L. CADIERE và tác phẩm: CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT (“Syntaxe de la langue vietnamienne”) một lối nhìn mới về NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT

     Léopold Cadière (1869-1955) là Linh mục thừa sai (dòng Tên) Pháp đã sống và làm việc 63 năm (1892-1955) ở Việt Nam. Bên cạnh trách nhiệm phục vụ Giáo hội ông còn là một học giả sâu sắc, uyên thâm về Việt Nam học trên hai địa hạt Dân tộc học và Ngôn ngữ học.

     L. Cadière với lòng yêu mến Việt Nam một cách sâu sắc đã học tiếng Việt một cách nhiệt thành chu đáo, đã nắm rất vững ngôn ngữ này, đặc biệt là phương ngữ Bình Trị Thiên miền đất nghèo khó mà cả cuộc đời ông gắn bó.

     Tập sách Cú pháp tiếng Việt (Syntaxe de la langue vietnamienne) do Trường Viễn đông Bác cổ (EFEO) xuất bản năm 1902 ở Hà nội [1], là một tập sách về cú pháp tiếng Việt đầu tiên do người Pháp viết, miêu tả có hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ này theo khung của Ngôn ngữ học. Một tác phẩm về Việt ngữ học như vậy đương thời rất hiếm hoi.

     Cái mới và quý nhất trong tác phẩm của L. Cadière là ở chỗ: Trên cơ sở nắm rất vững tư liệu tiếng Việt của một người thạo tiếng và văn hoá Việt, tác giả đã xuất phát từ bản ngữ để mô tả diện mạo và các hiện tượng ngữ pháp của ngôn ngữ này, độc lập với lối nhìn “Dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm) và cách làm của các lí luận đương thời: Mô tả một ngôn ngữ bất kỳ theo tiêu chí châu Âu.

     Tuy không vượt ra ngoài cái khung ngữ pháp truyền thống (ngữ pháp cổ điển) trong miêu tả: hai tuyến phân tích từ loại và phân tích mệnh đề, nhưng những gì mà tác giả miêu tả, trình ra thì đều xuất phát từ thực tế ngôn ngữ bản địa như nó có (đặc biệt từ lời ăn tiếng nói, ca dao, tục ngữ hò vè của người Việt (xứ Bình Trị Thiên). Nhờ đó tác giả đã khám phá ra rất nhiều sự kiện chỉ có trong ngôn ngữ này mà lí luận ngôn ngữ châu Âu không phủ kín được.

     Bản báo cáo này sẽ đi sâu giới thiệu về những nhận xét mới trong sách của L. Cadière và có đôi bàn luận về những đóng góp của ông.

1. Cách nhìn mới trong mô tả ngữ pháp tiếng Việt

     Lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, Cadière đã “tương tư” đất nước này với một tình yêu đặc biệt. Linh mục đã chọn mảnh đất Bình Trị Thiên nghèo và gió cát để thực hiện trách nhiệm. Ông đã quyết định học tiếng Việt một cách nghiêm túc để sớm hòa nhập với cộng đồng này với mong muốn cụ thể: Không chỉ học tiếng Việt để nói giỏi mà còn học hỏi được tinh thần và văn hoá của dân tộc này qua ngôn ngữ của họ (quan điểm này phù hợp với lí luận của nhà Văn hoá Đức: W. Humboldt). Theo đó, Cadière đã say mê với hành trình điền dã tiếng Việt miền trung với cách nghĩ: “Học tiếng Việt, không phải để nói tiếng Việt giỏi giống như họ, mà còn phải tâm tư nghĩ suy như họ” [2]. Để làm được như vậy, Cadière đã: “quan sát cặn kẽ những sự kiện quan trọng trong từng lời ăn, tiếng nói của người Việt mà không vướng bận bất cứ định kiến sai trái nào của người châu Âu, kể cả những điều mà họ tin là “hợp lí” và “văn minh” nhất” [3] (quan điểm này cũng phù hợp với lí luận nghiên cứu dân tộc học theo hệ thống bản địa của Levy Strauss, 1908-2011).

