Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Một số vấn đề mới trong GIỮ GÌN và PHÁT TRIỂN TIẾNG VIỆT - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Một số vấn đề mới trong GIỮ GÌN và PHÁT TRIỂN TIẾNG VIỆT

NGUYỄN VĂN HIỆP
(GS TS, Viện Ngôn ngữ học – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

1. Đặt vấn đề

     Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với những thay đổi chóng mặt về kinh tế và xã hội, vấn đề phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đang được đặt ra một cách cấp bách, với những vấn đề rất mới mẻ.

     Về nguyên tắc, cũng như tất cả các sinh ngữ khác, tiếng Việt phải phát triển để đáp ứng nhu cầu diễn đạt nhận thức chung của xã hội đang phát triển, nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phức tạp và tinh tế của người Việt. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, một loạt hình thức giao tiếp mới ra đời: điện thư, chát, mạng xã hội,v.v. đã kéo theo những dạng giao tiếp ngôn ngữ trước đây chưa từng có.

     Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ ấy cũng kéo theo vô số những hệ luỵ, trong đó có những hệ luỵ liên quan đến ngôn ngữ. Nếu gõ vào google cụm từ “Vấn đề bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt”, chương trình tìm kiếm sẽ cho khoảng mười triệu kết quả. Quả thật, xã hội đã tiêu tốn rất nhiều nguồn lực cho vấn đề tưởng như “chẳng chết ai” này. Điều đó phản ánh ý thức cảnh giác, có thể nói là một sự lo sợ, của xã hội đối với vấn đề giữ gìn và phát triển tiếng Việt, đặc biệt là báo động và lo sợ về sự tha hoá, méo mó của tiếng Việt, báo động về sự biến dạng đến nỗi không thể hiểu được khi nhiều người hồn nhiên dùng tiếng Anh lẫn với tiếng mẹ đẻ, khi thế hệ @ dùng những kí tự lạ trong chát hay nhắn tin. Những bài viết với tiêu đề như “Tiếng Việt đang méo mó”, “Nỗi lo chính tả”, “Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, “Tiếng Việt thời nay: nên cười hay nên khóc”, “Nghĩ về tiếng Việt mạng xã hội”, “Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hoá”, “Cười ra nước mắt, tiếng Việt thời nay”,… là những hồi chuông báo động đối với gia tài tiếng Việt, hồn Việt và văn hoá Việt,… Bên cạnh việc miêu tả thực trạng, các bài viết này đã không ngần ngại chỉ ra nguyên nhân của tình trạng này, đó là do nền kinh tế thị trường phát triển với nhiều hình thức thái quá, sự xuống cấp của đạo đức xã hội, sự nông nổi của các bạn trẻ thế hệ 8x, 9x và cả sự buông lỏng kỉ cương trong việc sử dụng từ ngữ đối với các phương tiện thông tin đại chúng,…

     Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng tình trạng không đến nỗi nào, tức cho rằng những cái nhố nhăng trong cách diễn đạt sẽ nhanh chóng qua đi và tiếng Việt đủ nội lực để tự bảo vệ, để trường tồn cùng dân tộc.

     Trong bài viết này, chúng tôi tiến hành khảo sát tình trạng sử dụng tiếng Việt hiện nay, đặt vấn đề vào trong những chiều kích khác nhau và đi tìm lí luận ngôn ngữ học hiện đại để trả lời câu hỏi đang được đặt ra một cách bức xúc đối với toàn xã hội: Tình trạng sử dụng tiếng Việt như vậy có thật sự nghiêm trọng không? Chúng ta cần phải làm gì để phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cũng là một cách để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt?

2. Những vấn đề có tính truyền thống về giữ gìn và phát triển tiếng Việt

     Trước khi bàn về vấn đề giữ gìn và phát triển tiếng Việt, cần bàn đến mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn, giữa chuẩn và phi chuẩn.

     2.1. Vấn đề phát triển và bảo tồn

     Như mọi người đều biết, ngôn ngữ ra đời là để đáp ứng nhu cầu giao tiếp và biểu đạt tư tưởng. Tiếng Việt với lịch sử phát triển lâu đời đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình. Lịch sử tiếng Việt là lịch sử của phát triển và bảo tồn, lịch sử đấu tranh để chuyển hoá cái chuẩn và phi chuẩn.

     Theo ý kiến của số đông các nhà nghiên cứu, tiếng Việt có nguồn gốc Nam Á (dòng Môn- Khơ me). Trên cơ tầng ấy, tiếng Việt đã có cuộc tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán để có những bước phát triển mạnh mẽ về các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Sau thời gian Bắc thuộc, cha ông ta đã chủ động vay mượn một số lượng lớn vốn từ tiếng Hán để làm phong phú hơn cho tiếng Việt, đáp ứng những nhu cầu của một xã hội được tổ chức theo mô hình nhà nước phong kiến tập quyền, dựa trên các nguyên lí của Nho giáo.

     Đến thời Pháp thuộc, tiếng Việt cũng có một đợt vay mượn từ vựng lớn, với nhiều từ khoa học kĩ thuật được nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt: ô xy, a xít, ghi đông, xà phòng, săm, lốp, tua bin, may ơ, v.v. Nhiều cách diễn đạt mới mẻ cũng được hình thành, dựa trên sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Pháp.

      Sự phát triển ấy tiếp tục được thấy trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn phát triển của các cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật.

     Vấn đề là trong quá trình tiếp xúc, vay mượn để phát triển ấy, tiếng Việt không bị đồng hoá, hoà tan, mà vẫn giữ được bản sắc của mình: Người Việt đã “Việt hoá” các âm mượn của tiếng Hán, tiếng Pháp và cả tiếng Anh gần đây, vẫn giữ được căn cốt ngữ pháp với trật tự SVO và mô hình cấu tạo danh ngữ về cơ bản là chính trước phụ sau.

     2.2. Vấn đề chuẩn và phi chuẩn

     Xoay quanh khái niệm “chuẩn” có nhiều ý kiến khác nhau. Song, điểm chung trong quan niệm về “chuẩn” của các nhà nghiên cứu là: (1) Chuẩn mang tính quy ước xã hội (do xã hội đánh giá, lựa chọn, thừa nhận), (2) Chuẩn phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ và (3) Chuẩn có tính lịch sử (tồn tại trong một giai đoạn lịch sử) với nguyên lí có tính biện chứng: những cái chuẩn của ngày hôm nay có thể trở thành cái phi chuẩn của tương lai; ngược lại có những cái phi chuẩn của hôm nay lại tiềm tàng khả năng thành cái chuẩn của tương lai. Ngược với “chuẩn” là khái niệm “phi chuẩn” – cái được cho là không đúng, không phù hợp. Tuy nhiên, do chuẩn mang tính lịch sử nên ranh giới giữa “chuẩn” và “phi chuẩn” không phải khi nào cũng rõ ràng mà có thể chuyển hoá cho nhau.

     Trải qua lịch sử phát triển, tiếng Việt đã có một diện mạo chung, thống nhất. Tuy nhiên, cũng như tình hình ở các quốc gia khác, trên đất nước Việt Nam, tồn tại nhiều phương ngữ địa lí, với những khác biệt nhất định về ngữ âm, từ vựng và cả ngữ pháp, vì thế vấn đề chuẩn hoá càng thêm phức tạp.

     Hiện nay, chưa có một văn bản chính thức nào của nhà nước quy định giọng chuẩn cho tiếng Việt. Tuy nhiên, trong thực tế, do vai trò của Hà Nội với tư cách là thủ đô, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá mà tiếng miền Bắc, cụ thể là giọng Hà Nội đang dần dần trở thành một chuẩn, hay đang vươn tới thành một chuẩn ngầm ẩn trong thực tiễn sử dụng tiếng Việt.

     Quá trình khẳng định vị thế của phương ngữ Bắc qua giọng Hà Nội diễn ra song song với quá trình một số yếu tố của phương ngữ Nam và phương ngữ Trung lan toả, được nhận vào phương ngữ Bắc, trở thành những yếu tố có tính toàn dân.

     Trong cách phát âm, nếu một số đặc điểm mang tính phương ngữ có thể được chấp nhận thì một số đặc điểm khác, bị coi là “nói ngọng” lại không được chấp nhận. Chẳng hạn, sự phát âm lẫn lộn L/N đã không được xem là một đặc điểm phương ngữ và đã bị chỉ trích rất nhiều. Thậm chí có những ý kiến cực đoan như không tuyển chọn giáo viên lẫn lộn cách phát âm L/N.

     Ngày nay, nói đến sự phát triển và thống nhất của tiếng Việt, không thể không nhắc đến vai trò của chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ đã trở thành một tài sản quý giá của Việt Nam và trong vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt, cần đặt ra vấn đề chuẩn chính tả. Những vấn đề về phiên âm hay viết nguyên dạng tên riêng nước ngoài, vấn đề viết i ngắn (i) hay i dài (y), vấn đề có cần bổ sung các chữ cái F, J, W, Z hay không hiện nay đang là những vấn đề thời sự của chuẩn hoá chính tả tiếng Việt.

     Một loạt các cuộc vận động và hội thảo khoa học trước đây đã phản ánh những chủ đề quan trọng nhất của vấn đề chuẩn hoá.

     Vào những năm 1970-1980, đã có một vận động sôi nổi về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đã có một loạt hội thảo khoa học do Viện Ngôn ngữ học và Trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục tổ chức tại Hà Nội (tháng 7/1978), Huế (tháng 8/1978), Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 10/1978) và Hà Nội (tháng 6/1979), với sự tham gia của nhiều nhà văn hoá, nhà giáo dục, nhà khoa học trong cả nước. Các báo cáo quan trọng đã được đăng lại trong Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 và 4/1979, tập trung về chuẩn hoá chính tả và thuật ngữ khoa học.

     Đặc biệt, Hội nghị “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ” do Viện Ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội từ ngày 26 đến ngày 30/10/1979 đã thu hút hơn 300 đại biểu, với hơn 120 bản báo cáo. Hội nghị đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm và nói chuyện. Trong bài viết quan trọng “Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của công việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hoá nó, để phục vụ sự phát triển trí tuệ con người Việt Nam, sự phát triển sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thủ tướng đã nhấn mạnh lí do vì sao chúng ta cần phải có sự quan tâm đầy đủ đến tiếng Việt, đặc biệt ở thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

     Hội nghị cũng ghi nhận những phát biểu quan trọng của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Giáo sư Phạm Huy Thông, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Các phát biểu và báo cáo của hội thảo trên đã được công bố thành 2 tập sách “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”, tập 1 và tập 2, NXB Khoa học xã hội, 1981.

     Có thể thấy, những vấn đề có tính “truyền thống” đối với sự giữ gìn và phát triển tiếng Việt là vấn đề chuẩn hoá chính tả, vấn đề phiên âm, vấn đề dùng từ vay mượn, vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ, vấn đề quan hệ giữa tiếng địa phương và ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn là cho dù đã được quan tâm từ rất sớm nhưng cho đến nay, những vấn đề như vậy vẫn chưa thực sự có được một sự thống nhất và đồng thuận xã hội.

3. Những vấn đề mới trong giữ gìn và phát triển tiếng Việt gắn với sự phát triển của xã hội hiện nay

     Gần đây, cuộc hội thảo toàn quốc tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 18/6/2010 về chủ đề “PHÁT TRIỂN VÀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY” đã thu hút được nhiều nhà khoa học tham gia. Qua hội thảo, một loạt vấn đề mới về việc sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh đổi mới và hội nhập đã được đặt ra.

     Đặc biệt, gần đây nhất vào tối 29/3/2012, tại Hội trường Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace, ở Hà Nội đã diễn ra buổi toạ đàm “Ngôn ngữ giới trẻ thời @ qua tranh của hoạ sĩ Thành Phong”. Buổi toạ đàm có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội. Rất nhiều người trẻ đã đến để lắng nghe và bày tỏ tiếng nói về những vấn đề của chính họ. Chủ đề chính của buổi toạ đàm là cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” của Thành Phong – cuốn sách vừa mới ra mắt đã bị thu hồi vào tháng 10/2011, với dư luận nhiều chiều. Cuốn sách tranh (tranh minh hoạ cho một số thành ngữ mới, thời thượng của giới trẻ) bị nhiều người phê phán vì cho rằng cổ suý những câu nói kiểu “Chán như con gián”, “Chảnh như con cá cảnh”, “Dở hơi biết bơi”, “Ăn chơi sợ gì mưa rơi”,… là những kết hợp vô nghĩa, những cách nói làm méo mó tiếng Việt. Rất nhiều ý kiến cho rằng giới trẻ ngày nay đã và đang làm mất đi sự trong sáng và cái hay, cái đẹp vốn có của tiếng Việt. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến ngược lại. Chẳng hạn, nhà giáo Văn Như Cương đã bày tỏ sự thích thú với lối sáng tạo ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Ông cho rằng, những câu nói như “chảnh như con cá cảnh”, “khổ như con hổ”,… đã thật sự mang lại những ý nghĩa rất thú vị và bất ngờ mà lối nói truyền thống không thể nào diễn tả được. Hơn thế nữa, ông cho rằng lối nói này thể hiện một sự chuyển đổi từ cái cũ sang cái mới. Ông nêu ra ví dụ, ngày xưa ông cha ta nói “Cái khó bó cái khôn” là để chỉ cái đói cái nghèo ngăn trở chúng ta thành công trong cuộc sống. Nhưng trong kháng chiến chống Pháp, cả dân tộc gặp “cái khó” mới “ló cái khôn”, thể hiện ở vô số nỗ lực vượt lên mọi khó khăn để chiến đấu và chiến thắng. Tuy nhiên, nếu cứ đói mãi, cứ khó mãi, thì “cái khó ló cái ngu”. Rõ ràng ba câu nói phản ánh ba thời kì lịch sử khác nhau chứ hoàn toàn không phải là sự biến đổi ngôn ngữ tuỳ tiện. Với cái hay của ba lối nói này, ông kết luận: “Làm sao tôi không mê cho được?”.

     Chúng tôi cho rằng những vấn đề mới đối với việc giữ gìn và phát triển tiếng Việt là hiện tượng lớp trẻ dùng những kết hợp khác lạ, sử dụng tiếng Việt biến âm trong lời nói và chữ viết và sử dụng tiếng Anh chen lẫn với tiếng Việt. Nhìn chung, tuy có những lí lẽ bênh vực nhưng ý kiến về những hiện tượng này thiên về phê phán hơn là ủng hộ.

4. Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của thế hệ trẻ hiện nay

     Như đã nói trên đây, ngôn ngữ của thế hệ @ cần được đặt trong bối cảnh phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, đã làm nảy sinh những hình thức giao tiếp độc đáo, chưa từng có trong lịch sử nhân loại: điện thoại di động, email, chát trực tuyến, mạng xã hội, blog,… Sau đây là bức tranh về một số hiện tượng ngôn ngữ “phi chuẩn” của thế hệ trẻ hiện nay.

     4.1. Những cách sử dụng ngôn ngữ khác lạ

     – Sử dụng những cách nói vô nghĩa, kì lạ, kiểu như: “Cướp trên giàn mướp”, “Buồn như con chuồn chuồn”, “Chảnh như con cá cảnh”, “Chán như con gián”, hoặc sử dụng những kết hợp bất thường, kiểu như “Hơi bị đẹp”.

     – Sử dụng cách nói chơi chữ (chủ yếu dựa trên hiện tượng đồng âm), ví dụ: “Yêu nhau trong sáng, phang nhau trong tối”, “Cam – pu – chia tiền ăn trưa”, “Chuối cả nải”,…

     Những cách nói như trên thường gây hiệu quả hài hước. Tuy nhiên, đối với những người thế hệ trước, những người khắt khe, muốn giữ gìn tiếng Việt thì những cách nói như vậy là không thể chấp nhận được.

     4.2. Sử dụng tiếng Việt biến âm trong lời nói và chữ viết

     Thực trạng này đã gây sốc cho nhiều người, nhất là các bậc cha mẹ. Họ sốc vì cách nói làm “méo mó” tiếng Việt của bọn trẻ, họ sốc vì không thể hiểu được bọn trẻ nói gì.

    Trong tin nhắn điện thoại đi động, trong chát trực tuyến, v.v. rất phổ biến cách diễn đạt kiểu như: từ “rồi” viết thành “roài”, “không” thành “hông”/ “hem”, “biết” thành “bít”. Kết quả là có những câu như: “The la cau hem bit roai, hihi” (“dịch” ra ngôn ngữ bình thường là “Thế là cậu không biết rồi, hì hì”). Xa hơn nữa, thế hệ @ còn “sáng tạo” những cách viết kì dị, như chữ “a” viết thành 4, chữ e viết thành 3, i thành j, g đổi sang 9, o thành 0, c thành k, b thành p, v.v. Câu “Thế là cậu không biết rồi” trên đây sẽ được viết là: “Th3 l4 k4u h3m pjt r04j, hyhy”.

     Cách diễn đạt này bí hiểm đến nỗi một nữ sinh Trường THPT Trần Đại Nghĩa (TPHCM) là Dương Đăng Trúc Khuyên đã bỏ công viết phần mềm dịch ngôn ngữ @, đặt tên là V2V (Việt sang Việt). Dưới đây là một minh hoạ cho ứng dụng của phần mềm này:

     Tuy nhiên phần mềm V2V vẫn không theo kịp tốc độ biến dạng của ngôn ngữ @. Bởi càng về sau, lớp tuổi @ càng có nhiều cách dùng quái đản khiến phần mềm V2V phiên bản đầu tiên nhanh chóng trở nên lạc lậu, không dịch chính xác được. Hệ quả là tác giả phải tiếp tục nghiên cứu và nâng cấp lên phiên bản 1.3, đến nay đã là… 1.4. (Dẫn theo Nguyễn Văn Toàn, “Tiếng Việt đang bị… bụi bám”, http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71742/tieng-viet-dang- bi—-bui-bam-.html).

     4.3. Sử dụng tiếng Anh chen lẫn với tiếng Việt

     Thế hệ @ là thế hệ giỏi ngoại ngữ. Hệ quả là trong ngôn ngữ của họ thường có tình trạng dùng tiếng Anh chen lẫn tiếng Việt. Chẳng hạn đây là một lời tự giới thiệu của một bạn “tuổi teen”:

     “Hi mọi người! Mình là …., mình rất vui được làm quen với everybody. Mình đang study ở ……..High School. Mình rất confident trong các extracurricular activities. Hiện nay mình đang cope up with chương trình học rất killer của trường… Nhưng mình tin với capacity của mình, mình sẽ hoàn thành completely cái syllabus đó” (Dẫn theo http://www.bacgiangonline.net/diendan/ showthread.php?t=10709&page=1).

     Hiện tượng dùng tiếng Anh lẫn với tiếng Việt không chỉ thấy ở thế hệ @ mà còn thấy ở những người lớn tuổi từng đi du học ở nước ngoài hoặc trong công việc hàng này có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với người nước ngoài. Chẳng hạn, một khách hàng của Việt Nam Airlines có thể nói với nhân viên phòng vé: “Vé này có cần con phơm (confirm) lại không chị?”

     Nguy cơ của cách nói này là có thể hình thành một loại ngôn ngữ pidgin, như cách nói “Tây bồi” trước năm 1945.

Còn tiếp: