Nghệ thuật tạo hình Trống đồng ở Việt Nam

FIGURATIVE ART OF THE BRONZE DRUMS IN VIỆT NAM

Tác giả bài viết: TRỊNH SINH

TÓM TẮT

     Tác giả trình bày sơ lược về các loại trống đồng, cách phân chia thành 4 loại của F. Heger. Trong đó, loại I Heger ở Việt Nam được phân chia thành 5 nhóm và được gọi chung là trống Đông Sơn. Trống Đông Sơn có vẻ đẹp về mặt tạo dáng, đáp ứng được chức năng âm nhạc và muộn hơn là chức năng mô hình vũ trụ hay biểu tượng quyền lực thủ lĩnh. Trống còn có vẻ đẹp về mặt trang trí hoa văn theo các mảng, các họa tiết được tạo ra bằng tay nên rất có hồn. Hoa văn trên trống đồng đa dạng, phản ánh hiện thực của cư dân Đông Sơn cách đây hơn 2000 năm.

Từ khóa: Nghệ thuật tạo hình, trống đồng loại I, Heger, Đông Sơn.

ABSTRACT

     The author presents a sketch of all bronze drum types in general and the four types as classified by F. Heger in particular. Among the latter, the Heger Type 1 drums found in Việt Nam are further divided into five groups and commonly known as Đông Sơn drums. The Đông Sơn drum has a nice shape and fulfills its function initially as a musical instrument and later as a model of the universe and a symbol of top leadership. It is also beautiful for its decorative designs arranged in groups and vividly hand-made patterns, which are much different from the mass-printed ones found on the others. The patterns on the Đông Sơn drum are varied, reflecting the reality of Đông Sơn residents over 2,000 years earlier.

Keywords: figurative art, Type 1 drum, Heger, Đông Sơn.

x
x x

     Trống đồng, nghĩa là trống bằng đồng, được chế tạo bằng cách đúc. Lúc nhân loại mới biết đúc đồng thì họ chưa sáng tạo ra trống, mà phải hàng ngàn năm sau đó, loài người mới biết đúc loại hiện vật độc đáo này. Có lẽ lịch sử trống đồng đã kéo dài hơn 2000 năm. Cuối thế kỷ 19, người ta còn thấy ở cộng đồng người Shan (Mianma) còn đúc trống.

     Loại hình trống đồng cũng hết sức phong phú. Đã có nhiều nhà khoa học phân loại trống đồng từ cách đây hơn một thế kỷ. Tiêu chí phân loại cũng có sự đa dạng. Thông thường là phân loại dựa theo hình dáng và hoa văn. Cũng có khi phân loại theo vùng địa lý: như trống Shan (còn gọi là trống Miến Điện), trống Trung Quốc. Có khi phân loại theo tộc người như trống Mường hoặc theo nền văn hóa: trống Thạch Trại Sơn, trống Đông Sơn, trống Moko ở Indonesia… Chỉ riêng ở ta cũng đã có nhiều loại trống đồng: Có dạng trống một mặt liền, còn một mặt thủng mà chúng ta quen gọi là trống đồng Đông Sơn hay trống Mường chẳng hạn. Nhưng cũng có dạng trống đồng 2 mặt đều kín giống như trống da đang được treo ở trong đền Đồng Cổ (phố Thụy Khuê, Hà Nội). Có trống thì hình trụ, thấp như trống đồng Cảnh Thịnh thời Tây Sơn, được đúc năm 1800.

     Nhìn chung, trống đồng có mặt suốt từ hơn 2000 năm nay trên đất nước ta và đã có một “văn hóa trống đồng” ăn sâu vào cuộc sống, tâm thức của người Việt Nam. Người Việt Nam thờ Thần Trống Đồng trong các đền Đồng Cổ (tiếng Hán cổ nghĩa là trống) ở 5 nơi. Văn hóa trống đồng đi vào tâm linh, vào tín ngưỡng dân tộc qua câu truyện truyền thuyết được ghi trong Việt Điện U Linh (1029), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1479), Lĩnh Nam Trích Quái (1492-1493). Văn hóa trống đồng còn thể hiện trong thần tích của làng Thượng Lâm, do Đinh Tiên Hoàng ban thưởng một chiếc trống đồng để làm trống thờ, mà theo các nhà khoa học có thể đấy là trống Miếu Môn hiện nay được lưu giữ ở Bảo tàng Hà Nội.

