LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI CHĂM trên các đền tháp ở NINH THUẬN
Ninh Thuận là tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, với diện tích tự nhiên là 3.360km2, tổng chiều dài bờ biển là 105km2, phía bắc tiếp giáp với Nha Trang, phía nam tiếp giáp với Bình Thuận, phía tây tiếp giáp với Lâm Đồng, phía đông giáp với biển Đông 1. Nơi đây là địa bàn cư trú lâu đời của tộc người bản địa Chăm thuộc tiểu quốc Panduranga của vương quốc Champa. Trải qua quá trình lịch sử phát triển, tộc người Chăm đã sớm tiếp xúc, giao lưu với các nền văn hoá lớn như Trung Hoa, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á, kết hợp với yếu tố bản địa tạo thành những giá trị văn hoá Chăm độc đáo.
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm ở Việt Nam có 161.729 người, riêng ở tỉnh Ninh Thuận là 67.274 người, sinh sống ở 22 palei Chăm thuộc các huyện Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn, Ninh Phước, Thuận Nam và thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 2.
Người Chăm sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, làm rẫy, hoa màu, chăn nuôi gà, vịt, heo, trâu, bò, dê, cừu, v.v. Ngành thủ công nghiệp truyền thống như làm gốm mĩ nghệ và dệt thổ cẩm đang từng bước khẳng định được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước. Riêng nghề đánh bắt thuỷ hải sản và làm muối đã biến mất trong đời sống kinh tế người Chăm. Trong các làng Chăm bắt đầu xuất hiện các cửa hàng, cửa hiệu buôn bán các thứ nhu yếu phẩm hằng ngày. Bên cạnh đó, người Chăm còn có mối quan hệ trao đổi lâu đời với các tộc người sinh sống ở dãy Trường Sơn – Tây Nguyên.
Người Chăm sớm tiếp xúc, lĩnh hội và tiếp biến các tôn giáo lớn như Bà-la-môn giáo của Ấn Độ hình thành nên cộng đồng Chăm Ahiér sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo trên các đền tháp, tiếp nhận Islam giáo đến từ khu vực Trung Đông và Đông Nam Á hình thành nên cộng đồng Chăm Awal (Chăm Bini) và Chăm Islam sinh hoạt tôn giáo trong các thánh đường. Các cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo đoàn kết, bình đẳng sinh hoạt chung với nhau góp phần tô điểm cho bản sắc văn hoá Chăm thêm phong phú và đa dạng. Đặc biệt là vào các dịp diễn ra lễ hội hằng năm trên các đền tháp.
___________
1. Ngô Thị Chính, Tạ Long, Ảnh hưởng yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế – xã hội của Dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, NXB Khoa học Xã hội, 2007, Hà Nội, tr. 19.
2. Jaya Bahasa, Hiện vật trưng bày ở Trung tâm Nghiên cứu văn hoá Chăm tỉnh Ninh Thuận trong Tagalau 14, NXB Thanh niên, 2013, Hà Nội, tr. 162.
2. Hệ thống đền tháp người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận
2.1. Di tích tháp Po Klaong Giray
Di tích tháp Po Klaong Giray toạ lạc trên ngọn đồi Mbuen Hala (đồi Lá trầu), cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 5km về phía tây bắc. Theo truyền thuyết, tháp được vua Jaya Simhavarman III (mà sử liệu Việt Nam thường gọi là Chế Mân) 1. Tháp Po Klaong Giray được xây dựng vào cuối thế kỉ XIII – đầu thế kỉ XIV. Hiện nay, cụm di tích tháp Po Klaong Giray còn tồn tại 3 ngôi tháp.
Ngôi tháp ở phía đông còn gọi là tháp Cổng cao 10m, ngôi tháp ở phía nam có hình dáng giống mái thuyền hay hình yên ngựa còn được gọi là tháp Lửa cao 10m và một ngôi tháp Chính điện cao 20m nằm ở phía tây. Bên trong tháp có đặt Thang Sa làm bằng chất liệu gỗ, dưới Thang Sa có tượng thờ Mukhalinga Po Klaong Giray có hình dạng Linga đính hình mặt người ngồi trên bệ Yoni. Toàn bộ ngôi tháp chính chỉ có một lối ra vào duy nhất, còn lại là các cửa giả. Trên các trụ cột mi cửa có văn khắc chữ Phạn.
