Hội nhập và “làm sống lại” di sản văn hoá phi vật thể Hà Nội
Tác giả bài viết: PHAN KHANH
Cả nước ta và Thủ đô Hà Nội đang gia nhập WTO, vươn ra biển lớn. Càng đi vào cuộc sống hiện đại với nhiều cơ hội và thách thức, lại càng phải đề cao, tự hào phát triển văn hoá truyền thống ngàn đời để vững vàng hội nhập với nhân loại theo hướng kết hợp công nghệ hiện đại với bản sắc văn hoá dân tộc. Đó là quy luật đối với tất cả các nước trong quá trình toàn cầu hoá: Ra biển lớn mà không đánh mất mình!
1. Nhận thức và khuyến nghị của UNESCO
Từ Công ước Di sản thế giới (Paris, 1972) trở về trước, trong nhận thức về Di sản văn hoá của nhân loại, UNESCO mới quan tâm đến các di tích khảo cổ, kiến trúc, địa danh văn hoá và tự nhiên trong Danh mục Di sản thế giới, nhưng vẫn chưa đề cập đến di sản văn hoá (DSVH) phi vật thể. Năm 1989, với nhận thức ở tầm quốc tế, UNESCO đã xây dựng văn bản quốc tế bảo vệ DSVH tryền miệng và vô hình của nhân loại; bảo vệ văn hoá truyền thống và văn hoá dân gian (VHDG). Xin điểm những nét chính của các văn bản quan trọng đó để cùng tham khảo:
Tuyên bố về các kiệt tác di sản truyền miệng và vô hình của nhân loại, Paris, 1989 định nghĩa: “Di sản văn hoá phi vật thể (Intangible Cultural Heritage) là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hoá, được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là phản ảnh những mong muốn của một cộng đồng tới mức mà chúng phản ánh được bản sắc văn hoá và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác. Trong số những hình thức sáng tạo, hình thức của dạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác. Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đến thông tin, liên lạc truyền thống”.
Khuyến nghị về việc bảo vệ Văn hoá truyền thống và văn hoá dân gian, Paris, 1989 xác định: “Văn hoá dân gian (hoặc văn hoá truyền thống và bình dân) là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hoá, được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là đã phản ảnh những ý nguyện của một cộng đồng ở mức mà chúng phản ánh bản sắc văn hoá và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác. Các thể loại VHDG là ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác”.
“Các loại hình VHDG truyền thống vốn cực kỳ mỏng manh, rủi ro, nhất là loại hình VHDG truyền miệng. Tất cả các quốc gia cần thiết phải công nhận vai trò của VHDG và những nguy cơ đe doạ và đối mặt trước nhiều yếu tố khác nhau đang đe dọa làm biến mất. Các chính phủ phải đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ VHDG và cần thực hiện vai trò đó càng sớm càng tốt”.
Mục tiêu của công tác bảo tồn và phổ biến DSVH phi vật thể là nghiên cứu thu thập, lưu giữ và phổ biến những ký ức của một cộng đồng người, của các dân tộc. Trước tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, hội nhập quốc tế, trước sự phổ cập thông tin đại chúng đa dạng đến áp đảo, UNESCO khuyến nghị các nước cần ưu tiên đảm bảo quyền của người sáng tạo và truyền bá các giá trị VHDG, cần hỗ trợ tinh thần, vật chất cho truyền thống VHDG đang tồn tại ở địa phương mình. Cần xây dựng chương trình học, giảng dạy, mở festival, hội thảo, nghiên cứu, thu thập, lưu trữ (chụp ảnh, ghi chép, mô tả cách sống, kỹ năng bằng cách quay băng, ghi đĩa VCD để phổ biến các giá trị VHDG, góp phần tăng cường hiểu biết đa dạng văn hoá và những cách nhìn thế giới khác nhau.
2. Nhận thức DSVH phi vật thể của Luật DSVH nước ta
Luật DSVH nước ta được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001 khẳng định: “DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. “DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết; truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác” (Điều 4). “Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ DSVH phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền” (Điều 20); “tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phát triển nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt” (Điều 28); “bảo vệ, phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống, nếp sống của dân tộc, bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hoá của nhân dân” (Điều 22); “khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng dụng những tri thức về y dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hoá ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác” (Điều 24).
