Làm rõ hơn về quê hương và lăng miếu Triệu Tường của nhà Nguyễn
Tác giả bài viết: PHẠM TẤN
(Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa)
Về vấn đề quê hương của nhà Nguyễn, vì đã quá rõ ràng, cho nên cũng chẳng có vấn đề gì cần bàn cãi.
Sau khi lên ngôi được một năm, vào năm 1803, để tỏ lòng thành kính đối với vùng đất cội nguồn, gốc rễ – quê hương, vua Gia Long đã ban phong danh hiệu cao quí cho Gia Miêu Ngoại trang là đất Quý Hương và huyện Tống Sơn là Quý Huyện. Từ đó trở đi, các bộ sách lớn của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí và các sách địa chí như Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đồng Khánh địa dư chí, Thanh Hoá tỉnh chí… cùng rất nhiều loại sách khác cũng đều thống nhất ghi chép về quê hương của nhà Nguyễn (bao gồm cả vua Nguyễn và các chúa Nguyễn) là Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung.
Qua khảo cứu các sách và tài liệu địa chí cũ, chúng ta có thể biết chính xác về xuất xứ của huyện Tống Sơn là: đời Trần về trước là huyện Tống Giang. Thời thuộc Minh cũng là huyện Tống Giang, thuộc Ái Châu, phủ Thanh Hoá. Đến đời Lê Thánh Tông (vào năm Quang Thuận thứ 10 – 1469) đặt huyện Tống Giang thuộc Thanh Hoa thừa tuyên. Đời Lê Trung Hưng, vì kiêng tên huý của Trịnh Giang nên đổi tên Tống Giang thành Tống Sơn. Và từ sau Cách mạng tháng Tám – 1945 trở đi thì huyện Tống Sơn mới được đổi tên là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
Riêng cái tên Gia Miêu Ngoại trang xuất hiện từ lúc nào thì vẫn còn bỏ ngỏ. Các bộ sách của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và các bộ sách của triều Nguyễn khi chép về quê hương của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn cũng không có sự giải mã rõ ràng về xuất xứ của Gia Miêu Ngoại Trang là có từ thời gian cụ thể nào.
Ngay ở bản “Gia phả họ Nguyễn trước Gia Long” của Tôn Thất Hân (thực hiện theo biên bản họp họ tộc ngày 9-9-1919 và ngày 26-3-1920) cũng phải thừa nhận: “Dòng họ ta (tức họ Nguyễn – P.T) có lịch sử lâu đời. Tuy nhiên các việc tìm tòi ngược lên các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần tuy rằng làm tỉ mỉ nhưng không đưa đến kết quả. Tập Ngọc phả tức Gia phả của Hoàng tộc chỉ bắt đầu từ Triệu Tổ Tịnh Hoàng Đế (tức Nguyễn Kim – P.T) vì ông có nhiều chiến tích và sống gần với thời đại chúng ta”.
Về nguồn gốc Gia Miêu, nhiều tập phả của họ Nguyễn đã không ghi chép rõ ràng ai là người đầu tiên đến Gia Miêu lập nghiệp. Nhưng qua Chiếu tuyên dương Nguyễn Công Duẩn của vua Lê Thái Tổ, chúng ta có được lượng thông tin rất cụ thể như: “Vua dụ cho Bắc Vệ quân đại đội trưởng Nguyễn Công Duẩn, người Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Giang, lộ Thanh Hoá như sau:
Trẫm nhớ thuở xưa tổ tiên nhà ngươi thờ nhà triều Đinh, Lý, Trần đều hết lòng. Con cháu đời đời trung trinh. Gần đây họ Hồ bất nhân, giặc binh ngó trộm đem binh cướp nước ta, khắp nơi rối loạn, sai trái liên miên, nhân dân đói khổ… Trẫm và ngươi cùng chung hoạn nạn. Ngày hội Lam Sơn lúc mới nhóm nhen, nhà ngươi tiến lương 3 ngàn 5 trăm thạch. Đến khi nghĩa quân thất thế, tránh nạn, lui giữ Linh Sơn, lương thực thiếu thốn, nhà ngươi đã điều lương 5 ngàn 3 trăm thạch để nuôi khắp mọi người, lại còn đem binh giải vây thoát nạn, đuổi địch sang tận Lào. Nhà ngươi một lòng một dạ thu đủ lương thực đem đến trại quân do đó quân không thiếu lương ăn. Đến khi Trẫm đem quân đến Nghệ An, nhà ngươi tiến 5 ngàn 5 trăm thạch lương, 5 trăm bao muối để cấp đủ mọi nơi. Khi mà: Xương Giang, Chi Lăng băng tan ngói vỡ, Ninh Kiều, Tốt Động tre chẻ tro bay, việc cấp lương cho quân ăn đều do sức nhà ngươi…
Xét lời tâu của đình thần… Nay Trẫm thưởng thêm lộc hậu, ban cho tước lớn để đền công.