2.2. Di tích tháp Po Ramé
Di tích tháp Po Ramé toạ lạc trên ngọn đồi Mbuen Caow thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 20km về hướng tây nam. Ngôi tháp này được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII, sau hơn 300 năm không một công trình kiến trúc đền tháp nào được xây dựng nên được coi là ngôi tháp cuối cùng của nền văn minh Champa.
Tháp Po Ramé cao khoảng 8m, có cửa mở ra hướng đông, bên trong có đặt Thang Sa bằng chất liệu gỗ, dưới là bệ thờ Mukhalinga Po Ramé cao 1,20m. Bên cạnh đó, còn có một tượng thần nữ mà người Chăm gọi là tượng Hoàng hậu người Ê-đê mang tên Po Bia Than Can. Còn ở bên ngoài tháp có một pho tượng Hoàng hậu người Chăm mang tên Po Bia Than Cih nằm trong ngôi nhà nhỏ được dựng tạm. Ngoài ra, còn có một tấm bia đá khối trụ vuông nhưng chữ đã bị bào mòn không còn đọc được nữa, hai tượng sư tử đá nằm ở gốc tây nam đã bị mất tích. Gần đây khi trùng tu tháp, có phát hiện một khu mộ Gahul Bini. Sau lưng tháp là hàng đá Kut có điêu khắc hoa văn.
2.3. Di tích tháp Hoà Lai
Di tích tháp Hoà Lai toạ lạc tại làng Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, là một trong những cụm di tích tháp Chăm cổ nhất (đầu thế kỉ IX) và đẹp nhất hiện còn 2. Cụm di tích tháp Hoà Lai hiện còn 3 ngôi tháp nằm xếp dọc theo trục đông tây.
Toàn bộ thân tháp là một khối lập phương khoẻ nhô lên từ một phần bệ vuông và đỡ cả một hệ thống các tầng nhỏ dần. Trang trí hoa văn bên ngoài tháp chỉ giới hạn ở vòm cửa, ở các trụ ốp, ở bộ diềm mái 3. Tháp Nam là ngôi tháp lớn nhất, tháp Trung tâm (tháp Giữa) nhỏ hơn cả chỉ còn phần thân và một bộ phận của tầng 1, còn giữ được nhiều chi tiết trang trí. Tháp Bắc được trang trí hoạ tiết hoa lá, con voi, sư tử, mặt kala, chim thần Garuda. Tuy nhiên, tại cụm di tích tháp Hoà Lai không được người Chăm chăm sóc, tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo hay cúng hằng năm.
2.4. Di tích đền thờ Po Inâ Nâgar
Đền thờ Po Inâ Nâgar được xây dựng ban đầu tại cánh đồng Hamu Ram thuộc thôn Mông Nhuận, về sau chuyển về thờ phượng tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận nằm ở giữa cánh đồng ở ngoài làng. Ngôi đền được xây cất lại vào giữa thế kỉ XX, sử dụng vật liệu gạch, xi-măng như ngôi miếu của người Việt. Đền thờ ở phía đông có thờ tượng nữ thần Po Bia Apakal, gian chính giữa dùng làm nơi chuẩn bị lễ vật, các đồ cúng tế, gian thờ phía tây có đặt 1 hòn đá và 2 pho tượng nữ thần Po Bia Dara Nai Naih và Po Bia Tâh. Ngoài ra, còn có một ngôi đền ở phía nam có chức năng như tháp Lửa.
Nhìn chung, kiến trúc và hoạ tiết trang trí của ngôi đền thờ Po Inâ Nâgar mang đậm dấu ấn tư duy xây dựng của người Việt. Nhưng, bố cục công trình vẫn tuân thủ theo đúng nguyên tắc tín ngưỡng – tôn giáo Chăm. Có thể nói rằng, đây là giai đoạn mà người Chăm và người Việt có sự giao lưu văn hoá ngày càng sâu sắc, diện mạo bên ngoài của công trình đền thờ Po Inâ Nâgar mang “lớp sơn” Việt ẩn chứa trong đó một tâm hồn Chăm.