Trải qua hàng ngàn năm, cùng với cư dân gốc, bản địa ở vùng núi Nùng, sông Nhị, bà con từ vùng đồng bằng Bắc Bộ và cả nước đã hội tụ về đất kinh kỳ, cùng lao động mưu sinh và sáng tạo nên bộ mặt văn hoá đặc sắc Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến. DSVH phi vật thể là “cái hồn, cái phách” của “cái hình hài hiện hữu” của DSVH vật thể. Trong bất kỳ một DSVH vật thể nào cũng ẩn chứa những DSVH phi vật thể vô cùng phong phú, giàu ý nghĩa. Cùng với Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Thăng Long còn biết bao câu chuyện sinh động về sự nghiệp đào tạo nhân tài đất Việt qua khoa cử Nho học của đất nước ta trong suốt hơn tám thế kỉ dưới các triều đại phong kiến, trước khi có chữ quốc ngữ.
3. Thực trạng và giải pháp
Thăng Long – Hà Nội có một kho tàng DSVH phi vật thể rất phong phú về loại hình, tiêu biểu về sự tinh tế, độc đáo về cách thể hiện, đặc sắc về giá trị lịch sử văn hoá. Đường lối xây dựng “Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Luật DSVH và chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật đang góp phần tích cực trong việc phục hồi, khai thác DSVH phi vật thể ở Thủ đô Hà Nội.
Từ khi đất nước đổi mới, với nhận thức cởi mở hơn, bớt giáo điều, xơ cứng, ta đã bước đầu khảo sát, thu thập, đánh giá vốn DSVH phi vật thể ở Hà Nội. Các thuần phong mỹ tục như lễ tết dân tộc vẫn được mọi gia đình ở nội thành, ngoại thành Hà Nội thành kính thực hiện hằng năm. Đó là tục thờ cúng tổ tiên, ngày giỗ ông bà, ông vải, tết Nguyên đán, lễ Giao thừa, lễ cúng Rằm tháng giêng, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng bảy, tết Trung thu, tết ông Táo v.v… Các lễ cưới, lễ tang ở Hà Nội vẫn giữ được nét văn minh, thanh lịch, giản dị, đậm bản sắc dân tộc, tuy nhà này nhà khác có gia giảm, cách tân đôi chút cho bớt rườm rà, phiền phức; ngoại trừ một số nhà có chức quyền, giàu có, khoe mẽ, “bán” cỗ cưới.
Tuy nhiên các lễ hội đặc sắc ở Hà Nội còn quá ít. Các tục hèm, tục hát múa thờ, lễ vật đặc biệt dâng thánh… đã bị mai một nhiều. Nếp sống văn minh, thanh lịch, trọng nghĩa khinh tài, nói năng nhẹ nhàng, thuận hoà, kính trên nhường dưới, trong ấm ngoài êm, hiếu học, tôn sư trọng đạo, thanh lịch, giản dị, tiết kiệm… đang bị đồng tiền, lối sống gấp, thực dụng… lấn át hầu như chỉ còn thấy trong hành vi, trong cách đối nhân xử thế ở những người cao tuổi. Phố cổ Hà Nội với các phố nghề, di tích thờ các vị tổ nghề, nhiều làng nghề truyền thống đang mai một dần, do kém cải tiến, khó tìm đầu ra cho sản phẩm. Các trò chơi dân gian ở ngoại thành được phục hồi, nhưng chỉ tổ chức vui chơi vào các dịp lễ tết, chưa được tích cực khai thác vào hoạt động văn hoá thể thao hằng ngày ở cơ sở và phục vụ du lịch.
DSVH phi vật thể vốn tồn tại ở một địa phương cụ thể, từ đó tạo nên tính đặc thù của đời sống văn hoá tinh thần của một làng, phường xã cụ thể: các hội đền Gióng, đền Sóc, hội Cổ Loa, đền Sái, hội vật Mai Động, hội bơi thuyền làng Đăm, hội thổi cơm thi Thị Cấm, Từ Liêm, hội đền Voi Phục, hội đình Kim Liên; hát múa ải Lao, múa Bồng Triều Khúc, hát ca trù Lỗ Khê; rối nước Đào Thục, tranh Hàng Trống, các nghề làm giấy, cốm làng Vòng, gốm sứ Bát Tràng… Một số công trình nghiên cứu đã khảo tả các DSVH phi vật thể của Hà Nội, nhưng vẫn chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí và hình thành các “bảo tàng sống” về văn hoá dân gian ngay trên quê hương của chúng. Vấn đề quan trọng là pháp lý hoá để bảo tồn, phát huy lâu dài, trước tiên là lập hồ sơ khoa học, ghi âm ghi hình, lưu trữ, xếp hạng công nhận DSVH phi vật thể thống nhất. Việc tổ chức tập luyện, phục dựng và hoạt động, đều còn nhiều bất cập.