     Trống đồng ở Việt Nam còn nổi tiếng hơn khi góp phần vào cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Khi đó sứ giả nhà Nguyên tên là Trần Phu sang Thăng Long, trong lúc xem quân dân Đại Việt thao diễn quân sự, nghe tiếng trống đồng mà run sợ, tóc chợt bạc trắng:

     “Kim qua ảnh lý đan tâm khổ Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh” (Nhìn bóng giáo gươm, lòng đau khổ Nghe tiếng trống đồng, tóc bạc phơ)

     Cũng không thể nào biết được tiếng trống đồng mà Trần Phu nghe được có thuộc loại hình trống đồng Đông Sơn cách đây hơn 2000 năm không, vì không còn tư liệu hình ảnh nào lưu giữ. Nhưng một điều chắc chắn là tiếng trống đồng với âm khí hào hùng, đã từng vang lên giữa Thăng Long làm quân thù khiếp vía.

     Sơ qua vài nét về trống đồng như vậy, mới thấy lịch sử phát triển trống đồng cũng khá đa dạng, mà qua bài này chúng tôi chỉ đề cập đến những chiếc trống đồng phổ biến và mang nhiều giá trị lịch sử, được các học giả quan tâm từ cuối thế kỷ 19 và có khá nhiều bảng phân loại xoay quanh những chiếc trống đồng này.

Hình 1: Loại I Heger, Trống Cổ Loa

     Hơn một thế kỷ trôi qua, nhưng bảng phân loại của học giả người Áo F. Heger (F. Heger 1902) vẫn còn giá trị và được nhiều học giả trong và ngoài nước thừa nhận và sử dụng. Chúng tôi muốn giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản về 4 loại trống đồng như sau:

     Loại I, thường được gọi là loại I Heger, là loại cơ bản, cổ nhất. Thân trống chia 3 phần rõ rệt: tang phình, thân thon, chân choãi. Mặt trống phần nhiều không tràn ra ngoài tang. Giữa mặt thường trang trí ngôi sao 12 cánh. Trên mặt các trống muộn có các khối tượng cóc. Hoa văn bố trí theo vành hay ô theo từng tổ hợp. Trống loại I Heger phát hiện được nhiều ở Việt Nam và được nhiều nhà khoa học đặt tên là trống Đông Sơn.

     Loại II có hình dáng đơn giản hơn, ít phân chia nhưng phần lớn vẫn thấy được ba phần. Rìa mặt thường có tượng cóc. Ngôi sao giữa mặt trống có hình u tròn và có các tia nhọn, có thể coi đó là biểu tượng mặt trời. Trang trí đơn giản phần lớn là hoa văn hình học như ô trám. Trống loại II tìm thấy nhiều ở vùng cư trú của tộc người Mường (Việt Nam) và được một số nhà khoa học Việt Nam đặt tên là trống Mường.

Hình 2: Loại II Heger, Trống Thanh Hóa

     Loại III có rìa mặt chườm ra khỏi tang. Phần trên là một đoạn ngắn gần giống hình trụ. Phần giữa đột nhiên thon lại và đoạn dưới cũng lại có hình trụ. Ngôi sao giữa mặt trống thường có 12 hay 8 cánh, rìa mặt có các khối tượng cóc. Chính trống loại này được các nhà khoa học gọi là trống Shan.

