ ở lại Bắc Thành, từ khi loạn lạc đến nay thì con cháu chìm đắm trong dân trong lính hoặc ở tại địa phương. Nay nhờ ơn liệt thánh (các chúa), ta (vua Gia Long) được nước, là người cùng họ, ta ban chiếu để chi phái công tính từ trước lưu tại Bắc Thành và các trấn báo cáo cho vị Khâm mệnh là Tham tri Lễ bộ, Cần chính điện Học sĩ, Hanh Thông hầu và Thái thường Tự khanh, Viên Ngọc hầu là Nguyễn Phúc Nghĩa và Nguyễn Phúc Thái kê khai các hệ, phái rõ ràng. Hạn trong 1 tháng phải làm xong tâu lên.
Vâng theo đó (Khâm tai).
Trong phả chi 3 công tính có chép một ban ghi như sau: Ngày 26 tháng 9 năm Nhâm Tuất, thừa biên công tính ở tại các phủ, huyện, xã kê như sau:
1 – Chi thứ nhất: 109 viên gồm ở Mậu Lâm – Nga Sơn 23 viên, lại ở xã Mậu Lâm 41 viên, ở Sài Đà Cụ thôn 28 viên, ở Đức 4 viên, ở Gia Miêu 2 viên.
2 – Chi thứ 2 có 77 viên: ở xã Đông Biện huyện Vinh Phúc 22 viên, ở Bút Cương Hoằng Hóa 33 viên, xã Cao Vịnh 20 viên.
3 – Chi thứ 3 cộng 29 viên: Thôn Nguyễn Thượng, huyện Thanh Oai 25 viên, xã Chi Nê huyện Mỹ Lương 4 viên.
4 – Chi thứ 4 Gia Miêu ngoại trang 126 viên: Bình Hòa Nam thôn 11 viên, ở trấn Cao Bằng 33 viên; ở Lê Khê, Hà Xá, Thiết Tháp, Mỹ Lương, Lương Xá các xã ở Hoài Đức cộng 82 viên.
5 – Chi 5: ở Vụ Cầu, Thanh Ba 187 viên; Phù Ninh, Đông Ngàn 7 viên, ở xã Chi Nê 36 viên.
Chi thứ 7 ở xã Nam Đẩu, huyện Đông Quan (nay là Đoan Hùng) 20 viên.
Thực ra, số lượng người công tính lớn hơn nhiều vì nhiều lý do không kê khai hoặc không được công nhận. Ví dụ, dòng họ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều là dòng họ có rất nhiều người viết phả và dòng họ đông nhưng không kê khai, mà chỉ có 7 người đã di cư lên Phù Ninh (Ninh Hiệp) có tên trong danh sách họ công tính. Xét bà con họ Nguyễn ở Gia Miêu khi kê khai nhân công tính có 126 viên.
Năm 1600, khi chúa Nguyễn Hoàng nhân có cuộc nổi dậy của Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, chúa Nguyễn Hoàng giả vờ đi đánh rồi kéo quân theo đường biển vào Nam, có để lại người con thứ 5 là Cẩm Quận công Nguyễn Hải và 2 người cháu nội là con của Lỵ Nhân công Nguyễn Hán gồm Phụ Quận công Nguyễn Hắc và Quận công Nguyễn Hữu Vĩnh, tất cả đều là con cháu cụ Nguyễn Hán.
Những người mang tên họ tôn thất tức là con cháu Nguyễn Cam bao gồm con cháu cụ Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam sinh sống từ năm 1558 hoặc sau đó. Những người này do Tôn Nhân phủ quản lý về nhân sự và quyền lợi. Họ có thể đến ở bất cứ đâu nếu Tôn Nhân phủ cho phép mà không bị gọi là dân ngụ cư. Những người con cháu cụ Nguyễn Hoàng có nguồn gốc miền Bắc không được gọi là họ tôn thất.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Họ Nguyễn ở Gia Miêu (Tác giả: KS Nguyễn Văn Thành) |