__________
1. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa sự thật và huyền thoại, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. 175.
2. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa sự thật và huyền thoại, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. 167.
3. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa sự thật và huyền thoại, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. 168.
3. Nhận diện lễ hội truyền thống của người Chăm trên các đền tháp
3.1. Lễ hội Yuer Yang
Lễ hội Yuer Yang được tổ chức định kì hằng năm vào chiều ngày chủ nhật và sáng ngày thứ hai vào tháng 4 Chăm lịch (khoảng tháng 7 dương lịch). Mục đích của lễ Yuer Yang là tạ ơn thần mặt trời 1. Theo tác giả Ngô Văn Doanh, mục đích lễ Yuer Yang là cầu cho mưa xuống để có nước cày cấy, vì thế người Chăm thường giải thích Yuer Yang là lễ cầu đảo hay lễ thần nông 2.
Trong thời gian 2 ngày hành lễ Yuer Yang, các chức sắc Ahiér như Po Adhia, Po Bac và Po Basaih sẽ tiến hành tẩy uế toàn bộ khu vực đền tháp (Balih Bamong). Đến tối, các chức sắc mang những bộ đại kinh ra đọc (Bac Agal Praong). Nội dung của bài kinh đọc trên đền tháp là những bài kinh cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu nguyện cho muôn vàn sinh linh trên trần thế an khang thịnh vượng. Buổi sáng ngày hôm sau, các chức sắc ngồi lại với nhau cùng hành lễ tế thần lửa (Cuh Yang Apuei) ở tại tháp Lửa (Ngôi tháp nằm ở phía nam). Sau đó, bàn giao công việc dâng lễ vật lên thần linh (Throa Yang) cho các chức sắc Kadhar, Pajuw, Camânei.
3.2. Lễ hội Katé
Lễ hội Katé diễn ra vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 10 dương lịch) với mục đích cầu xin thần linh ban cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, vật nuôi cây trồng sinh sôi phát triển 3. Theo nhóm tác giả Phan Xuân Biên, lễ hội Katé là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chăm được tổ chức để tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc và ông bà tổ tiên 4.
Nét đặc biệt trong lễ Katé là có sự hiện diện của tộc người Ra-glai cùng đến phối hợp tổ chức, trình diễn nghệ thuật đánh Mã la (Paoh Char) và không gian của lễ hội lan toả dần từ đền tháp đến làng và từng gia tộc. Theo tác giả Sakaya, Katé là di sản văn hoá chung của Dân tộc Champa vùng Panduranga mà chủ nhân của lễ này, chính là toàn bộ cư dân Champa trong đó có cả Chăm Ahiér (Chăm ảnh hưởng Bà-la-môn giáo), Chăm Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo) và một số tộc người miền núi cao nguyên miền Trung Việt Nam 5.
3.3. Lễ hội Cambur
Lễ hội Cambur được tổ chức vào tháng 9 Chăm lịch (khoảng tháng 12 dương lịch) 6, mục đích để tạ ơn thần mẹ Po Inâ Nâgar, thần Đất đã phù hộ cho mùa màng tươi tốt 7. Về cơ bản, các bước hành lễ của lễ Cambur cũng giống như lễ Katé nhưng quy mô tổ chức có phần nhỏ hơn.
Sau khi lễ Cambur ở các đền tháp tiến hành xong, ở các gia tộc cũng tổ chức cúng gia tiên. Nét khác biệt trong các cách thức hành lễ ở các địa phương có sự khác nhau thì không khí lễ hội Cambur ở ngôi đền Bimong Po Haniimper ở Pacam huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận so với các đền tháp ở Ninh Thuận dĩ nhiên cũng có sự khác biệt đậm nét.
3.4. Lễ hội Peh Pabah Mbeng Yang
Lễ hội Peh Pabah Mbeng Yang tạm dịch là lễ mở cửa đền tháp, được tổ chức vào tháng 11 Chăm lịch, là lễ xin thần linh cho phép dân làng được khai kênh đắp đập, chuẩn bị cho vụ sản xuất mới. Ngoài ra, lễ còn có ý nghĩa cầu xin cho mưa xuống, cho mưa thuận gió hoà, cây cối, mùa màng tươi tốt sai hoa nặng quả. Trong khi làm lễ mở cửa đền tháp, ông Hamu Aia (ông Cai đập) nhảy múa, nhún nhảy với cây nỏ nường thể hiện cho quan hệ tính giao, nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở 8.
Cùng một lễ nhưng nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu lại cho rằng, lễ Peh Pabah Mbeng Yang là dịp để cho các tộc họ đang canh tác trên thiên điền (Hamu Canyraow) dâng hương hoả (Brah sang brah kaje) cho thần linh và là để cho Ban tế tự các đền tháp phơi nắng những bộ lễ phục đã qua 3 lần sử dụng (Yuer Yang, Katé, Cambur) không bị ẩm mốc 9.
__________
1. Sử Văn Ngọc, Văn hoá làng truyền thống người Chăm tỉnh Ninh Thuận, NXB Dân trí, Hà Nội, 2010, tr. 136.
2. Ngô Văn Doanh, Lễ hội chuyển mùa của người Chăm, NXB Trẻ, 2006, TP Hồ Chí Minh, tr. 149.
3. Sử Văn Ngọc, Văn hoá làng truyền thống người Chăm tỉnh Ninh Thuận, NXB Dân trí, Hà Nội, 2010, tr. 136.
4. Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 1991, tr. 272.
5. Sakaya, Tiếp cận một số vấn đề văn hoá Champa, NXB Tri thức, Hà Nội, 2013, tr. 258.
6. Sử Văn Ngọc, Văn hoá làng truyền thống người Chăm tỉnh Ninh Thuận, NXB Dân trí, Hà Nội, 2010, tr. 137.
7. Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 274.
8. Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 271.
9. Nguyễn Thị Thu – Thập Liên Trưởng – Phạm Văn Thành, Lễ nghi nông nghiệp truyền thống tộc người Chăm – Ra-glai Ninh Thuận, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2010, tr. 190-191.
4. Diễn trình lễ hội truyền thống Chăm trên các đền tháp
4.1. Nghi thức tấu trình với thần linh
Nghi thức tấu trình trong tiếng Chăm gọi là Pathau Hala, là nghi thức mở đầu cho các bước hành lễ chính trong đền tháp. Các chức sắc Kadhar, Po Adhia ngồi ở vị trí phía bắc, chức sắc Pajuw và Camânei ngồi ở vị trí phía nam đối diện với ngôi tháp chính điện, tay phải cầm lá trầu chỉ về hướng ngôi đền, tay trái thì che lại nách phải, dâng lời khấn báo với thần linh về lí do và mục đích của công việc cúng lễ.
4.2. Nghi thức mở cửa tháp
Trước khi cửa tháp được mở ra, ông Camânei khấn tại bậc thềm chính điện, tay cầm trầu cau, nước thánh. Sau đó, đưa nước thánh trước mặt quay về phía đông đọc bài khấn rồi té nước vào phù điêu Siva trên cửa tháp. Những giọt nước thánh rớt xuống được các tín đồ hứng bôi, thoa vào thân thể cầu mong sự khoẻ mạnh. Nghi thức tế nước được tiến hành lặp đi lặp lại 3 lần.
Ngay sau khi tế nước xong, nghi thức mở cửa tháp được tiến hành liền. Ông Camânei di chuyển vào bên trong tháp, khấn xin thần linh cho phép mở cửa tháp. Khi cánh cửa tháp từ từ mở ra, bà Pajuw ném những miếng trầu cau ra bên ngoài làm sạch sẽ không gian thiêng liêng.
4.3. Nghi thức tắm và mặc lễ phục cho tượng thần
Khi cửa tháp đã được mở ra, ông Camânei và bà Pajuw bước vào bên trong tháp, dùng nước trầm hương tắm, gội cho tượng thần. Trong lúc đó, chức sắc Kadhar ngồi ở bên ngoài cửa tháp cạnh con bò thần Nandil, hát hướng dẫn cho Camânei và Pajuw hành lễ. Lời hát của Kadhar đến đâu thì động tác tắm và mặc lễ phục cho tượng thần diễn ra theo đúng trình tự đó cho đến khi mang xong lễ phục.
4.4. Nghi thức dâng lễ vật cho thần linh
Mặc lễ phục cho tượng thần xong, chức sắc Kadhar hát mời thần linh về ngự trị tại bàn tổ để nhận những lễ vật do thần dân dâng lên. Bà Pajuw rót rượu khấn mời thần linh đến, Po Adhia làm động tác mời thần linh nhận lễ vật theo lời hát hướng dẫn của Kadhar.
Các thần linh lần lượt được mời đến hưởng lễ vật là: Yang Po Yang Amâ, Po Inâ Nâgar, Po Pan, Po Thun Giray, Po Giray Bhaok, Po Ramé, Po Bia Than Cih, Po Bia Than Can, Po Sah, Po Klaong Kasat, Po Cei Thun, Yang biruw như: Po Tang, Po Gihlau, Po Riyak, Po Tang Ahaok, Po Haniimper, Po Patao Bir Thuer, v.v. 1
___________
1. Quảng Văn Đại, Nghi lễ Yuer Yang trên tháp Po Klaong Giray (Tài liệu đánh máy), tr. 6.
5. Kết luận
Những lễ hội Chăm diễn ra trên đền tháp như Yuer Yang, Katé, Cambur, Peh Pabah Mbeng Yang là những sinh hoạt mang tính chất tín ngưỡng – tôn giáo của cư dân nông nghiệp. Các lễ vật cúng trên đền tháp vốn là những sản vật địa phương do người dân nuôi trồng được mang dâng cho thần linh để tạ ơn và cầu nguyện một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Qua đó, thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục thế hệ trẻ luôn hướng về những giá trị sống tốt đẹp.
Các lễ hội trên đền tháp mang tính thiêng liêng, đồng thời là nơi thể hiện những giá trị văn hoá, nghệ thuật dân gian đặc sắc nhất của người Chăm như ẩm thực, trang phục lễ hội, nghệ thuật hát kể lại tiểu sử, công đức của thần linh và anh hùng dân tộc được thần linh hoá.
Lễ hội Chăm không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn thể hiện nhiều khát vọng sống vươn lên đạt đến các giá trị chân – thiện – mĩ như chính sự uy nghi của các ngôi tháp đứng vững vàng trên ngọn đồi cùng dòng chảy thời gian.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Jaya Bahasa, Hiện vật trưng bày ở Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Chăm tỉnh Ninh Thuận trong Tagalau 14, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2013.
2. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
3. Ngô Thị Chính, Tạ Long, Ảnh hưởng yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007.
4. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa sự thật và huyền thoại, Hà Nội, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1994.
5. Ngô Văn Doanh, Lễ hội chuyển mùa của người Chăm, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
6. Quảng Văn Đại, Nghi lễ Yuer Yang trên tháp Po Klaong Giray (Tài liệu đánh máy).
7. Sử Văn Ngọc, Văn hoá làng truyền thống người Chăm tỉnh Ninh Thuận, NXB Dân trí, Hà Nội, 2010.
8. Sakaya, Văn hoá Chăm nghiên cứu và phê bình, tập 1, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2010.
9. Sakaya, Tiếp cận một số vấn đề văn hoá Champ, NXB Tri thức, Hà Nội, 2013.
10. Nguyễn Thị Thu – Thập Liên Trưởng – Phạm Văn Thành, Lễ nghi nông nghiệp truyền thống tộc người Chăm-Raglai Ninh Thuận, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2010.
BÁ MINH TRUYỀN 1
__________
1. ThS, Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Chăm tỉnh Ninh Thuận.
Ảnh minh họa (Ban tu thư sưu tầm): Lễ hội Katê của người Chăm ở Bình Thuận – Nguồn: TTXVN