     Loại IV có thân chia làm hai phần. Mặt trống vừa khít thành tang. Ngôi sao ở giữa mặt thường chỉ có 12 cánh. Thường không có tượng cóc trên mặt trống. Các nhà khoa học đầu thế kỷ 20 mệnh danh loại IV là “trống Trung Quốc”

     Bên cạnh 4 loại trống chủ yếu trên, F. Heger còn ba dạng trống trung gian nữa là I-II, I-IV và II-III. Những loại trống trung gian này tìm được không nhiều.

     Giới thiệu vài nét cơ bản về các loại trống đồng, chúng tôi hy vọng người đọc có được cái nhìn khái quát về trống đồng. Mỗi loại trống đồng đều có vẻ đẹp riêng mà chúng tôi sẽ lần lượt đi sâu vào từng loại ở góc nhìn nghệ thuật tạo hình.

1. Trống loại I Heger.

     Theo tiêu chí phân loại của Heger thì có khu vực phân bố trống loại I như miền nam Trung Quốc, chủ yếu ở Vân Nam thường được gọi là trống đồng Thạch Trại Sơn. Ở Việt Nam thường được gọi là trống Đông Sơn. Một số trống loại I còn thấy ở các vùng Đông Nam Á lục địa (Lào, Căm Pu Chia, Malaysia, Thái Lan) và Đông Nam Á hải đảo (Indonesia). Các nhà khoa học cho rằng trống ở các vùng Đông Nam Á là trống Đông Sơn được đem đến vùng đất này do giao lưu văn hóa giữa cư dân Đông Sơn với cư dân bản địa.

     Trống Đông Sơn được coi là do cư dân văn hóa Đông Sơn chế tạo vào khoảng vài thế kỷ trước Công Nguyên. Các nhà khoa học đã chứng minh được nhiều trống đồng Đông Sơn được đào ngay trong lòng đất của địa bàn phân bố văn hóa Đông Sơn tức là miền bắc Việt Nam. Kỹ thuật đúc đồng của cư dân Đông Sơn đạt được đỉnh cao với cách đúc khuôn hai mang bằng đất nung, thích hợp với việc đúc những hiện vật lớn như trống đồng. Thực tế, các nhà khảo cổ đã tìm được mảnh khuôn đúc trống ở Bắc Ninh. Các công cụ đúc như nồi nấu đồng, rót đồng cũng được phát hiện. Những hình ảnh trang trí hoa văn trên trống cũng là hình ảnh của một xã hội Đông Sơn, nhất là có những hiện vật độc đáo chỉ có trong văn hóa Đông Sơn trên trống như chiếc rìu xéo đồng gót vuông-một loại vũ khí lợi hại cũng có mặt. Vì thế, dường như các học giả trong và ngoài nước đều công nhận trống Đông Sơn là hiện vật bản địa.

Hình 3: Loại III Heger, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

     Thống kê mới nhất cho thấy nước ta có khoảng 600 trống đồng các loại và hơn 100 trống đồng minh khí. Trong đó, trống Đông Sơn chiếm khoảng 32 % (tức vào khoảng gần 200 chiếc) chưa kể số lượng trống minh khí vừa kể, thực ra cũng là trống Đông Sơn có kích thước thu nhỏ dùng để làm đồ tùy táng chôn theo người chết (Bảo tàng Thanh Hóa 2013: Hình 2). Cũng cần nói thêm rằng số lượng trống Đông Sơn này còn chưa tính đến những chiếc trống Đông Sơn trôi nổi trong các sưu tập đồ cổ tư nhân ở ta và cả sưu tập đồ cổ tư nhân hoặc của các Bảo tàng trên thế giới có được do sự mua bán đồ cổ xuyên quốc gia. Ở Việt Nam, trống Đông Sơn được đúc ở miền Bắc nước ta và đấy cũng là nơi tìm được trong lòng đất nhiều nhất. Ngoài địa bàn phân bố văn hóa Đông Sơn, một số khu vực miền trung, Tây Nguyên và Nam bộ cũng tìm thấy trống Đông Sơn. Đó là do giao lưu văn hóa giữa các tộc người thời đó mà trống Đông Sơn đã được mang tới, chủ yếu bằng con đường ven biển và ngược những cửa sông lớn.