Trong vốn DSVH phi vật thể ở Hà Nội còn khá nhiều văn bản, di sản Hán – Nôm. Trước khi có chữ quốc ngữ, chữ Hán và chữ Nôm là chữ viết phổ biến ở nước ta. Ông bà ta thường thông qua các đại tự, câu đối ở đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ… để răn dạy con cháu về đạo làm người. Nhiều thần phả, sắc phong, văn tế… đang bị mục nát, mất trộm. Sự đứt đoạn với chữ Hán-Nôm là một nguy cơ đối với việc kế thừa những tinh hoa DSVH phi vật thể ngàn năm của chính ông bà ta. Cùng với việc năng động tiến vào “thế giới phẳng”, bên cạnh công nghệ thông tin và các môn học tiếng nước ngoài, cũng cần đưa vào chương trình giáo dục phổ thông môn học Hán – Nôm để các thế hệ sau hiểu biết nhiều hơn về cội nguồn văn hoá của ông bà ta xưa.
Nhiều DSVH phi vật thể ở Hà Nội đã được nghiên cứu, phân cấp quản lý xuống cơ sở. Nhưng trong phân cấp quản lý lại thiếu những quy định, quy ước, chính sách, chế độ hỗ trợ thật cụ thể về tập luyện, trang phục, đạo cụ, để tổ chức các cuộc thi, các buổi biểu diễn định kỳ, có động viên, khen thưởng cụ thể (dù nhỏ, nhưng phải thật cụ thể). Chính vì thế, cho nên hoạt động bảo tồn, phát huy DSVH phi vật thể ở cơ sở chưa đi vào nề nếp. Cần phải đặt ra những câu hỏi cụ thể, giải đáp ngắn gọn, chính xác trong hồ sơ và trong quản lý DSVH phi vật thể ở cơ sở như:
Tại sao phải bảo vệ DSVH phi vật thể (nguồn gốc, ngữ nghĩa nội dung)?
Tổ chức bảo vệ, phát huy ở đâu, như thế nào?
Trách nhiệm, quyền lợi (nhà nước, chủ sở hữu, người mới học)?
Các điều kiện, phương tiện để bảo vệ, tập luyện, phát huy?
Sự hỗ trợ về chính sách và vật chất của chính quyền cơ sở?
Quy chế, quy ước bảo vệ, phát huy DSVH phi vật thể cụ thể?
Chế độ kiểm tra, đánh giá định kỳ và thưởng phạt hằng năm?
Nếu không đề xuất, giải đáp được những câu hỏi thật cụ thể như vậy, thì cuối cùng DSVH phi vật thể lại rơi vào tình trạng “đánh trống, bỏ dùi”, không có ai đánh tiếp và lại rơi vào quên lãng, rồi lại lo phục hồi!
Trong cơn lốc công nghiệp hoá, đô thị hoá, ở nhiều vùng nông thôn ngoại thành, đất đai mất dần, tính cộng đồng làng xã bị phá vỡ. Do đó thực tế đang thiếu môi trường thuận lợi để bảo tồn, phát huy các giá trị DSVH phi vật thể của làng quê lâu đời Thăng Long – Hà Nội. Trong khi đó, thực tế, tại phường (xã), thôn, kho tàng DSVH phi vật thể vẫn chưa được chính quyền cấp cơ sở cho kiểm kê, ghi chép, chụp ảnh, ghi băng hình, phục dựng… một cách có bài bản chặt chẽ, do không có kinh phí. Tại cấp quận (huyện), nhất là cấp phường (xã) ở Hà Nội hầu như đều thiếu cán bộ văn hoá có trình độ chuyên môn, biết cách tổ chức hoạt động văn hoá dân gian và hiện đại ở cơ sở. Cán bộ quản lý văn hoá cấp phường (xã), quận (huyện) thường thay đổi theo nhiệm kỳ HĐND, UBND địa phương. Các đoàn thể ở phường (xã) Hà Nội là những nhân vật chính vừa bảo vệ, vừa hoạt động phát huy DSVH phi vật thể ở cơ sở. Nhưng “mỗi đoàn thể một năm chỉ được khoán vẻn vẹn có 10 triệu đồng (cả tiền lương biên chế và kinh phí hoạt động). Với số tiền ít ỏi như thế, rất khó cho các tổ chức đoàn thể hoạt động” (Theo Báo Hà Nội mới ngày 17/10/2006, ý kiến của đ/c Trần Thị Thanh Nhàn, Bí thư Quận uỷ Hoàng Mai).
Để khắc phục cách quản lý nặng về sự vụ hiện nay, chạy theo việc mà giải quyết, cần phải xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn và quy chế thật cụ thể, chi tiết về pháp lý và chuyên môn theo quy định của Luật DSVH, để các cán bộ quản lý ở cấp quận (huyện), phường (xã), nhất là nhân dân ở thôn, tổ dân phố dễ hiểu, cứ đối chiếu các tiêu chuẩn, quy định cụ thể mà thi hành, nếu ta muốn đưa công tác bảo vệ, phát huy DSVH phi vật thể Thủ đô đạt trình độ, chất lượng quốc tế.
Đặt vấn đề như thế cũng không phải quá cao xa, khó đạt tới. Không ít nhà máy, cơ quan nước ta sau một số năm xây dựng, đã điều chỉnh hoạt động theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9000 (bộ tiêu chuẩn quốc tế về quản lý, đảm bảo chất lượng do “Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000” công bố năm 1987). Việt Nam cũng đã có bộ tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000 với Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001 và tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9002. Cần tham khảo các tiêu chuẩn đó để xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy chế bảo vệ, phát huy DSVH ở Hà Nội và cả nước ta.
Cũng cần đầu tư kinh phí lâu dài, xây dựng chương trình (chính khoá, ngoại khoá) để đưa vốn nghệ thuật truyền thống chèo, tuồng, đặc biệt là hát, múa dân gian Hà Nội vào giảng dạy ở các trường phổ thông của Thủ đô. Vấn đề tưởng dễ, nhưng phải có quyết tâm chiến lược mới làm nổi. Cách đây mươi năm, chúng tôi đã tận mắt xem hơn một nghìn em học sinh một trường tiểu học ở Băng-cốc (Thái Lan) trong tiết học thể dụcnghệ thuật ở sân trường với đủ trang phục, đạo cụ đồng diễn say sưa, nhanh nhẹn điệu múa “Dù Kê” được xem là bản sắc văn hoá dân tộc của Thái Lan. Các học sinh nhỏ tuổi Hà Nội cũng cần phải được học, luyện tập, cùng đồng diễn nghệ thuật cổ truyền như thế thì mới hình thành niềm tự hào về vốn văn hoá nghệ thuật của cha ông và ngăn bớt phần nào sự lấn át của trào lưu hip-hop đang rất thịnh hành. Cần tăng kinh phí cho các quận (huyện), phường (xã), thường xuyên tổ chức các cuộc liên hoan nghệ thuật quần chúng, đặc biệt ở các làng xã có truyền thống về nghệ thuật cổ truyền và tặng các danh hiệu “Nghệ sĩ dân gian” để tôn vinh những người có công bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống của cha ông.
Kết luận
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trước sự tràn ngập của văn hoá ngoại nhập, kho tàng DSVH phi vật thể của Thủ đô đang bị lấn át, mai một dần. Trong khi đó nhận thức của cán bộ quản lý các cấp về vị trí, tầm quan trọng sống còn của DSVH phi vật thể còn hời hợt. Khi nền kinh tế thị trường phát triển, mức sống của người dân Hà Nội được cải thiện hơn, do nhu cầu văn hoá tâm linh chân chính, bà con thường đến các di tích lễ bái cầu phúc, cầu tài, cầu lộc và tự nguyện tham gia phục hồi các lễ hội, múa hát dân gian cổ truyền do chính họ sáng tạo ra. Vận động, quyên góp kinh phí được đến đâu, thì tuỳ tiện phục hồi DSVH phi vật thể đến đấy, thậm chí chắp vá, làm biến dạng giá trị nguyên bản của di sản.
Cần xây dựng tiêu chuẩn, quy chế và dành kinh phí tối thiểu để bảo vệ DSVH phi vật thể, nghiên cứu phục dựng đúng bài bản cổ truyền và mua sắm thêm đạo cụ, trang phục, tổ chức tập luyện, trình diễn… vừa làm sống lại di sản, vừa để phát huy trong đời sống tinh thần nhân dân ở cơ sở, phục vụ du lịch và cũng để lưu truyền cho con cháu mai sau. DSVH là sức sống bền vững, là biểu tượng dân tộc. Sự hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến việc văn hoá từ bên ngoài tràn vào, dù có chọn lọc. Sự mai một dần các giá trị DSVH dân tộc, nhất là DSVH phi vật thể sẽ làm suy giảm sự gắn kết cộng đồng, suy yếu sức sống văn hoá dân tộc, kể cả sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hoá và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Luật Di sản văn hoá (2002), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. UNESCO (1989), The Recommendation on the Safeguarding of Traditional Culture and Folklore, Paris.
4. UNESCO (1989), First Proclamation of Masterpieces of the Oral and Intangible Heritage of Humanities, Paris.
Trích dẫn tệp PDF từ: Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Hội nhập và “làm sống lại” di sản văn hoá phi vật thể Hà Nội (Tác giả: Phan Khanh) |