Nay thăng: Nguyễn Công Duẩn làm phụng trực đại phu, đô kiểm sự, lĩnh việc quân dân ở huyện nhà.
Cho phép thu ruộng đất của các thế gia nay đã tuyệt tự đem sung công cùng với ruộng hoang của các trang, xã, tổng trong huyện thưởng cho Nguyễn Công Duẩn làm của riêng để truyền cho con cháu lâu dài mong đền đáp kẻ có công…“1
Như vậy, từ nội dung tờ chiếu này, chúng ta có thể khẳng định rằng:
– Dòng họ Nguyễn trước Nguyễn Công Duẩn từ Đinh, Lý, Trần đều rất có công và “con cháu đời đời trung trinh”.
– Trước khi đến với khởi nghĩa Lam Sơn – Nguyễn Công Duẩn – “người Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Giang” (như tờ chiếu đã ghi) đã là một hào trưởng (Thủ lĩnh vùng) đầy thế lực ở huyện Tống Giang. Vì vậy mà ông mới có điều kiện huy động binh lương cho nghĩa quân Lam Sơn nhiều đến thế.
– Khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Công Duẩn đã 59 tuổi. Từ đó, chúng ta có thể suy ra, từ cuối thời Trần, với sự hiện diện của gia đình hào trưởng lớn Nguyễn Công Duẩn, Gia Miêu Ngoại trang đã là vùng đất nổi danh ở huyện Tống Giang, lộ Thanh Hoá. Và cái tên “Gia Miêu Ngoại trang” chắc chắn là có từ thời cuối Trần đó vẫn không hề thay đổi cho đến tận bây giờ.
Về tên gọi “Gia Miêu Ngoại trang” không phải chỉ thấy xuất hiện trong tờ chiếu tuyên dương công trạng Nguyễn Công Duẩn của vua Lê Thái Tổ (năm 1428) mà còn thấy ghi ở tấm bia mộ (hình hộp) của ông Nguyễn Hữu Vĩnh (1437 – 1477) – cháu nội Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn, anh ruột Huy Gia Hoàng Thái Hậu – quý phi của vua Lê Thánh Tông. Bia này do Vị Đồng tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, chức Hiển Lượng đại phu, Hàn lâm viện Thị thư, chưởng Hàn Lâm sự Nguyễn Xung Xắc soạn và cho khắc vào đá ngày 16 tháng 9 năm Mậu Thân, niên hiệu Hồng Đức 19 (1488). Bia này ghi rõ: “Ông huý là Hữu Vĩnh, họ Nguyễn, là người Tống Giang, Gia Miêu Ngoại trang”. Ngoài ra còn một tấm bia mộ nữa, đó là bia mộ Phò mã đô uý Nguyễn Thuẫn (khắc dựng vào ngày 30 tháng 11 năm Hồng Thuật thứ 2 – 1510) cũng ghi: “Ông người họ Nguyễn tên huý là Thuẫn, là người Gia Miêu Ngoại trang huyện Tống Sơn… lấy Nghi Loan trưởng công chúa, con gái thứ 6 vua Hiến Tông, chưa kịp có con đã mất…“.