     Vài nét phác thảo về trống Đông Sơn như vậy đã cho thấy loại hiện vật này có số lượng đông đảo, loại hình phong phú. Từ một kho tư liệu đồ sộ này, chúng ta đã có thể phân tích kỹ lưỡng hơn về vẻ đẹp của trống Đông Sơn hay nói một cách khác là về nghệ thuật tạo hình của chúng. Nhưng, trước tiên chúng ta cũng cần điểm qua vài nét khái lược về nhóm, kiểu trống Đông Sơn theo góc nhìn của các nhà khảo cổ học mỹ thuật.

     1. 1. Các nhóm trống Đông Sơn

     Có thể nói dáng trống đồng Đông Sơn đẹp nhất trong số các loại trống đồng. Tiêu biểu chính là dáng của trống (mà các nhà khảo cổ Việt Nam) xếp vào nhóm A. Bên cạnh đó còn có nhóm trống B, C, D, Đ nữa. Trong 5 nhóm này lại còn phân loại chi tiết hơn thành 22 kiểu (Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh 1987). Tiêu chí để xếp nhóm và kiểu dựa chủ yếu vào dáng trống, sau đó mới đến là biến diễn của hoa văn trên trống mà chúng tôi sẽ trình bày tóm lược các đặc trưng cơ bản của từng nhóm trống này.

     1.1.1. Trống nhóm A có dáng cân đối, hài hòa, chia ba phần rõ rệt, chiều cao của tang và lưng xấp xỉ nhau. Trống thường có kích thước lớn. Hoa văn trang trí phong phú, tinh tế, bố cục hài hòa, khéo léo. Ngoài hoa văn hình học phù trợ, các vành hoa văn chủ thể ở mặt, tang và lưng trống tả cảnh người, vật và động vật theo phong cách tả thực. Điển hình cho nhóm trống A là các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa, Sông Đà.

     1.1.2. Trống nhóm B chia ba phần rõ rệt nhưng không cân đối như trống nhóm A. Đối với những trống thuộc dòng lưng thẳng, thì lưng trống thu nhỏ và kéo dài, chiều cao lưng thường lớn hơn chiều cao tang nên trống có dáng thon cao. Đối với những trống thuộc dòng lưng choãi thì chân trống ngắn và choãi nhiều. Hoa văn trang trí đơn giản. Các vành hoa văn tả thực chỉ còn giữ lại 1 vành chim bay. Các vành hoa văn hình học có sự phân hóa rõ ràng giữa hai dòng trống lưng thẳng và choãi. Điển hình cho những trống nhóm B là trống Duy Tiên, Yên Tập.

     1.1.3. Trống nhóm C có đặc trưng: thân vẫn giữ truyền thống chia ba phần cân đối, lưng thẳng, hình trụ, chân cao. Kích thước lớn hoặc trung bình, cá biệt có loại nhỏ. Hoa văn trang trí trên nhóm trống này phong phú như trên nhóm A nhưng ở mức độ cách điệu hóa cao hơn theo xu thế biến hình thể. Nhiều hoa văn hình học mới xuất hiện. Hoa văn người múa hóa trang lông chim biến thành hoa văn cờ. Hoa văn đường gấp khúc cắt nhau thành hình trám, hoa văn chữ N có tam giác đệm trở thành phổ biến, hoa văn hình trám, đồng tiền, hình chim cầu kỳ hơn, các khối tượng cóc trên mặt và một số hoa văn trang trí ở phần chân trống đã xuất hiện. Điển hình cho nhóm này là trống Hữu Chung, Đông Hiếu, Thành Vân.