     Từ chỗ nắm được thực tế tiếng Việt một cách sâu sắc qua vô vàn ngữ liệu, Cadière nhận ra rằng để phân tích, mô tả ngôn ngữ này, không thể dùng cái khung nghiên cứu châu Âu, cái áo ngữ pháp châu Âu để mặc cho nó. Trong lúc các nhà Nhân văn học đang hào hứng và mải mê với quan điểm: “Dĩ âu vi trung” trong nghiên cứu thì Cadière đã suy nghĩ theo cách khác và tiếp cận tiếng Việt theo một lối khác. Cadière đã đặt vấn đề là các tác giả Pháp trước đó và đương thời đã chủ quan và sai lầm khi nghĩ rằng đã là ngữ pháp thì tiếng nào cũng như tiếng nào và họ đã nhìn ngữ pháp tiếng Việt qua lăng kính của người châu Âu (mà đại diện là Pháp): “Những cuốn sách ấy vốn được viết ra để giúp người Pháp học tiếng Việt cho nên đều xử lí các vấn đề ngữ pháp theo quan điểm của người Pháp, căn cứ vào cách nói của họ, cách xếp ngôn từ của họ, cách tư duy của họ. Họ trình bày như thể tiếng Việt cũng có một cấu trúc y hệt như tiếng Pháp. Và lạ hơn nữa là ngay những cuốn sách ngữ pháp do chính người Việt soạn cho sinh viên người Việt học cũng được viết y hệt như thế” [4] và ông nhận xét: “Cho đến nay, vẫn chưa có một ai nghĩ đến việc soạn ra một quyển sách ngữ pháp tiếng Việt để dẫn dắt người Việt đến chỗ tư duy thật sự bằng tiếng Việt”. Cadière kết luận: “Đừng quên rằng lối diễn tả cấu trúc của tiếng Việt hoàn toàn khác với tiếng Pháp, tinh thần người Việt đi theo một lộ trình khác với người Pháp.” [5].

     Nhận thức học thuật như thế của Cadière là rất sớm so với các đồng sự trong giới Việt ngữ học. Phải đợi đến nửa sau của thế kỉ XX, lí luận về ngữ pháp tiếng Việt mới có sự chuyển biến căn bản sau khi lí luận Đông phương học được thẩm thấu qua các công trình ngữ học nổi tiếng của Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo khi họ thật sự xuất phát từ bản ngữ để nhìn nhận nó theo lí luận mới [6].

     Như đã nói, một lối suy nghĩ mới về ngữ pháp nữa là việc Cadière gắn nghiên cứu ngôn ngữ với văn hoá bản địa, một việc hiếm hoi thời đó trong nghiên cứu thực hành. Xuất phát từ chỗ trong khi ghi nhận các đặc trưng ngôn ngữ đời thường của người Việt, ông coi “ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu tâm thức của một dân tộc” [7]. Theo đó, mỗi ngôn ngữ là một di sản văn hoá độc đáo, qua tiếng nói có thể khám phá ra tâm hồn và những quy tắc riêng của ngôn ngữ, không thể lấy ngôn ngữ châu Âu làm thước đo cho ngôn ngữ Á đông. Văn hoá ngôn từ theo Cadière có nhiều yếu tố độc đáo, phong phú, tế nhị tạo nên một hệ thống giá trị riêng cho ngôn ngữ ấy. Tiếng Việt cũng như vậy, ông không chỉ nhìn toàn cục mà còn thấy văn hoá địa phương trong các phương ngữ, do đó cần khước từ lối tiếp cận “dĩ Âu vi trung” trong xử lí ngữ pháp.

2. Những điểm mới trong sách “Cú pháp tiếng Việt” qua cái nhìn của tác giả

     2.1. Thuật ngữ “SYNTAXE”

     Trước hết việc dùng thuật ngữ “SYNTAXE” (cú pháp) cho ngữ pháp tiếng Việt dường như là điểm mới trong cách nhận diện ngữ pháp ngôn ngữ này.

      Như chúng ta đã biết, ngữ pháp truyền thống châu Âu trong nhiều thế kỉ đã dùng lối mô tả lưỡng diện: Chia ngữ pháp ra hai mảng: Hình thái học (Morphologie) là ngữ pháp của từ và Cú pháp (Syntaxe) là ngữ pháp của mệnh đề (cũng tức là của câu). Sở dĩ có mảng hình thái học là vì đa số các ngôn ngữ châu Âu có hiện tượng biến hình từ (tổng hợp tính) để diễn đạt các đối lập ngữ pháp (các khía cạnh ngữ pháp trong phạm trù ngữ pháp của từ loại).