Trong thực tế lịch sử, ở thời Lê Sơ (T.K XV) cái tên “Gia Miêu Ngoại trang” ngày một lẫy lừng trong thiên hạ. Với ân duệ của triều đình, cả 7 người con trai của Nguyễn Công Duẩn đều lần lượt được đảm nhận nhiều chức vị quan trọng. Riêng Nguyễn Đức Trung (con trưởng cũng là một Bình Ngô khai quốc công thần) vì có công dẹp loạn Nghi Dân để tôn lập Lê Thánh Tông mà được xếp vào hàng “Đại thần xướng nghĩa”. Còn người con gái thứ hai của Nguyễn Đức Trung là bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng (Huyên) lại trở thành quí phi của Lê Thánh Tông – người sinh ra Thái tử Tranh. Từ đó trở đi, Gia Miêu Ngoại trang vừa là đất công thần, vừa là đất ngoại thích của nhà vua.
Vì vậy mà dòng họ Nguyễn – Gia Miêu thời vua Lê Thánh Tông có rất nhiều người được làm quan lớn trong triều, hoặc đi trấn giữ những nơi trọng yếu. Và điều đó đã được Lê Quý Đôn viết trong Phủ biên tạp lục rằng: “Lúc này họ Nguyễn có hơn 200 người làm quan trong triều”. Chính nhờ thế lực to lớn của dòng họ Nguyễn – Gia Miêu mà đã tạo ra động lực và nền tảng vững chắc để cho Nguyễn Kim sau đó phất cao ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” để trung hưng nhà Lê. Và trong công cuộc trung hưng nhà Lê, mâu thuẫn Trịnh – Nguyễn xuất hiện. Và chính vì vậy mà đã tạo ra tình thế để Nguyễn Hoàng – vị chúa Nguyễn đầu tiên đi mở đất phương Nam, tạo ra cục diện phân tranh quyết liệt giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Và trong quá trình xây dựng, mở rộng Đàng Trong 9 đời chúa Nguyễn (kể từ Nguyễn Hoàng đến Phúc Thuần) đã tạo ra một nền móng vững chắc để Nguyễn Ánh đủ lực đánh bại nhà Tây Sơn, lập ra vương triều Nguyễn thống nhất từ Mục nam Quan đến Mũi Cà Mau vào năm 1802. Ngay tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802), trên đường ra Thăng Long, vua Gia Long đã cử quan về Gia Miêu tế tổ và tháng 10 năm đó, trên đường từ Thăng Long về Thuận Hoá, nhà vua đã đích thân về bái yết tổ tiên ở quê hương Gia Miêu.
Có thể nói, trong biết bao bộn bề nhằm củng cố vương triều và quyền lực thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ đất nước sau khi vừa giành được, nhà Nguyễn vẫn rất chú ý quan tâm đến vùng đất cội nguồn, gốc rễ quê hương nơi phát tích của bản triều, đó là trang Gia Miêu Ngoại và huyện Tống Sơn với tất cả nỗi niềm biết ơn thành kính. Vì vậy mà sau một năm lên ngôi, ngoài việc ban tặng danh hiệu cao quý cho Gia Miêu Ngoại trang là đất Quý hương và huyện Tống Sơn là đất Quý huyện, Vua Gia Long còn cho xây dựng lăng – miếu để thờ các vị liệt tổ, liệt tông tại quê hương (mà sử sách gọi là Khu Lăng – miếu Triệu Tường). Để biểu hiện sự quan tâm đặc biệt đối với quê hương Gia Miêu và Tống Sơn, nhà Nguyễn đã ban đặc ân miễn phu phen tạp dịch cho nhân dân ở đây. Không phải chỉ có thế, tình cảm sâu nặng đối với quê hương của nhà Nguyễn còn được biểu hiện ở chỗ hình ảnh của núi Thiên Tôn (Triệu Tường) đã được khắc trên Cao đỉnh và sông Mã được khắc trên Cửu đỉnh (đó là hai trong chín đỉnh đặt ở điện Thái Hoà).
Trong cuộc sống vương giả ở cung đình với trăm ngàn thứ ngon, vật lạ, các vua Nguyễn vẫn nhớ đến những đặc sản bình dị của quê hương như mắm tép Đình Trung (nay thuộc xã Hà Yên, Hà Trung) và mía Triệu Tường (hay còn gọi là mía Đường Trèo ở Gia Miêu, nay là xã Hà Long, Hà Trung). Và hai sản vật này đã trở thành vật tiến cúng hàng năm của huyện Tống Sơn đối với các vua Nguyễn.
Một vấn đề nữa cần lưu ý là nhà Nguyễn rất quan tâm đến họ hàng gốc Gia Miêu. Ngày 21 tháng 7 năm 1802, sau khi giải phóng xong Thăng Long và đóng hành tại ở điện Kính Thiên để giải quyết ổn thoả mọi công việc ở Bắc Hà thì chỉ sau nửa tháng, vào ngày 5 tháng 8 năm 1802, vua Gia Long đã ra chiếu chỉ “Chiêu vấn Công Tính công tộc” để tìm kiếm họ hàng gốc Gia Miêu hiện đang phân tán, lưu lạc trên cả nước. Đến ngày 26 tháng 9 năm đó, nhà vua đã chính thức công nhận 581 người thuộc dòng dõi Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn có Công Tính và được mang chữ lót là Hựu. Đương nhiên, khi đã được công nhận họ Công Tính thì tất cả những người này đều được hưởng rất nhiều quyền lợi như được miễn thuế thân và miễn phu phen tạp dịch…
Như vậy, vấn đề quê hương Gia Miêu Ngoại trang – Tống Sơn – đất phát tích của Vương triều Nguyễn ngay từ đầu đã được vua Gia Long và các vua tiếp theo chú ý quan tâm một cách đặc biệt. Đó là sự ứng xử tất yếu của bất kỳ vương triều phong kiến nào. Có nhẽ vì rất đỗi thiêng liêng mà cái tên Gia Miêu Ngoại trang vẫn được giữ nguyên trong 143 năm tồn tại của vương triều Nguyễn (1802 – 1945). Và trong 143 năm ấy, lúc nào trang Gia Miêu Ngoại cũng thuộc về tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn. Riêng tổng Thượng Bạn, ở đầu thế kỷ XIX có 12 hương, trang (gồm: hương Gia Miêu Ngoại, trang Khắc Ninh, trang Hoàng Vân, trang Yến Vỹ, trang Bảo Đối, trang Mỹ Lưu, trang Động Tiền, trang Động Hậu, hương Gia Miêu Nội, trang Gia Miêu Thượng, trang Đông Đô, trang Quảng Đô)1, tổng Thượng Bạn lại có 16 trang, giáp (gồm trang Gia Miêu Ngoại, trang Gia Miêu Nội, trang Gia Miêu Thượng, trang Động Tiền, trang Động Hậu, trang Hoàng Vân, trang Yến Vĩ, trang Khắc Ninh, trang Phù Lưu, trang Bảo Đới, trang Động Bình, trang Sung Doanh, trang Quảng Phúc, trang Thanh Hải, trang Nghĩa Động, trang Dũng Lược)2. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng Thượng Bạn được đổi là xã Lam Sơn rồi Long Khê gồm 13 làng tương đối ổn định là: Gia Miêu Nội, Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Thượng, Đồng Toàn, Đồng Hậu, Đồng Bình, Phù Nhân, Hoàng Vân, Yến Vĩ, Nghĩa Đụng, Bái Lạt, làng Vóc và trại Dềnh. Từ 1954 đến nay đều thuộc về xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
Về Lăng – miếu Triệu Tường của nhà Nguyễn ở đất Quý hương (Gia Miêu) là tên gọi ghép của lăng Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế (tức lăng Nguyễn Kim) và các miếu thờ gốc tổ triều Nguyễn. Đây là hai thành phần tách bạch và không toạ lạc cùng một chỗ. Lăng ở trong núi Thiên Tôn (hay còn gọi là núi Am), còn miếu thì dựng ở cánh đồng của thung lũng chân núi. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), núi Thiên Tôn (tức núi Am) mới được nhà Nguyễn phong tên là núi Triệu Tường và cho thờ theo vào đàn Nam Giao; năm Minh Mạng thứ 17 (1836) lại được khắc hình vào Cao đỉnh. Đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) núi này được liệt vào hàng danh sơn, ghi vào tự điển (tức điển lễ bắt buộc phải cúng tế). Chính từ khi có tên là núi Triệu Tường (cách gọi ghép) hay Lăng Triệu Trường và Miếu Triệu Tường. Riêng khu miếu thờ, từ lúc được xây dựng thành lũy bao bọc xung quanh thì người đương thời còn gọi là Thành Thiên Tôn, hay Thành Triệu Tường.
Sự thực Lăng và Miếu Triệu Tường là như vậy nhưng cho đến nay, một số người trong các bài viết và sách đã xuất bản vẫn lầm lẫn cho rằng Lăng và Miếu Triệu Tường là một và ở cùng một địa điểm. Thậm chí ở thập kỷ thứ 2 của thế kỷ XX, một học giả nổi tiếng người Pháp là H.LeBretain – người có nhiều bài viết về Thanh Hoá cũng có sự lầm lẫn đáng tiếc như vậy. Trong tập sách “Thanh Hoá đẹp như tranh” công bố trên báo Revue indochinoise (số 3, 4 tháng 3-1922) H.LeBretain đã viết như sau:
“Tên lăng Trường Nguyên do chính Gia Long chọn đặt vào năm thứ 5 sau khi lên ngôi. Lăng ở trên “gò” Thiên Tôn của Quý hương lại ở trên một cánh đồng nên từ “gò” phải hiểu theo nghĩa là tháp do bàn tay người đắp nên. Năm Minh Mạng thứ hai (1821) gò Thiên Sơn được gọi là Triệu Tường (nền móng điềm lành) và ở Thanh Hoá từ đó trở đi cũng gọi tên lăng như thế…
… Lăng Nguyễn Kim tựa như một toà thành. Bao quanh thành có hào nước có cầu gạch bắc qua. Lại còn có hai lớp luỹ bao bọc (bức luỹ ngoài xây năm Minh Mạng thứ 16 (1835) có 4 cửa trổ theo 4 phương, ở cửa Nam có một vọng lâu.
Lũy trong xây dựng năm 1834, có 3 cửa Đông- Tây và Nam. Cửa Nam là một cổng tam quan và phía sau có một hồ bán nguyệt. Phạm vi trong luỹ trong được chia làm 3 khu vực. Khu vực chính giữa là Nguyên miếu (miếu thờ Nguyễn Kim), khu vực bên Đông là Trung Quốc Công miếu (thờ Trung Quốc Công, cha Kim), khu vực bên Tây là trại lính và nhà ở gia nhân các quan coi lăng. Có hai viên quan thuộc dòng tôn thất được cử ra coi lăng gọi là Chánh sứ và Phó sứ, có hai thuộc quan nữa giúp việc, một Diên sứ và một Miếu thừa.
Đừng phí công tìm thêm mộ thật ở nơi nào… Nếu có gặng hỏi lắm sẽ được trả lời rằng Nguyễn Kim được hổ táng và thiên táng trong rừng cấm…
… Bắt đầu đi thăm lăng phải vào Nguyên miếu ở khu trung tâm…”1. Như vậy qua đoạn viết trên đây, chúng ta thấy rõ ràng là H.LeBretain đã hiểu lầm là lăng và miếu Triệu Tường đều ở trong thành Triệu Tường.
Sự thật thì hoàn toàn không phải như vậy. Sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Thanh Hoá, tập thượng, ở phần Lăng mộ đã chép về Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế Trường nguyên lăng (Lăng Trường Nguyên của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế triều Nguyễn – tức lăng của Nguyễn Kim – P.T) cụ thể nh- sau: “Ở núi Triệu Tường trong quí huyện. Lăng này hợp táng cả Tĩnh Hoàng Hậu là vợ Tĩnh Hoàng Đế nhà Nguyễn. Trước đây chưa gọi là lăng, mãi tới niên hiệu Gia Long mới tôn tên gọi là lăng. Năm Minh Mạng thứ 3, ngự chế bài văn bia. Đến niên hiệu Thiệu Trị năm đầu, ngự chế bài thơ và dựng một nhà bia ở phía bên tả lăng. Tương truyền, ở huyệt đó có mở sẵn Long khẩu (miệng rồng, tức là có lỗ hổng sẵn sàng từ trước), đến khi vừa đặt Tử cung (tức là quan tài đựng xác Nguyễn Kim – P.T) vào thì chợt có một cơn mưa gió sấm sét, mọi người đều kinh sợ chạy tán loạn đi cả. Kịp lúc tạnh mưa quay lại thấy núi đá chi chít, cây cỏ um tùm, không thể nào nhận được nơi phần mộ nữa. Bởi thế, sau đây khi có tế thì chỉ vọng núi đó để lễ mà thôi. Mỗi khi các vua ngự giá Bắc tuần, đều có làm lễ yết mộ rất trọng thể. Ngoài ra những ngày thanh minh hàng năm thì cắt các quan Tôn thất ra làm lễ1.
Cũng sách trên, ở mục Đền miếu đã chép về các miếu ở trong thành Triệu Tường như:
“Nguyên miếu (tức miếu thờ gốc tổ triều Nguyễn): ở trong thành Triệu Tường, thuộc Quý huyện. Có lớp nhà chính và lớp nhà ngoài đều 3 gian 2 chái. Gian chính giữa thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế, tức là con của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế. Gian bên tả thờ Gia dụ Hoàng Đế, quay về hướng nam. Hằng năm có 5 ngày lễ chính, còn các ngày tuần tiết đều theo lệ các miếu trong Kinh, do các quan khâm mạng làm lễ. Miếu này dựng lên từ năm Gia Long thứ hai (1803).
Trừng Quốc Công miếu (miếu thờ Trừng Quốc Công):
Ở ngay phía tả nguyên miếu. Nhà chính và nhà ngoại đều 3 gian. Gian chính giữa thờ Trừng Quốc Công (là con của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế), quay về hướng nam. Gian tả phối (thờ phụ thêm) Lỵ Nhân Công, quay về h-ớng tây. Hàng năm tế lễ theo như Nguyên miếu. Miếu này dựng lên từ năm Gia Long thứ ba”2.
Như vậy, Nguyên miếu là nơi thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế) và Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim – tức Gia Dụ Hoàng Đế), còn Trừng Quốc Công miếu là nơi thờ Nguyễn Hoằng Dụ – thân phụ Nguyễn Kim và Nguyễn Văn Lang – thân phụ Nguyễn Hoằng Dụ (tức Lỵ Nhân Công).
Ghi chép về Lăng và Miếu Triệu Tường, sách Đại nam nhất thống chí do Quốc sử quán đời Duy Tân biên soạn, được khắc in năm 1909 (mà Viện Sử học Việt Nam đã công bố lâu nay) cũng nêu tương tự như sách Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức nhưng ngắn gọn hơn.
Ngoài hai bộ sách Đại Nam nhất thống chí (thời Tự Đức và thời Duy Tân) vừa nêu trên ghi chép chính xác về Lăng và miếu Triệu Tường, chúng ta còn thấy sách Niên giám Đông Dương, xuất bản năm 1901 cũng ghi chép chính xác về miếu Triệu Tường như: “Làng Quý Hương, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung có tiếng là cái nôi của triều đại đương thời. Các miếu tháp thờ cúng các vị tiên vương được xây dựng ở đây, có tường gạch bao quanh, tường được giữ phòng bằng luỹ, làm đúng như một toà thành nhỏ, đó là Tôn Thành (tức thành Thiên Tôn – P.T) hay còn gọi là Triệu Tường”.
Đến đây, trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu và đối chiếu với thực tế tại hiện trường của vùng đất Quý hương nhà Nguyễn, chúng ta có thể kết luận sơ bộ như sau:
– Lăng (mộ) Triệu tổ nhà Nguyễn (tức lăng mộ Nguyễn Kim) là ở trong núi Triệu Tường, nên cũng gọi là lăng Triệu Tường. Khu vực núi có mộ “thiên táng, hổ táng” tức mộ dấu kín của Nguyễn Kim mãi tới năm Gia Long thứ 5 (1806) mới được phong gọi là Lăng. ở chân núi Thiên Tôn (tức núi Triệu Tường), nhà Nguyễn đã từng cho xây dựng một sân gạch hình vuông và một nhà sắm lễ, thay quần áo để bái vọng vào mộ tổ tiên (Nguyễn Kim) ở trong núi. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), nhà vua cho dựng ở đây một
tấm văn bia để khắc ghi bài minh như sau:
“Đất lớn chúa thiêng sinh ra Triệu Tổ
Vun đắp cương thường nên rạng thánh võ
Nghĩa động quỉ thần công truyền vũ trụ
Cõi trần rời bỏ lăng ở bái trang
Non nước bao bọc sấm mắt tùng xanh
Khí thiêng nhóm họp đời đời xưng vinh
Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh
Võ công dựng nước bèn tìm gốc nguồn
Tuy tôn dựng miếu lăng gọi Trường Nguyên
Tân tuy Bắc tuần đến đây dựng lại
Trông ngắm non sông nhớ đến gốc cõi
Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài”1
Đến năm 1843, vua Thiệu Trị cũng ngự chế bài thơ và cho dựng ở đây một nhà bia.
Rất tiếc là khu vực sân thờ vọng này không còn giữ được các kiến trúc xưa. Vừa qua (vào năm 2006-2007) họ Tôn Thất ở Huế đã đích thân về đây để trùng tu khôi phục lại nơi thờ vọng ở chân núi Triệu Tường này để tỏ tưởng nhớ tri ân đến đức Triệu Tổ.
– Khu vực Miếu Triệu Tường (hay còn gọi là Thành Triệu Tường hoặc Thành Thiên Tôn) là khu vực toạ lạc trên một thân đất cao ở cánh đồng sát đường Tỉnh lỵ đi Thạch Thành ở làng Gia Miêu. Toàn bộ khu vực Thành Triệu Tường có chu vi là 182 trượng, bao quanh có hào nước và cầu gạch bắc qua, lại có hai lớp luỹ bao bọc (luỹ ngoài xây dựng vào năm 1835, có 4 cửa trổ theo 4 hướng, riêng cửa nam có một vọng lâu; luỹ trong được xây dựng vào năm 1834 có 3 cửa đông, tây, nam. Ở cửa nam có một cổng tam quan và phía sau có hồ bán nguyệt. Ở trong thành Triệu Tường, khu vực chính là Nguyên miếu (thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng). Khu vực phía đông là Trừng Quốc Công miếu (thờ cha Nguyễn Kim). Khu vực phía tây là trại lính và nhà ở của các quan cùng gia nhân coi lăng.
Trang trí và cách sắp đặt trong Nguyên miếu được học giả H.LeBretain mô tả kỹ như sau: “… Nguyên miếu ở khu trung tâm. Miếu xây dựng năm Gia Long thứ 2 (1803) và được trùng tu năm Minh Mạng thứ 1 (1820). Gian chính giữa để thờ Nguyễn Kim. Trong một cái khám rất đẹp có để 2 tấm bài vị: Một tấm ghi mọi chiến tích của Nguyễn Kim, một tấm ghi duệ hiệu của vợ ông… Trước các bài vị có kê 2 cái sập chạm rồng. Bên trái và bên phải là hai rương quần áo thờ. Mỗi lần vua về Nguyên miếu đều cúng tế theo đúng mọi nghi lễ qui định. Người ta trải lên bức sập trong cùng miếu một chiếc chiếu hoa. Trên chiếu lại trải các thảm và gối, một bộ đũa ăn cơm, một bộ đồ uống rượu, một bộ đồ chè và những cây đèn thiếc. Trên cái sập thứ 2 cũng trải chiếu, trên có một cái kỷ thấp sơn son để bày các món ăn. Rồi tiếp đến là hai bàn thờ. Trên bàn thờ phía trong, những ngày có cúng kỵ, bày các mâm quả và các cây đèn bằng thiếc. Trên bàn thờ phía ngoài bày bộ ngũ sự bằng thiếc, những lọ hoa, 2 con hạc gỗ sơn son thếp vàng, hai khay bằng giấy để sau khi lễ xong thì đem đốt. Khảng giữa hai bàn thờ là những cái bàn để dâng bò, dê, lợn cúng tế. Khi nào vua đến cúng bái thì trải một chiếc chiếu trước bàn thờ ngoài. Hàng năm đến các ngày khánh tiết các quan tỉnh và các lăng miếu nhà vua ở Huế. Lại cũng phải chuẩn bị đủ mọi nghi thức như đã nói ở trên”1.
Như vậy, có thể nói thành Triệu Tường chính là một khu vực Quốc miếu của nhà Nguyễn ở đất Quý hương. Đây thực sự là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu ở thời Nguyễn, mang đậm yếu tố kiến trúc cung đình. Đây không những là vùng đất thiêng của nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời một loại hình kiến trúc đền miếu bề thế và độc đáo của nước ta trong thế kỷ XIX. Rất tiếc là qua biến động của thời đại và sự nhận thức ấu trĩ của một thời đã qua, khu Lăng – miếu Triệu Tường chỉ còn là phế tích. Nhưng rất may là nền xưa đất cũ, hào thành và nền móng kiến trúc của các công trình thì vẫn còn đây với sự tiếc nuối của biết bao người. Lăng – miếu Triệu Tường còn gắn với sự kiện Bác Hồ – vị cha già dân tộc đã về đây viếng thăm trong ngày đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (2-1947).
Vừa qua, năm 2007, Bộ trưởng Văn hoá – Thông tin đã ra Quyết định công nhận Khu Lăng miếu Triệu Tường là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Và gần đây, để tỏ lòng tri ân đối với các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn – một vương triều đã có công mở rộng đất phương Nam và thống nhất lãnh thổ, cương vực Tổ quốc từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, UBND tỉnh đã cho phép UBND huyện Hà Trung lập qui hoạch tổng thể và chi tiết Khu Lăng và Miếu Triệu Tường để chuẩn bị cho kế hoạch phục hồi lại khu di tích lịch sử văn hoá đầy dấu ấn này. Và tương lai không xa, trên vùng đất Gia Miêu Quý hương này – Lăng, Miếu Triệu Tường sẽ trở lại như xưa và nhất định trở thành điểm hành hương hấp dẫn trong, ngoài nước.
___________
1 Toàn văn tờ chiếu này đã công bố trên Địa chí huyện Hà Trung, Nxb Khoa học và Xã hội, 2005, tr. 844-845.
1 Xem Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX.
2 Xem Đồng khánh dư địa chí.
1 Tài liệu đánh máy, do Phạm Thế Học dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, hiện có ở Thư viện Khoa học tổng hợp Thanh Hóa.
1 Đại Nam nhất thống chí, tập thượng, do Á – Nam Trần Tuấn Khải phiên dịch theo bản Hán văn biên soạn thời vua Tự Đức 1865-1882, Nha Văn hoá, Bộ Quốc gia Giáo dục, 1960, tr. 96.
2 Đại Nam nhất thống chí, tập thượng, do Á – Nam Trần Tuấn Khải phiên dịch theo bản Hán văn biên soạn thời vua Tự Đức 1865-1882, Nha Văn hoá, Bộ Quốc gia Giáo dục, 1960, tr. 99.
1 Xem Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nxb Thanh Hoá, 1995, tr. 97-98.
1 H. LeBretain (1922), Thanh Hoá đẹp nh- tranh, Báo Revue indochinoise (số 3, 4 tháng 3), tr. 15- 16.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Làm rõ hơn về quê hương và lăng miếu Triệu Tường của nhà Nguyễn (Tác giả: Phạm Tấn) |