     1.1.4. Trống nhóm D có đặc trưng: Tang trống phình rộng, lưng hình nón cụt, rất choãi, chân ngắn. Dáng lùn và thô, không cân đối, gần giống với dáng của chiếc nồi lật úp. Kích thước nhỏ hoặc trung bình. Hoa văn trang trí sơ sài. Ngôi sao giữa mặt thường có tâm hình một u tròn, cánh sao thường có hình tia mảnh. Có học giả cho rằng, trống này có niên đại sớm nhất trong số trống Đông Sơn vì hoa văn và kỹ thuật đúc đơn giản hơn các nhóm khác. Điển hình cho nhóm này là trống Đào Xá, Tùng Lâm, Hải Bối.

     1.1.5. Trống nhóm Đ: Trống không còn giữ được dáng cân đối mà ranh giới giữa tang và lưng không rõ. Ranh giới lưng và chân rõ rệt và tạo thành đường gờ nổi cao. Rìa mặt chờm nhiều khỏi tang. Hoa văn trên trống đã có những nét chuyển hóa từ trống loại I Heger sang loại II và IV Heger. Có thể coi trống nhóm Đ là sự tiếp tục truyền thống Đông Sơn. Điển hình cho nhóm này là trống Làng Vặc, Na Dương, Hích.

     1.2. Vẻ đẹp của dáng trống Đông Sơn.

     Dáng trống Đông Sơn là đẹp nhất trong các loại trống mà F. Heger đã phân loại.

     Trước tiên, chức năng âm nhạc ban đầu của trống đồng là điều không thể phủ nhận được. Trống có tang phình, chân loe chân đối, vì thế khi đánh trống ở giữa mặt, sẽ tạo ra được âm trầm hùng mà thanh thoát. Các nhà nghiên cứu âm nhạc đã từng đánh trống Ngọc Lũ trong công trình thực nghiệm của mình, đã rút ra kết luận âm thanh trống khi đánh ở mặt, tang, lưng đã cho nhiều âm độ khác nhau, nhưng đánh ở giữa ngôi sao trên mặt thì có độ vang xa hơn. Trên mặt một số trống đồng Đông Sơn còn cho thấy cảnh người xưa đặt 4 chiếc trống đồng nằm sấp trên sàn nhà sàn mái cong và mỗi trống có 1 người cầm dùi gõ thẳng từ trên xuống dưới mặt trống. Âm thanh được thoát ra ở phần rỗng dưới chân, qua mặt sàn của nhà, vang vào núi rừng, tạo ra hiệu quả trầm hùng đặc sắc mà như chỉ trống đồng mới có được. Theo như kinh nghiệm của người xưa có lẽ tạo dáng trống hoàn chỉnh như ở chiếc trống Hoàng Hạ đã cho ra được những âm thanh tốt nhất, . Với chất liệu đồng thau, mặt trống có đường kính lớn, độ dày mặt trống mỏng đã tạo ra được một độ rung tốt như một dạng màng rung được làm từ nguyên liệu da động vật, nhưng lại cho ra những âm thanh đặc trưng.

     Vậy là, về góc độ âm nhạc, tạo dáng trống Đông Sơn đã là một dạng hoàn chỉnh để phát huy khả năng âm thanh. Chưa kể người xưa không chỉ đánh 1 trống mà sử dụng cả một dàn trống như hình khắc họa trên trống Ngọc Lũ, lại kết hợp với một dàn nhạc cụ khác như khèn bàu, sênh phách, chuông, trống da hai mặt… để tạo ra những hòa âm thích hợp.

     Nhưng, ngoài chức năng âm nhạc, trống Đông Sơn còn có thể là một mô hình “vũ trụ” thu nhỏ, nếu như ta so sánh với quan niệm thế giới của người Mường chẳng hạn. Vũ trụ gồm có 3 tầng và 4 thế giới (thế giới trên trời, thế giới dương gian, thế giới nước, thế giới âm phủ). Nếu so sánh với tài liệu dân tộc học, thì cũng nhiều khả năng trống đã là một mô hình vũ trụ chăng? Mặt trống là thế giới trên trời với chim bay và thế giới dương gian với người múa và hươu chạy. Tang trống là thế giới nước với những chiếc thuyền đua. Lưng trống là thế giới âm phủ với hình khắc tục đâm bò hay trâu trong lễ hiến tế. Nếu trống Đông Sơn là một mô hình vũ trụ, thì người xưa phải có cách tạo dáng thích hợp để có thể “trưng” ra hết vẻ đẹp của những quan niệm, tâm thức của mình về vũ trụ. Vì thế mà phần mặt trống dễ được ưu tiên trong góc nhìn mỹ thuật, sẽ là mảng rộng dùng để khắc họa hoa văn, nổi trên đó là ngôi sao đúc nổi, nhiều trống Đông Sơn muộn lại được bố trí tượng cóc ở rìa mặt, tạo ra một hiệu ứng nổi bật, hình tượng mặt trời trung tâm (được cách điệu bằng sao nhiều cánh), 4 tượng cóc “cầu trời mưa xuống” ở 4 “góc” của rìa mặt. Về mặt xử lý tạo khối, đó là những tượng cóc rất đẹp, cùng theo một hướng, thường là ngược chiều kim đồng hồ như vòng quay của người, của hươu, của chim như muốn nói đến sức sống chuyển động của vạn vật trong vũ trụ. Một số chức năng khác của trống, mà nhiều học giả đề cập, đó là vật biểu thị quyền lực, như thư tịch cổ còn ghi lại: người nào có được 2-3 chiếc trống là có thể “tiếm hiệu, xưng Vương” tức là thủ lĩnh cộng đồng. Và như thế, với cái dáng trống bề thế, vững chãi, kích thước nhiều chiếc trống khá lớn, trống đồng Đông Sơn xứng với một linh vật thể hiện sức mạnh của thủ lĩnh, của cộng đồng.

     1.3. Vẻ đẹp của hoa văn trên trống Đông Sơn.

     Bên cạnh cái dáng đẹp, cân đối, dễ đập vào mắt người xem, thì còn có các mảng hoa văn đúc nổi, đúc chìm khá đẹp trang trí cho các bộ phận của trống.

     1.3.1. Trước tiên là cách tạo mảng trang trí. Nhìn thoáng qua, ta thấy có các mảng trang trí trên mặt, tang và trên lưng trống. Ở một vài trống muộn, phần chân cũng được trang trí. Vậy là, cư dân Đông Sơn đã không bỏ sót những mảng trang trí lớn trên khắp mặt và thân trống. Những mảng trang trí này khá đẹp mắt trước hiệu ứng trước ánh sáng. Mặc dù trống không tô màu. Khi mới đúc, trống không bị gỉ xanh như ngày nay chúng ta thấy, sau hơn 2000 năm, mà vàng chóe ánh đồng lóng lánh dưới ánh mặt trời. Chính các nét khắc họa đậm nhạt đã tạo ra một khoảng tối hoặc sáng tùy theo nét khắc chìm vào thân trống hay đúc nổi. Hiệu ứng thấy được là các mảng hoa văn tương phản, được tạo ra, sẽ làm cho trống có mầu sắc phân lập rõ rệt. Các mảng hoa văn trên mặt trống như một bức tranh thêu làm tôn vẻ đẹp chủ thể là hình mặt trời (tức ngôi sao cách điệu) và tượng cóc mà người xưa đã gửi gắm vào đó nhiều tín ngưỡng và tâm linh. Mảng hoa văn trên thân trống cũng vậy, tạo ra được hiệu ứng ánh sáng đậm nhạt, lại còn cho thấy một góc nhìn cong theo không gian 3 chiều. Chính góc nhìn đa chiều đã giúp mảng trang trí ở tang và lưng có khối hơn, đậm nhạt tương phản hơn. Trống đồng Đông Sơn giống một bức tranh đa sắc hơn, tránh được cái đơn điệu.