     + Cadière đã không chia ngữ pháp tiếng Việt ra hai mảng như thế, mà ông gọi chung cả ngữ pháp ngôn ngữ này là cú pháp (syntaxe). Tưởng như bình thường nhưng điều đó là mới và có ẩn ý:

– Khác với tiếng Pháp, ở đây ông không thấy có hiện tượng biến hình từ trong tiếng Việt, vậy xử lí ra sao?

     – Thay vì các biến đổi hình thái từ thì ở đây chỉ có các kết hợp từ (từ chính với từ phụ) rất đúng nghĩa với nội dung cú pháp (kết hợp: syntaxe). Các kết hợp này, theo các quan sát của tác giả, tiếng Việt có cú pháp của từ (syntaxe des mots) và cú pháp của mệnh đề (syntaxe de proposition). Suy rộng ra, tiếng Việt chỉ có cú pháp, không có hình thái học. Trước ông chưa ai nói điều này và sau ông rất lâu mới có người nói.

     + Coi từ loại như một phổ quát, ông vẫn khảo sát các từ loại lớn (thể từ, động từ, tính từ) và các tiểu loại của chúng nhưng theo một lối riêng.

     2.2. Cú pháp của thể từ (substantifs)

     Khái niệm thể từ Cadière dùng rộng hơn danh từ (nom). Trong tiếng Việt, ông không quan tâm nhiều đến các danh từ chỉ động thực vật hay đồ đạc mà ngôn ngữ nào cũng có, trái lại, ông rất quan tâm đến các tác tử có tính phân loại cho danh từ, kết hợp với danh từ, ông gọi chúng là thể từ ghi loại (phạm trù-substantifs de categorie) và mô tả các kết hợp của chúng, cụ thể là các từ: CÁI, CON, CÂY, CỦ, CHIẾC, BỘ, ĐÔI, v.v. Một số nhà Việt ngữ học sau này coi một số chúng là loại từ (classificatéur: từ chỉ đơn vị tự nhiên), còn Cadière, ngay từ đầu đã thấy chúng cũng có bản chất của thể từ. Chúng đôi khi đứng một mình để minh định cho cái danh từ được đề cập đến trước đó. Ví dụ:

     – Ông được mấy con trâu?

– Tôi được hai con, chết một con, lưa (còn) một con.

     Nói mạnh hơn, có thể coi ông là người đầu tiên bàn về nhóm từ này trong ngữ pháp lí luận tiếng Việt.

     – Thể từ lặp (substantif de double) là một sản phẩm đặc biệt của cú pháp, chúng là một bộ đôi hai thành tố có cùng bản chất kết hợp với nhau: a) đồng nghĩa: mồ mả, yêu mến, khỏe mạnh, b) đồng kiểu: trâu bò, tôm tép, thảo mộc, tiêu muối, c) bộ phận và cái toàn thể: nhà cửa, làng nước,… nghĩa là nhiều kiểu thành tố sóng đôi. Điều quan trọng là tác giả, một mặt, coi đây là cách cấu tạo từ (formation des mots), nhưng mặt khác, lại coi cái cấu tạo ấy là cú pháp của từ (syntaxe des mots doubles). Có thể coi Cadière là người sớm nhận ra rằng các từ đơn (chưa dùng khái niệm “tiếng”) một khi tham gia vào kết cấu lớn hơn (từ ghép) thì sự kết hợp chúng cũng được coi là cú pháp (từ+từ). Phải đợi đến Dragunov (1941) và Nguyễn Tài Cẩn (1975) thì cơ sở cho vấn đề này mới được giải thích rõ [8].

     Về giới trong thể từ cũng là một nhận xét mới của tác giả. Theo đó, trong tiếng Việt, danh từ không có đối lập giống ngữ pháp (genre grammaticale) về giống, thay vì điều đó, người Việt thường phân biệt danh từ theo giới (sexe), nghĩa là chỉ có đối lập trên phương diện từ vựng. Điều này hẳn khác với ngữ pháp của các ngôn ngữ phương tây.

     – Đối với các tiểu loại thể từ khác, tác giả đã có những phân loại và mô tả khá chi tiết đến từng từ, chỉ ra các đối lập hoặc sắc thái ngữ pháp của chúng, nhất là tác giả chỉ ra tuyệt đại đa số thể từ tiếng Việt không có đối lập số (ít/ nhiều), một số còn lại có thể được chỉ ra số nhiều nhưng bằng các từ cụ thể, bằng các kết hợp cụ thể.

     – Các thể từ có thể có các bổ tố (complement), những trường hợp được dẫn ra nhiều trường hợp là từ ghép chứ không phải cụm từ tự do (bề ngang, lúa giống, nhà ở, thợ cưa, cá biển, nước chanh,…), càng xác nhận Cadière nhìn ngữ pháp tiếng Việt là thiên cú pháp.

     – Những khía cạnh khác của cú pháp của từ cũng được tác giả phân tích như: Cú pháp của số từ (số đếm, số thứ tự, số ước lượng,…) từ chất liệu thật của tiếng việt (Bình Trị Thiên).

     2.3. Về cú pháp của tính từ chỉ phẩm chất

     Ngữ pháp truyền thống, dựa trên chất liệu châu Âu thường cho từ loại tính từ, trong khi chỉ ra các đặc trưng, phẩm chất, thường có cương vị bên cạnh thể từ (substantif), hợp dạng với danh từ (tiếng Pháp, tiếng Nga chẳng hạn). Lâu nay, trong ngữ pháp tiếng Hán, tiếng Việt, người ta vẫn thường nhắc đến ý tưởng mới của A. Dragunov và Lê Văn Lý [9] khi họ cho rằng trong các ngôn ngữ này, tính từ đã có sự chuyển dịch vị trí, theo đó nó (tính từ) đứng bên cạnh động từ, thậm chí cùng động từ gia nhập một phạm trù chung là vị từ (prédicativ). Đọc sách của Cadière chúng ta thấy ông đã sớm nhận ra điều này khi chỉ ra những thay đổi giá trị của một số tính từ: Chúng được dùng lưỡng khả (cả như tính từ, cả như động từ), ví dụ:

     – Của quý lắm

– Cha quý lòng người ta

(Hẹp/hẹp lại, cong/cong lại, lớn/lớn lên, hư/hư đi,…)

Trong khi thừa nhận có sự chồng lấn giữa hai từ loại nói trên, tác giả đã cho thấy tính từ tiếng Việt gần hơn với động từ. Một điểm khác nữa cũng rất quan trọng là Cadière cho rằng khác với tính từ trong tiếng Pháp, trong tiếng Việt, cú pháp ở từ loại này đặc biệt ở chỗ tính từ có thể dễ có các bổ tố (complémant) là cái mà vốn chỉ có ở từ loại động từ tiếng Pháp (và các ngôn ngữ châu Âu). Ông đã mô tả khá kĩ hiện tượng này: Bổ ngữ của tính từ, theo đó, có thể là danh từ, động từ hoặc từ loại khác, ví dụ:

– (người) đáng kính, (nó) mê ăn uống, (áo) rách tay, (ông) khó ăn khó ở, cao hai mươi thước, xa hai ngày đàng,…

Các cấp so sánh (hơn/bằng/ nhất) thì tiếng việt không có các đối lập ngữ pháp mà chỉ dùng phương thức từ vựng.

     2.4. Về cú pháp của đại từ

     Đại từ là một từ loại có tính phổ quát. Trong các ngôn ngữ châu Âu, đại từ (nhất là đại từ nhân xưng) gắn liền với hai phạm trù ngữ pháp là ngôi và số. Từ tư liệu tiếng Việt, Cadière nhận ra ngôn ngữ này không như thế, người Việt cũng nói theo tam ngôi phân lập nhưng không có ngôi ngữ pháp (đối lập theo dạng thức ngữ pháp), thay vì điều đó ở đây có một danh sách ngắn các từ chuyên dụng phân phối cho các ngôi, có từ chỉ dùng cho người, có từ dùng cho cả người, vật và đồ vật (nó, hắn), có khi dùng cả đại từ chỉ định để diễn ngôi (Đây không sợ đó, Thiệt riêng đó cũng lại cực đây). Điều quan trọng hơn là Cadière chỉ ra bên cạnh các đại từ chuyên dụng, tiếng Việt còn dùng cả một hệ thể từ mang tính đại từ (les substantifs pronominaux), nhất là các từ chỉ quan hệ thân thuộc (ông bà, cậu mợ, anh chị,…). Trong chức năng xưng hô, chúng cũng chia thành dối lập ít và nhiều với cú pháp “CÁC +” (các anh, các mụ, các dì,…), và ông đã mô tả khá chi tiết cách dùng của các từ thường gặp nhất trong phát ngôn của người Việt.

     Cũng theo đó, tác giả đã đề cập đến các tiểu loại khác như đại từ chỉ định, các từ để hỏi, các từ bất định, các từ…(corrélatives), các đại từ quan hệ, trên nguyên tắc tôn trọng tuyệt đối cách nói và cách nghĩ của người bản ngữ (từ phương ngữ Bình Trị Thiên). Do vậy, những dẫn chứng và phân tích của tác giả rất sinh động và thuyết phục.

3. Về cú pháp của Mệnh đề

     Mô tả cú pháp mệnh đề (Proposition) là mô tả ngữ pháp nhà trường kiểu Pháp theo cái khung truyền thống/ cổ điển. Chấp nhận cái khung phân tích mệnh đề (biểu thức S-V: Sujet- Verbe), Cadière đã có cái gì mới trong cách của ông?

     3.1. Nhận thức mới về chủ từ (Sujet)

Tuy coi cấu trúc S-V như một phổ quát, nhưng từ tư liệu tiếng Việt nhìn lại, tác giả đã nhận ra mấy chuyện:

–  Trong ngôn ngữ này không có sự hợp dạng (accord) giữa chủ từ và động từ.

–  Chủ từ luôn đứng trước động từ.

     –  Có những khía cạnh mới ngoài việc chủ từ cho động từ: a) Chủ từ cho tính từ (Ông tốt, Ông cực); b) Chủ từ cho một danh ngữ xác định (Ông tốt bụng, Ông bạc nhiều); c) Chủ từ cho danh từ, đại từ hay cả một mệnh đề.

     –  Có lẽ quan trọng nhất là tác giả sớm nhận ra từ “thì” có tác dụng phân li chủ từ với phần còn lại của mệnh đề (Lúa thì không ra chi, Con ngựa mới thì chết rồi, Đờn ông, đờn bà, con nít thì đi hết). Cái Cao Xuân Hạo mãi sau này (1991) mới chỉ ra thì là tác tử đánh dấu phân chia Đề và Thuyết.

     –  Tác giả cũng đề cập đến các dạng chủ từ khác: Chủ từ vắng (không xuất hiện) chủ từ của nhiều động từ, chủ từ nhấn mạnh, chủ từ inverse’,… như những đặc thù của chủ từ trong tiếng Việt.

     3.2. Nhận thức mới về từ loại động từ

     Trong chính văn cuốn sách này, Cadière đã tách việc mô tả từ loại động từ ra khỏi Phần I (Cú pháp của từ) và chuyển nó sang Phần II (Cú pháp của mệnh đề). Động tác học thuật này, theo chúng tôi hiểu, có hai lí do:

     –  Tác giả vẫn tôn trọng biểu thức ngữ pháp của mệnh đề [S-V] như truyền thống (cho đến lúc đó),

     –  Tác giả thấy cương vị cú pháp và các đặc điểm ngữ pháp đặc thù của từ loại này trong tiếng

     Việt so với tiếng Pháp.

     Ở đây, xin nói về phương diện thứ hai. Muốn vậy hãy trở lại từ loại động từ trong các ngôn ngữ châu Âu. Truyền thống châu Âu coi động từ là một trong hai trung tâm ngữ pháp của câu [Chủ-Vị], theo đó, trong câu vị ngữ được hiện thực hoá nhờ các phạm trù ngữ pháp của từ loại này: Thời, thể, ngôi, dạng, thức, và để diễn đạt các phạm trù ngữ pháp này thì động từ phải biến hình qua các đối lập và hợp dạng với chủ ngữ. Thực tế tiếng Việt đã cho Cadière những nhận thức mới khi đề cập đến động từ:

     –  Động từ tiếng Việt (khi đứng sau chủ từ) không có hiện tượng biến hình.

     –  Không có bất cứ một biểu thức nào chuyên biệt biểu đạt khái niệm “thì” ngữ pháp của động từ. Một mệnh đề nào đó có ý diễn đạt “thời” thì phải dựa vào ngữ cảnh và các tình huống giao tiếp mà người nói hướng đến. Ví dụ: trong câu: “Tôi ăn” thì với tiếng Pháp có thể hiểu như một trong ba trường hợp: Je mange (tôi đang ăn), J’ai mangé (tôi đã ăn) Je mangerai (tôi sẽ ăn).

     –  Thay vì biến đổi hình thái từ, động từ của ngôn ngữ này sử dụng một loạt phụ từ (Particules) để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp. Chúng kết hợp với động từ (đứng trước hoặc đứng sau), như vậy là dùng phương thức cú pháp.

     –  Tác giả đã dành khá nhiều trang để mô tả kĩ đặc trưng ngữ pháp của các phụ từ cho động từ (mà trước đó chưa có ai làm). Đáng chú ý là trong số đó có các từ phụ mang ý nghĩa tình thái: Cứ, hay, hằng, vội, năng, hay, vẫn, những,… [10]. Ông cũng chú ý đến hiện tượng biểu đạt ý nghĩa bị động và có những mô tả, lí giải về cú pháp của các từ: được, chịu, phải, mắc, bị.

     –  Về các động từ “hoàn bộ” (verbes perfectifs): Nếu như trong tiếng Pháp có nhiều động từ dùng tiền tố để diễn đạt cái nghĩa hoàn bộ (perfectif), ví như: porter, rapporter, emporter, transporter,…thì trong tiếng Việt, các động từ này có một dạng cú pháp khác: thêm vào bên cạnh một động từ khác nữa để hoàn bị cái nghĩa: đem – đem đi – đem theo – đem lại – đem vô,… hay là: mở ra – đóng vô – làm nên – lặn xuống,…

     3.3. Về thành phần câu

     L. Cadière tách các thành phần phụ trong mệnh đề ra khỏi nòng cốt câu [S-V] để mô tả. Theo đó có các thành phần: a) Định ngữ (Attribut), b) Bổ ngữ (Complément) và c) Trạng ngữ (Complément circonstanciel). Cái khung này giữ nguyên quan niệm truyền thống của ngữ pháp tiếng Pháp. Tuy nhiên xét thực tế tiếng Việt, tác giả đã gắng đưa ra những cải tiến.

     + Trước hết, nói về định ngữ. Tác giả cho rằng để biểu đạt mối liên hệ phẩm chất của chủ từ (sujet) tiếng Việt có mấy cách:

     – Định ngữ có hệ từ và định ngữ không có hệ từ (avec/sans copulatif), tác giả đưa ví dụ: Ông nầy tốt, Chỗ nầy vui lắm Tôi là Trí và Ông ấy là người tốt. Theo đó, ở đây có vấn đề cần thảo luận: Cách đặt vấn đề như thế này chắc chắn cho thấy tiếng Việt khác tiếng Pháp (nhất là trường hợp không có hệ từ). Tuy nhiên, cũng theo đó, Cadière đã mở rộng khái niệm hạn định (Attribut) trong tiếng Việt khiến nó bao hàm cả các vị ngữ phi động từ (vị ngữ tính từ, vị ngữ danh từ). Có thể là tác giả muốn triệt để giữ công thức [S-V] của nòng cốt câu, và coi mọi cái đứng sau chủ từ mà không phải động từ thì đều là định ngữ. Tuy nhiên, ở chiều sâu hơn, nay có thể thấy tiếng Việt có sự phân biệt giữa một ngữ đoạn định ngữ (a) Nhà mới và một vị ngữ Nhà này mới (b): với (a) mới chưa được sự tình hoá, còn (b) thì đã được sự tình hoá trong một cấu trúc Đề-Thuyết (có một nhận định) có đánh dấu ngữ pháp: Nhà này thì mới.

     + Tân ngữ/Bổ ngữ, trên hình thức, được tác giả phỏng theo lối ngữ pháp tiếng Pháp (có đối lập động từ ngoại động và động từ nội động) nhưng thay đổi về lối tiếp cận: tuy thừa nhận mối quan hệ giữa động từ và các thành tố phụ của nó, nhưng tác giả nhấn mạnh: a) Bổ ngữ của động từ tiếng Việt luôn đứng sau động từ, b) Do động từ tiếng Việt không có quan hệ chi phối (+ bổ ngữ) một cách rõ ràng (tiêu chí bắt buộc của động từ ngoại động) cho nên các dạng bổ ngữ ở đây có những chỗ khác tiếng Pháp, ví dụ:

     – Một số động từ có quan hệ trực tiếp với bổ ngữ trong khi tiếng Pháp lại cần đến giới từ: hỏi = interroger sur, giữ = se garder de,…

     – Giữa bổ ngữ và động từ đôi khi có từ phụ chen vào: đánh bẫy chuột, bỏ tù hai đứa, trét vôi nhà mới, nhúng nước khăn bàn,…

     – Bổ ngữ sóng đôi: Cho thằng ni ba quan, dạy thầy lang bốc thuốc, ngâm chân nước nóng,…

     – Có lúc bổ ngữ đảo lên trước động từ và được phân li bởi từ “thì”: Vợ anh (thì chưa có), Chè (thì) chẳng hái,…

     + Bổ ngữ gián tiếp (indirect) là cái thành phần bổ nghĩa cho những động từ gián tiếp (nghĩa là cần phải có giới từ. Phổ biến nhất là các từ: đến, cùng, với, về, cho,…

     + Về Trạng ngữ (Complément circonstanciel) thì cũng như trong các ngôn ngữ châu Âu, thành phần này hiện hữu trong cú pháp tiếng Việt để làm rõ nghĩa cho một vài tình huống: thời gian, nơi chốn, cách thức, chúng có thể được diễn đạt bằng trạng từ, tính từ hoặc thể từ.

     – Đáng chú ý trước đó là một danh sách khá phong phú và cách dùng các từ chỉ thời gian: Ngày ni, bữa qua, bữa tê, ngày mốt, năm ngoái, đêm mai,… mà chỉ có người bản ngữ mới hiểu hết các sắc thái ý nghĩa của chúng trong cách dùng.

     – Các từ chỉ thời gian thường có các phụ từ (particules): ni, tê, ngoái, mốt, trước,…

     – Một loạt phụ từ đứng sau động từ: hoài, mãi, luôn, liên, liền, lại, sớm, muộn, trưa, khuya,…

     – Các từ chỉ nơi chốn cũng có một danh sách khá phong phú bao gồm các giới từ chính: tại, nơi, bên, trên, dưới, trong, ngoài, gần, xa, trước, sau,… chúng cũng có thể có các phụ từ xác định: ni, tê, nớ,…

     Do nắm vững tư liệu tiếng Việt, những nội dung trên đây đã được tác giả mô tả rất kĩ mà trước đó (và cả sau này) có ít người làm được như vậy.

     3.4. Về cấu trúc câu

Cấu trúc mệnh đề được Cadière coi như cấu trúc câu (phrase).

     Cũng như những nội dung khác đã nói ở trên, Cadière, trong khi tiếp cận cấu trúc câu, vẫn phải hành động trong khuôn khổ lí luận ngữ pháp truyền thống. Tuy nhiên, cũng như thế, xuất phát từ bản ngữ, tác giả đã đưa ra những mô tả khác lạ cho cấu trúc câu tiếng Việt.

     + Khác với tiếng Pháp là nơi mà các mệnh đề nhất thiết phải có động từ được chia (có thời) và tương hợp với chủ từ [S-V] thì các mệnh đề trong tiếng Việt có thể chỉ đơn phần (khi tạo câu), ví dụ: Nặng!, Khát!, Cực! Láo!, Kệ!,…

     + Các câu phức (Phrase complexe) trong tiếng Việt có khó khăn lớn trong việc khảo sát vì nó biểu đạt rất khác tiếng Pháp. Nếu như trong tiếng Pháp và các ngôn ngữ cùng thuộc tính (biến tố- ĐVĐ) thường có cấu trúc trật tự (S-V-C), còn trong tiếng Việt, mệnh đề thường có dạng thức khác: mệnh đề danh (danh cú), mệnh đề tính (tính cú),… Trong các ngôn ngữ phương Tây câu phức là sự ghép mệnh đề chính với mệnh đề phụ (có hợp thì), nối giữa chúng là các phụ từ xác định rõ. Tiếng Việt cũng có sự tập hợp như thế, nhưng không có sự hợp thì, hơn thế việc dùng các liên từ đôi khi rất tuỳ nghi. Ví dụ, hãy đối chiếu: a) câu Việt: Hắn đi, tôi đi và b) câu Pháp: Lorsqu’ il ira, j’irai/ S’il y va, j’irai.

     + Tác giả cũng đưa ra nhiều kiểu mệnh đề tiếng Việt mà trong đó thay vì đứng sau chủ từ là động từ thì đây lại có danh từ (Ông bụng tốt) và tính từ (Tôi đau, Tôi cực, Tôi xấu,…) mà không cần có hệ từ (Copule).

     + Tác giả đã quan sát kĩ và mô tả các lối nói khẳng định, phủ định, nghi vấn và cảm thán trong tiếng Việt mà nay thường xếp vào địa hạt hành động ngôn từ và các ngôn trung của nó.

     + Chúng tôi đặc biệt lưu ý đóng góp của tác giả vào việc mô tả hệ từ LÀ và hai liên từ phụ thuộc: THÌ và MÀ. Cuối thế kỉ XX khi nghiên cứu ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Cao Xuân Hạo [11] đã phân tích kĩ cương vị ngữ pháp của hai từ THÌ và LÀ này trong công năng đánh dấu nội bộ cấu trúc ngữ pháp ĐỀ-THUYẾT, nhưng ý tưởng cốt lõi về chức năng ngữ pháp của mấy từ này thì đã được Cadière viết ra ở sách của ông.

4. Kết luận

Những gì chúng tôi phân tích trên đây đã cho thấy:

+ L. Cadière đã thật sự là một người làm ngôn ngữ học Việt Nam khi ông kết hợp kĩ càng và sâu sắc những khía cạnh lí luận ngôn ngữ (ngữ pháp học) với tư liệu đồ sộ điền dã từ ngôn ngữ bản địa (tiếng Việt Bình Trị Thiên) để đưa ra một hệ thống ngữ pháp miêu tả khá đầy đủ và chi tiết cho ngôn ngữ này với khả năng của lí luận đương thời.

     + “Cú pháp tiếng Việt” của Cadière cho thấy hình ảnh ngữ pháp tiếng Việt “như nó có”, chứ không phải từ cái nhìn “dĩ Âu vi trung” phổ biến thuở đó. Những cái gì mà tác giả trình ra ở sách này là rất thật và đúng là của người bản ngữ, và như vậy cũng phù hợp với mục tiêu của ngôn ngữ học mọi thời.

     + Rất tiếc, công trình của L. Cadière, cho đến nay, còn ít được giới thiệu và chưa được đánh giá đúng mức trong câu chuyện Việt ngữ học thế kỉ XX. Thiết nghĩ, cần đặt lại cuốn sách này vào đúng vị trí của nó trong lịch sử Việt ngữ học thế kỉ XX mà đây là công trình khởi đầu rất tốt đẹp. Tác giả rất xứng đáng được ghi công, cho dù lí luận ngữ pháp đã có những thay đổi sau mỗi thời đại.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. a) Chúng tôi không có trong tay bản gốc cuốn sách của L. Cadière (EFEO, 1902) mà phải dùng bản đánh máy (rất chính xác) từ bản sách cùng tên của NXB Imprimérie National- Paris-1958. Tổ Ngôn ngữ học Khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thực hiện (1960). Lưu Thư viện (Phòng tư liệu) Khoa Văn học (1965).

b) Để tham khảo thêm, chúng tôi đã tham khảo thêm các tài liệu sau đây:

+ Lời tựa cho sách của Louis MALLERET, Tổng thanh tra EFEO.

+ Lời dẫn của André EB (M.E.P.).

+ Léopold Cadière và hội nhập văn hoá: một kinh nghiệm loan báo Tin mừng, Tham luận của Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Vinh tại Hội thảo: “Thân thế và sự nghiệp của LM Léopold Cadière (1869-1955), Huê, 7-9/2010.

+ Đỗ Thanh Huệ, Văn hoá, Tôn giáo, Tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L. Cadière, NXB Thuận Hoá, Huế, 2006.

2. Dẫn theo Nguyễn Thái Hợp, tài liệu đã nói ở trên.

3. Dẫn theo Nguyễn Thái Hợp, tlđd.

4. Dẫn theo Nguyễn Thái Hợp, tlđd.

5. Dẫn theo Nguyễn Thái Hợp, tlđd.

6. a) Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội,

b) Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Tập I, TP Hồ Chí Minh, 1991.

7. Nguyễn Thái Hợp, tlđd.

8. Hai tác giả đã nói về “Tự” trong tiếng Hán (1941) và “Tiếng” trong tiếng Việt (1975).

9. Hai tác giả đã xếp từ loại Tính từ bên cạnh Động từ trong hệ thống từ loại các ngôn ngữ đơn lập, cụ thể là:

a) Le Van Ly, Le parler vietnamien, Paris, Hương Anh, 1948.

b) Dragunov, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán khẩu ngữ hiện đại, bản tiếng Nga, Maxcova- Leningrad, Khoa học, 1952.

10. Hầu như tất cả các phụ từ cho động từ tiếng Việt, ngoài việc diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, đều có thể sử dụng để biểu đạt ý nghĩa tình thái. Xin xem: Đinh Văn Đức, 2010, Các bài giảng về Từ pháp học tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội, từ trang 131.

11. Cao Xuân Hạo, 1991, Tài liệu đã dẫn, trang 124.

ĐINH VĂN ĐỨC 1

_________
1. GS TS, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội.