Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
CHIỀU SÂU VĂN HOÁ qua NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN CUỘC BÁO THÙ CUỐI CÙNG của CAO DUY SƠN - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

CHIỀU SÂU VĂN HOÁ qua NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN CUỘC BÁO THÙ CUỐI CÙNG của CAO DUY SƠN

ĐỖ THỊ HIÊN
(TS, Viện Ngôn ngữ học)

1. Đặt vấn đề

     Trong bài phát biểu: Mấy vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá, tác giả Nguyễn Huy Cẩn có nhận xét: các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu văn hoá thường sử dụng các tài liệu ngôn ngữ trên các bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng học, như phát ngôn, cấu tạo văn bản. Coi văn bản ngôn từ của một tác phẩm văn học là một diễn ngôn đặc biệt, trong bài viết này, xuất phát từ quan điểm nói về sự thống hợp của ngữ dụng học đối với hai mặt còn lại, chúng tôi sẽ tìm hiểu chiều sâu văn hoá qua văn bản ngôn từ của truyện ngắn Cuộc báo thù cuối cùng của Cao Duy Sơn.

     Cao Duy Sơn là nhà văn quân đội. Anh rất có duyên với các giải thưởng về văn học. Truyện ngắn “Cuộc báo thù cuối cùng” của anh, là một trong những truyện ngắn hay, đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993. Có thể nói, trong truyện ngắn này, nghệ thuật xây dựng nút truyện đã góp phần lớn vào thành công của nó. Ở đó, các đoạn tả với những ngôn từ như được tôi luyện để có sức mạnh đánh thức và cuốn hút cả năm giác quan của người đọc” (theo D. Boulanger). Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung khai thác những năng lượng nghệ thuật, được dồn nén trong các hiện tượng ngôn ngữ ở phần cuối câu chuyện.

2. Giá trị nghệ thuật của ngôn ngữ miêu tả trong những nút truyện

     Sáng tạo nghệ thuật của Cao Duy Sơn là ông đã tập trung miêu tả đặc sắc giai đoạn cuối của cuộc báo thù. Ở đó, nhà văn đã xây dựng 9 đoạn tả để biểu hiện cụ thể, sinh động, cao trào, khát vọng trả thù. Một khát vọng tìm kiếm, săn lùng, rửa hận đã được nung nấu gần suốt một cuộc đời của lão Vược với con hổ dữ – kẻ thù đã giết hại người vợ vô cùng yêu quý của lão. Lòng căm thù của lão càng tăng lên gấp bội khi hiện lên trước mắt lão là thi thể nát nhừ của người vợ mà nhát dao trả thù của lão, lại sượt, chỉ làm bay mất một tai con hổ dữ.

     Lão đã dồn hết sinh lực vào việc săn lùng con một tai. Số chân hổ mà lão săn được đã treo đầy gác bếp mà kẻ thù thì vẫn bặt tăm hơi. Nhưng điều bất ngờ đã đến. Trong khi cứ mải mê săn lùng ở đâu xa thì, chính con một tai và con của nó lại đến nhà giỡn chơi với bé Na, con gái lão. Vậy là, nợ cũ chưa trả, giờ đây mối hiểm nguy lại đang đe doạ tính mạng đứa con gái mồ côi bé bỏng.

     Đoạn 29, bằng lối tả tĩnh, tác giả đã dẫn dắt người đọc tiếp cận với sự kiện nảy sinh nút chuyện “Chúng đã hiện ra rõ quá! Con một tai kia!”. Hai câu văn cảm thán, đã giới thiệu với bạn đọc sự xuất hiện của con hổ chỉ còn một tai và tâm trạng hồi hộp dõi theo của lão Vược. Tiếp đến là những câu văn ngắn với những tính từ chỉ tính chất và những từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm: ung dung, phôi phai, hẹp, gầy, lưa thưa, khô trắng, tác giả đã miêu tả khá tỉ mỉ bộ dạng con hổ dữ ngày xưa, nay đã trở nên tàn tạ. Những dòng ấy đã có thể gợi lên ở người đọc một nỗi xót thương, một lòng trắc ẩn. Nhưng những câu cuối của đoạn văn với sự bắt đầu của đại từ “kia” cùng dấu chấm than lại như con đập chắn ngang dòng cảm xúc và thay vào đó là cái tâm trạng đầy uất hận của lão Vược khi nhìn thấy những răng nanh nhọn hoắt, rãi rớt ròng ròng, v.v. hiện thân của tội ác năm xưa. Đoạn văn như một dấu lặng làm chững lại mạch cảm xúc của người đọc. Sau cái chững lại ấy, người đọc như bị cuốn vào mạch truyện một cách nhanh mạnh và đầy bất ngờ. Điều này được thể hiện rõ ở những đoạn tả tiếp theo.

     Đoạn 30, dòng hồi tưởng của lão Vược bị ngừng lại đột ngột, thay vào đó là sự căng thẳng, hồi hộp bởi hai mẹ con con “một tai” mỗi lúc một tiến gần về phía cầu thang. Lão Vược như nín thở theo dõi nhất cử nhất động của chúng, đặc biệt là con hổ mẹ. Về phía hổ mẹ, nó cũng tỏ ra hết sức thận trọng. Hình như nó đánh hơi thấy điều gì khác thường. Hàng loạt những động từ chỉ trạng thái, nối tiếp nhau để thể hiện thật sinh động sự khôn ngoan, cảnh giác và từng trải của con hổ đã già đời: co mình; dừng lại; (chiếc tai phải đầu) dựng đứng; nhìn xói (vào trong). Trong khi đó, hổ con trái lại, rất vô tư, chú còn quá bé để hiểu được cái cạm bẫy chết người của lão Vược mà chú đang đùa giỡn. Vì vậy, khi đến chân cầu thang, không hề nghi ngờ, chú liền “Phốc…phốc“chỉ bằng hai lần co mình bật lên nhẹ nhàng, chú hổ con đã lên sàn. Nó co một chân trước thăm dò, rồi cào cào vào đầu “gậy” vừa thoả lỗ thủng trên cửa. Nó bắt đầu bị hấp dẫn với lối chơi quen thuộc. Quờ cả hai chân trước, chú hổ con tìm cách tóm lấy cây “gậy” đang cố tình tránh khỏi tầm vuốt của mình” [96]. Hổ con vẫn chơi trò vờn gậy mà mọi ngày chú và bé Na vẫn đùa giỡn. Để miêu tả những hoạt động tinh nghịch của chú hổ con, đoạn văn được chuyển từ miêu tả tĩnh sang miêu tả động. Tính chất động được thể hiện ở hai từ tượng thanh: “Phốc…phốc” và các động từ chỉ hoạt động: bật lên, cào cào, quờ, tóm và chú không ngờ rằng chú đang đùa giỡn với tử thần. Đầu cây “gậy” mà chú đang vờn bỡn, chính là họng súng nguy hiểm của lão Vược, nó có thể lấy tính mạng của chú bất cứ lúc nào. Về phía lão Vược, chính lão cũng đang chơi trò nhử mồi với chú hổ con ngốc nghếch, nên “cây gậy” cố tình tránh” rồi “mất hút”. Đoạn văn kết thúc trong tiếng hú rợn người của bé Na “Dá dá dá …iaaá… á á á!” Tiếng hú rùng rợn đó đã làm cho con hổ “vội bật mình nhảy xuống sàn”. Mọi sự sắp đặt của lão Vược đã bị đảo lộn bởi hành động khó hiểu của đứa con gái, điều mà lão không ngờ tới. Người đọc cũng bị bất ngờ không kém.

     Đoạn 31 là một đoạn tả có xen kẽ giữa tĩnh, động và suy luận. Phần đầu đoạn là tâm trạng đầy giận dữ của lão Vược đối với con gái, sau đó là những câu miêu tả động, cho thấy những hành động xảy ra liên tiếp của hai bố con. Mỗi người đều chuyển động nhanh chóng với những mục đích khác nhau. Ông bố sau cơn tức giận thì “bật cửa định lao ra ngoài”, nhưng cái Na đã “lách ra trước, chạy nhanh hơn lão”, vì thế lão đã phải thay đổi mục tiêu đuổi bắt: “lão nhoài người phóng theo”. Sau khi đã “tóm được” con gái, lão mới quay ra tìm con hổ thì “con một tai đã bỏ chạy”.

     Sự việc chỉ xảy ra trong chớp mắt. Tác giả đã thể hiện nó bằng việc đan xen, kế tiếp, liên tục các động tác với hệ thống các động từ biểu thị những hoạt động trong chớp nhoáng, khẩn trương, vội vã, cấp bách: tóm vội, bật, lao, lách, chạy nhanh, nhoài, phóng, v.v. Cách miêu tả đặc sắc của tác giả khiến cho đoạn văn đầy kịch tính. Người đọc bị rơi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, cho đến cuối đoạn thì mới biết mạch truyện đã được chuyển sang hướng mới.

     “Tiếng sột soạt dưới sàn nhà làm cho lão chú ý. Ồ con hổ con, nó đã quay lại! Nếu vậy con một tai vẫn chưa đi đâu xa, còn quanh quất đâu đây thôi. Một ý định chợt loé lên trong đầu lão” [97]. Như một con thú say máu, lão Vược tìm mọi cách để tiêu diệt con “một tai”. Cách đây ít phút, chút nữa lão đã tiêu diệt được nó, chỉ tại đứa con gái của lão làm lão hỏng việc. Lão đang thất vọng, nhưng nhìn thấy hổ con, lão lại hi vọng. Tuy nhiên, tiếng hét của đứa con gái, đúng vào lúc đó đã đẩy lão vào tình thế cấp bách mới. Hàng loạt động từ, đã thể hiện các động tác: nhanh, mạnh, dứt khoát của lão Vược – một người thợ săn lành nghề: đẩy; xoay; băng mình; chồm; đè ập; ôm (con thú); nổi cơ cuồn cuộn. Bằng ấy động tác xảy ra trong chớp mắt, lão đã bắt được con hổ. Đó là những gì xảy ra ở đoạn thứ 32. Một đoạn văn tả động. Và điều phải xảy ra, đã xảy ra. “Bắt được hổ con sẽ dụ được hổ mẹ”. Đoạn văn thứ 33 nối tiếp đoạn 32 như đã thuận theo sự tính toán logic của lão Vược: “Bàn chân vừa chạm lên bậc thang cuối cùng, lão bỗng nghe sau lưng ào đến một cơn lốc, cùng với tiếng gầm lên dữ tợn. Như một chớp loé, lão lẳng con thú qua vai rồi bay nhào sang trái. Vừa kịp chĩa cây súng trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, lão bỗng thấy trước mặt hiện ra một đám mây xám vằn với cái hàm ngoác rộng, lởm chởm nanh nhọn đang chồm đến. Hướng nhanh mũi súng vào miệng đỏ lòm, lão nghiến răng xiết mạnh tay cò. Đoàng! Nòng súng toé lửa, dội lên trong không gian một tiếng nổ lộng óc. Dưới màn trời nhập nhoạng, một cái bóng vằn vện bị hất ngược, bật tung lên không rồi rơi xuống đất, giãy giụa ngay dưới chân cầu thang.” [56.98].

     Đoạn văn là một chuỗi những hành động tiếp nối nhanh chóng, điêu luyện, chính xác của một tay thợ săn thiện nghệ. Người đọc như nín thở theo dõi diễn biến của sự việc. Để tạo ra được điều đó, tác giả đã dùng rất nhiều từ, cụm từ gợi cảm giác mạnh: “ào đến”, “cơn lốc”, “gầm lên dữ tợn”, “như một chớp loé”, “lẳng con thú qua vai”, “bay nhào”, v.v. Ấn tượng khủng khiếp được nhân lên gấp bội khi giữa những dòng tả động ấy, lại có xen vào một câu tả tĩnh: “…lão bỗng thấy trước mặt hiện ra một đám may xám vằn, với cái hàm ngoác rộng, lởm chởm nanh nhọn đang chồm đến”. Câu văn dài với nhiều bổ ngữ khiến người đọc yếu bóng vía hẳn phải rùng mình khiếp sợ và tin chắc cái con người là lão Vược kia sẽ phải làm mồi cho hổ dữ. Nút truyện được đẩy nhanh đến đỉnh điểm. Về phía mình, trong tích tắc, lòng căm thù sôi sục đã làm cho những động tác của lão Vược trở nên thật chính xác: “Hướng nhanh mũi súng vào miệng đỏ lòm, lão nghiến răng xiết mạnh tay cò. Đoàng! Nòng súng toé lửa, dội lên trong không gian một tiếng nổ lộng óc.” Cuộc báo thù diễn ra rất nhanh, người ta mới chỉ nghe thấy “đoàngmột cái, thế là đã kết thúc. Tác giả đưa từ tượng thanh lên đầu làm thành câu đặc biệt, gây sự chú ý rồi sau đó mới miêu tả cụ thể sự việc. Câu văn cuối cùng được kéo dài hơn bình thường như một sự xả hơi sau những phút giây căng thẳng: “Dưới màn trời nhập nhoạng, một cái bóng vằn vện bị hất ngược, bật tung lên không rồi rơi xuống đất, giãy giụa ngay dưới chân cầu thang.” [98].

     Con hổ dữ đã chết. Mối thù xưa đã trả. Nút truyện tưởng như đã được mở, nhưng hình như còn có cái gì đó chưa thật ổn. Đây đã là cuộc báo thù cuối cùng chưa? Con hổ con vẫn còn sống, rồi nó sẽ lớn lên và tính mạng của con gái lão sẽ ra sao? Lão không thể mạo hiểm. Giờ đây câu chuyện chỉ còn lại ba nhân vật: lão Vược, bé Na và chú hổ con. Hãy xem những gì sẽ xảy ra khi cả hai bố con cùng nhìn thấy hổ con tìm về với mẹ:

     Đoạn 34: Bất ngờ cả nó, cả lão cùng đổ mắt xuống chân cầu thang. Bên xác con một tai, con hổ con sau một hồi lẩn vào rừng đã quay lại. Nó dè dặt từng bước bên xác con mẹ, rồi tần ngần dừng lại phía đầu. Giữa hai hốc mắt con thú mẹ, một lỗ thủng bị phá từ trong, to bằng miệng chén. Từ lỗ thủng đó máu vẫn ứa ra từng dòng loang trên đám lá khô. Sau phút ngơ ngác, nó thè lưỡi liếm liếm vào dòng máu đỏ sẫm, rỉ ra từ trán của mẹ nó. Hình như nó càng liếm, máu càng rỉ ra nhiều hơn. Nó bỗng nhấc chân nhảy qua đám lá dính máu rồi phục xuống rúc đầu vào bụng con mẹ. Nó dùng mõm kéo ra một túm vú bèo nhèo, lặng lẽ mút từng hơi tốp tốp.

     Phát súng đòi nợ đã tắt, không gian trở lại yên tĩnh. Nhưng bên trong tâm hồn mỗi nhân vật như đang có sự xáo trộn day dứt. Điều đó bắt đầu từ hình ảnh hổ con sau khi sợ hãi lẩn vào rừng, giờ đã quay về tìm mẹ. Một hình ảnh thương tâm, đau đớn của tình mẫu tử! Bên xác hổ mẹ, hổ con dại khờ, còn chưa hiểu điều gì đã xảy ra với mẹ và sẽ xảy ra với mình. Chú không biết, hay chú chẳng cần biết, bản năng mách bảo chú phải có mẹ, để được bú mẹ, được mẹ che chở. Hàng loạt những từ láy gợi hình ảnh và những từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm đã khắc hoạ thật cảm động hình ảnh hổ con: dè dặt, tần ngần, ngơ ngác, lặng lẽ,… Cùng với những từ láy trên, những động từ cụ thể cũng góp phần miêu tả rõ nét hơn, xúc động hơn hình ảnh hổ con tội nghiệp: liếm liếm, nhấc chân, nhảy qua, phục xuống, rúc đầu, kéo ra, mút, v.v. Mỗi động từ trên đều kéo theo một bổ ngữ cụ thể và sau mỗi cụm động từ ấy ta như bị một nhát dao sắc cứa vào trái tim mình: “liếm liếm vào dòng máu đỏ sẫm”, “nhảy qua đám lá dính máu”, “phục xuống rúc đầu vào bụng con mẹ”, “kéo ra một túm vú bèo nhèo”.

     Một số danh từ có định ngữ đi kèm lại có tác dụng rất đắc lực trong việc miêu tả xác con hổ mẹ mà ở đoạn trên người viết cố tình chưa nói rõ. Bên cạnh hổ con bé nhỏ dại khờ, xác hổ mẹ nằm đó như một thảm kịch tang thương:

     Đó là các định danh mở rộng có tác dụng tạo hình. Những động từ chỉ trạng thái giúp tô đậm thêm ấn tượng cụ thể đau lòng cho đoạn văn: bị phá (từ trong), ứa ra (từng dòng), loang, rỉ ra, dính (máu), v.v. Và cuối cùng cái âm thanh “tốp tốp” mà hổ con bú mẹ đã làm nhói buốt trái tim của mọi độc giả và hơn ai hết là trái tim lão Vược, người đã gây nên thảm cảnh này: “Nó dùng mõm kéo ra một túm vú bèo nhèo, lặng lẽ mút từng hơi tốp tốp.” Âm thanh đó như một tia chớp loé lên làm thức tỉnh lương tâm của lão, thức tỉnh cái đầu óc mê muội bệnh hoạn của lão: “Lão thèm khát nhìn thấy máu con thú như một thứ bệnh hoạn”.

     Người đau lòng nhất trước tất cả sự việc vừa xảy ra phải là bé Na – cô bé mồ côi mẹ, “đứa con gái có tâm tính kì lạ” của lão Vược. Đoạn 35 là đoạn văn miêu tả cụ thể sự tác động của sự việc vào cô bé. Hình ảnh con hổ con bên xác mẹ làm rung động trái tim đã quá già nua, mệt mỏi vì cuộc báo thù của lão Vược, nhưng dù sao lão cũng được an ủi đôi phần. Cuối cùng thì lão đã trả được món nợ cho người vợ xấu số và con gái lão sẽ không còn bị con “một tai” đe doạ tính mạng. Trong cuộc đối đầu vừa rồi, lão có thể bỏ mạng, nhưng lão không cần mạng sống của mình. Cái chính là con gái lão phải được bảo vệ an toàn. Vậy mà nó không chia sẻ niềm vui với pa nó. Trái lại, cái chết của con hổ mẹ đã làm cho nó đau khổ. Đoạn văn tả tĩnh, miêu tả nỗi đau đớn của cô bé. Nó không ồn ào dữ dội, nhưng nó là vết thương lòng da diết, âm ỉ trong tâm hồn cô bé đã từ lâu (từ khi cô nhìn thấy cha mình mang những con thú đã bị chết trong rừng trở về nhà) và hôm nay bỗng tuôn trào ra ngoài qua những giọt nước mắt trẻ thơ: “Để mặc những giọt nước mắt lăn trên khuôn mặt giá lạnh, nó nghẹn ngào:

– Pa ơi, pa đừng giết nó pa nhé, mẹ nó… mẹ nó đã chết rồi!

…Tiếng khóc bị ghìm nén, nấc lên từng hồi làm ngực lão nhói buốt…” [100].

     Trong đoạn văn tác giả đã đặc tả hai chi tiết tiêu biểu: đó là vẻ mặt đau khổ tột cùng của cô bé và tiếng khóc. Tiếng khóc có chiều sâu của một nỗi đau như bị kìm nén, bật ra khỏi lồng ngực cô bé, nghe như “nhói buốt”. Nỗi đau vô cùng của đứa con gái đã làm xúc động tấm lòng người cha, lòng thương con bỗng trào dâng trong phút chốc lão như hiểu ra tất cả. Lão muốn chia sẻ với con gái và lão đã đồng cảm được với nỗi đau của nó: “Mặt lão bỗng nóng bừng, mắt tối sầm, lão quỳ xuống ôm chặt con gái, áp má nó vào má mình” [56.100].

     Một câu ghép chuỗi với nhiều vế đã làm nổi bật tâm trạng quá xúc động của lão Vược. Cả một đời lão sống cho con, mà đến tận bây giờ lão mới hiểu con. Những động tác “ôm chặt”, “áp má” của người cha với người con làm ta có cảm giác lão sẵn sàng làm tất cả để có thể chia sẻ, có thể làm vơi đi nỗi đau khổ của con gái. Đến đây nút truyện mới được mở.

     Mạch truyện đem đến cho người đọc từ bất ngờ này, sang bất ngờ khác. Cả một đời lão Vược săn đuổi theo con “một tai” để tiêu diệt, để trả thù. Nay phải khó khăn, nguy hiểm lắm mới hạ được nó. Câu chuyện tưởng chừng như thế là kết thúc vậy mà còn mở ra bao nhiêu điều phải suy nghĩ trăn trở, day dứt. Đoạn 36: Nhìn con thú vẫn bình thản nhay cái núm vú lép kẹp của con mẹ, trong đầu lão như bục ra một lỗ thủng, lão nghe trong đó có tiếng gió mài rít qua đau đớn [101]. Vẫn là hình ảnh hổ con bú mẹ, khi mẹ nó đã chết. Nhưng lần này, lão Vược đã nhìn nó bằng tấm lòng của đứa con gái. Hay đúng hơn, bây giờ lão mới thấm thía cái điều mà hổ con không hiểu nổi: nó đã bị mất mẹ! Và lão chợt nhận ra tội ác của mình: lão đã đẩy hổ con vào đúng tình cảnh con gái lão mười năm về trước!

     Đoạn văn được cấu tạo bởi phương thức miêu tả tĩnh. Nó rất phù hợp với tâm trạng của lão lúc này. Những cảm giác xáo trộn: mừng vui, buồn tủi, trống rỗng, hoang mang của lão lúc mới bắn xong con hổ giờ đây không còn nữa. Chỉ còn lại một nỗi niềm da diết buồn thương: Nhìn con thú vẫn bình thản nhay cái núm vú lép kẹp của con mẹ, lão cảm thấy như chính mình trúng đạn! Chỉ bằng những từ ngữ rất giản di, mộc mạc: nhay, núm vú, lép kẹp cùng với hình dung từ: bình thản, câu văn có sức nặng gợi cảm thật lớn. Hình ảnh thì không có gì mới, nhưng đọc xong câu văn ta có cảm giác như bị ai bóp chặt trái tim. Vậy là trong cuộc báo thù này chính lão đã bị thương mặc dù chẳng ai bắn lão: Trong đầu lão như bục ra một lỗ thủng, lão nghe trong đó có tiếng gió mài rít qua đau đớn. Hay nói đúng hơn là viên đạn mà lão nhằm vào con hổ mẹ thì chính nó cũng đã khoét một vết thương trong lòng lão. Và chính “vết thương” đó đã chuyển cuộc đời lão sang một trang mới. Lão sẽ vứt cây súng săn này đi và đưa con gái đến một miền đất mới để sinh sống, để quên hết mọi hận thù quá khứ. Con gái lão sẽ sống vô tư, không còn phải nghe tiếng súng, không còn bị ám ảnh bởi những hình ảnh về những con thú bị bố giết hại. Vậy là, Cuộc báo thù cuối cùng đã có đáp số. Đoạn văn tả tĩnh đã miêu tả những diễn biến tâm trạng, những day dứt và ý nghĩ mang tính chất quyết định trong lòng lão Vược. Lão đã tỉnh ngộ! Đến đoạn văn cuối cùng, đối tượng miêu tả vẫn là hổ con: Oác…oác…ưgư…oác oác… ưgư… Sau một hồi hút kiệt chút sinh lực cuối cùng của con mẹ, con hổ con đã lững thững bỏ vào rừng. [101] Tác giả đã đặt những từ mô phỏng tiếng kêu thương của hổ con lên đầu đoạn để thu hút sự chú ý, rồi mới miêu tả trạng thái ra đi của nó: lững thững bỏ vào rừng. Nó đã bình thản mút cái túm vú bèo nhèo, lép kẹp của mẹ, mà chẳng hề biết là mẹ nó giờ đây đã chết. Tận đến lúc này, khi mút chẳng còn gì nữa, nó đành phải buồn bã bỏ đi để lại tiếng kêu thương nghe đau xé núi rừng Keng Pảng. Tiếng kêu thương ai oán của nó “như mũi dao chọc vào màn đêm” và hẳn nó cũng làm cho trái tim lão Vược rớm máu. Vì vậy, lão thấy nó như một lời than thở, gieo vào lòng lão nỗi cô đơn âm thầm lần đầu tiên lão bỗng nhận ra gần một kiếp người sống nơi này, bạn của lão chỉ có tiếng kêu than của hang núi Kiếm.

3. Kết luận

     Đoạn văn cuối cùng, đoạn văn thứ 37, nút truyện đã được mở ra, câu chuyện về cuộc báo thù cũng kết thúc. Nhưng từng lời văn, từng con chữ của đoạn văn, đã mở ra một hiện thực hoàn toàn khác. Từ một cuộc trả thù cụ thể, của một con người cụ thể, câu chuyện bỗng được mở rộng, nâng lên thành một vấn đề khái quát, chứa đựng triết lí nhân sinh sâu sắc. Tiếng kêu đứt ruột cùng sự ra đi của hổ con chính là lời cảnh báo không chỉ cho lão Vược mà còn cho tất cả mọi người. Con người phải sống hoà mình với thiên nhiên vạn vật, muông thú. Tuy nhiên, với những trong đầu lão như bục ra một lỗ thủng, rồi tiếng kêu của hổ con như gieo vào lòng lão nỗi cô đơn âm thầm và bạn của lão giờ chỉ có tiếng kêu than âm thầm của hang núi Kiếm, thì, Cao Duy Sơn đã kết nối người đọc đến mạch nguồn của truyền thống nhân đạo, âm ỉ nhưng vẫn bền bỉ chảy mãi trong tâm hồn mỗi người dân Việt. Và, đó chính là chiều sâu văn hoá ẩn tàng qua văn bản ngôn từ câu chuyện Cuộc báo thù cuối cùng, của nhà văn Cao Duy Sơn.

THƯ MỤC THAM KHẢO

A. Tiếng Việt

1. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.

2. Kate Hambugrger, Logic học về các thể loại văn học, (Vũ Hoàng Hoàng Địch – Trần Ngọc Vương dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

3. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Các nhà văn nói về văn, tập 2, NXB Tác phẩm mới, 1992.

4. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Hà Nội, NXB Đà Nẵng, 2000.

5. Cao Duy Sơn, Những chuyện ở lũng Cô Sầu (tập truyện ngắn), NXB Quân đội, Hà Nội, 1996.

6. Nguyễn Trí, Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993.

B. Tiếng nước ngoài

7. Fredrick Crew, Hand book The Random House, Newyork, Edition: 6th, 1991.