     1.3.2. Vẻ đẹp của các mảng trang trí trên trống Đông Sơn cũng có sự khác biệt so với các loại trống khác.

     Mặt trống được bố cục theo các đường tròn đồng tâm, tạo ra các vành hoa văn có độ rộng khác nhau, có vành hoa văn rộng được khắc họa hoa văn chủ đạo và các vành hoa văn hẹp hơn làm nền với văn hình học lặp đi lặp lại. Giữa mặt trống, tâm điểm của các vành hoa văn là hình mặt trời-ngôi sao nhiều cánh. Cách bố cục hoa văn theo các vành rộng hẹp khác nhau đã tôn được chủ đề mà người xưa muốn nói, là cảnh “lễ hội”, cảnh chim bay, hươu đi. Trống Đông Sơn đã tạo ra được các vành hoa văn đẹp và có hồn, sinh động, tả thực khác với trống loại II hay loại III Heger, thường mang yếu tố kỹ thuật: các vành hoa văn nhiều hơn, hẹp hơn với các mô típ đơn điệu, thường với các biến thể hình ô trám, được tạo ra bằng cách in ấn theo những mẫu nhất định. Vì thế, các mảng hoa văn của trống loại II, III được tạo ra đều đặn, ít mất công sức hơn, nhưng cũng không thể hiện được tài năng của người đương thời. Ngược lại, cái đẹp của các mô típ hoa văn trên trống Đông Sơn thường được tạo ra bằng cách thủ công, bằng cách vẽ chứ không phải in ấn hàng loạt. Vì thế mà hoa văn trên trống Đông Sơn có hồn hơn, khoáng đạt hơn, mỗi họa tiết đều như một tác phẩm hội họa, đòi hỏi người Đông Sơn phải mất nhiều công sức và thời gian hơn để thể hiện tác phẩm của mình. Dường như, các hoa văn được vẽ tay này không giống nhau, không trùng lặp và mang sắc thái riêng của từng nghệ nhân.

     Trên tang trống Đông Sơn cũng vậy, các mảng hoa văn tạo ra vành chủ đạo như hình các thuyền nối nhau, thường là 6 chiếc, nằm giữa các vành hoa văn hình học. Trên lưng trống Đông Sơn thì có mảng hoa văn hình ô chữ nhật. Nếu ta căng hết các ô hoa văn này theo chiều ngang, thì dường như đấy là hoạt cảnh của cuộc đâm bò hay trâu với các mô típ chiến binh cầm vũ khí, hình bò có u.

     1.3.3. Vẻ đẹp của trang trí Đông Sơn còn thể hiện ở từng họa tiết. Đó là hình người múa hóa trang, hình nhà sàn mái cong, mái tròn, hình thuyền, hình chim bay, hươu đực xen với hươu cái đang đi, hình các động vật…khá phong phú mà chúng tôi đã có dịp đề cập đến. Cái đẹp của nghệ thuật trang trí thể hiện ở cách phối hợp đường nét gạch ngắn, các đám chấm dải, đơn sơ nhưng không giống bất kỳ nền nghệ thuật nào, để tả thực những người, động vật và vật trong đời thường. Họ cũng đã biết cách dùng các thủ pháp nghệ thuật như lược bỏ luật viễn cận, cách điệu hóa, sơ đồ hóa…khá nhuần nhuyễn để làm nên một thần thái của nghệ thuật tạo hình Đông Sơn độc đáo.

     (Còn tiếp phần nghệ thuật tạo hình trống loại II, III và IV Heger).

TÀI LIỆU DẪN

1.Bảo tàng Thanh Hóa (2013), Trống đồng Thanh Hóa. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2.Heger F. (1902), Alte metalltrommeln aus Südost Asien. Leipzig.

3.Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh (1987), Trống Đông Sơn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4.Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh ( 2011) Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội, Nxb Hà Nội.

Nguồn: Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam –
Tạp chí nghiên cứu Mỹ thuật, số 03 (03) , tháng 09/2014

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
 

Download file (PDF): Nghệ thuật tạo hình Trống đồng ở Việt Nam (Tác giả: Trịnh Sinh)