Nguồn gốc và ý nghĩa các tộc danh ở Việt Nam (Phần 1)

ORIGINS AND MEANINGS OF ETHNIC NAMES IN VIETNAM

LÝ TÙNG HIẾU
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TPHCM)

TÓM TẮT

     Cùng với ngôn ngữ tộc người, tộc danh là dấu chỉ trước tiên giúp một tộc người tự phân biệt với những tộc người khác, và phân biệt những tộc người khác với tộc người mà mình sở thuộc. Nguồn gốc của các tộc danh có thể là những danh xưng tự gọi, nhưng thường xuất phát từ cách gọi để phân biệt của các cộng đồng lân cận. Các cộng đồng người thường dựa vào nơi cư trú hoặc một điểm đặc trưng, đặc thù về văn hóa của các cộng đồng láng giềng để đặt tên cho họ. Do đó, các tộc danh ở Việt Nam thường phản ánh xuất xứ và phản ánh cái nhìn của các cộng đồng người đối với nhau.

Từ khóa: tộc danh, quốc danh, địa danh, Việt Nam.

x
x x

1. Đặt vấn đề

     Tộc danh (ethnic name) là tên gọi một tộc người. Cùng với ngôn ngữ tộc người, tộc danh là dấu chỉ trước tiên giúp cho một tộc người tự phân biệt với những tộc người khác, và phân biệt những tộc người khác với tộc người mà mình sở thuộc. Nguồn gốc trực tiếp của tộc danh có thể là một danh xưng tự gọi, nhưng thường là xuất phát từ cách gọi để phân biệt của các tộc người lân cận. Các tộc người thường dựa vào nơi cư trú hoặc một điểm đặc trưng, đặc thù về văn hóa của các tộc người láng giềng để đặt tên cho họ.

    Do đó, các tộc danh đều hàm chứa những ý nghĩa văn hóa – lịch sử nhất định. Ở Việt Nam, những tộc danh có thể nhận diện được ý nghĩa có thể được chia thành bốn loại: tộc danh biểu thị tư cách con người; tộc danh biểu thị địa vực cư trú hoặc xuất xứ của tộc người; tộc danh biểu thị đặc trưng văn hóa của tộc người; tộc danh mang sắc thái kì thị. Bên cạnh đó, có những tộc danh do có nguồn gốc quá xa xưa, nay không còn rõ nghĩa, chẳng hạn tộc danh Tày của người Tày, Táy người Thái, Yáy của người Giáy, Tàu, Ba Tàu của người Hoa1… Nhìn chung, các tộc danh thường phản ánh xuất xứ và phản ánh cái nhìn của các tộc người đối với nhau.

     Tộc danh là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, ngôn ngữ học, dân tộc-ngôn ngữ học. Vấn đề tộc danh của các tộc người Việt Nam đã được bàn đến trong các nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn (Viện Dân tộc học, 1984, tr.19; 1986), A. Ju. Efimov (1985, tr.80- 81), Nguyễn Văn Lợi (1993b, tr.35-44), Mạc Đường (1997)… Tuy nhiên, nguồn gốc và nội dung văn hóa trong các tộc danh ở Việt Nam vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn. Trong bài, vận dụng các phương pháp khảo sát điền dã và phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ nội hàm văn hóa – lịch sử trong các tộc danh ở Việt Nam.

2. Văn hóa trong tộc danh người Việt

     Trước tiên, chúng ta hãy xem xét nguồn gốc và nội dung văn hóa trong tộc danh người Việt. Là một tộc người đa số và là chủ thể chính của văn hóa Việt Nam, nhưng người Việt hầu như không có tộc danh tự gọi. Tộc danh Việt (越) nghĩa đen là “vượt qua”, bắt nguồn từ cách người Hán gọi các nhóm cư dân từ lưu vực sông Dương Tử đổ về nam vào thời cổ đại: Dương Việt, Ngô Việt, Mân Việt, Điền Việt, Âu Việt, Lạc Việt, v.v., gọi chung là Bách Việt. Cách gọi này tồn tại xuyên suốt trong lịch sử Trung Hoa. Và Việt đã trở thành quốc danh từ rất sớm trong lịch sử Trung Hoa. Từ thời Hạ, Thương, Chu, đã tồn tại một nước Việt trên địa bàn Triết Giang và Thượng Hải ngày nay. Đến thời Việt vương Câu Tiễn thì nước Việt tiêu diệt nước Ngô và làm bá chủ chư hầu từ năm 473 trước Công nguyên. Đến năm 334 trước Công nguyên, nước Việt bị nước Sở thôn tính. Cùng trong năm ấy, vương quốc Mân Việt đã ra đời trên địa bàn tỉnh Phúc Kiến ngày nay, tồn tại đến năm 110 trước Công nguyên thì bị sáp nhập vào đất Hán. Năm 204 trước Công nguyên sau khi thống nhất các bộ lạc và nhà nước của người Âu Việt và Lạc Việt ở phía nam Bách Việt, Triệu Đà, một người gốc Hán, đã đặt tên cho vương quốc của mình là Nam Việt (南 越). Đến năm 111 trước Công nguyên, Nam Việt cũng bị sáp nhập vào đất Hán. Đến thời Ngũ Đại Thập Quốc, nước Ngô Việt (907-978) đã ra đời trên địa bàn Triết Giang, Thượng Hải và một phần Giang Tô, Phúc Kiến ngày nay. Năm 917, tướng nhà Đường là Lưu Nghiễm cũng nhân lúc Trung Nguyên loạn lạc, đã chiếm cứ vùng Lĩnh Nam lập ra nước Đại Việt, sang năm 918 mới đổi thành Đại Hán, sử gọi là Nam Hán. Hiện nay, tỉnh Quảng Đông còn được gọi là đất Việt, với một tự dạng khác (粵). Sông Tây Giang chảy qua tỉnh Quảng Đông còn được gọi là Việt Giang. Tiếng Quảng Đông (Cantonese) còn được gọi là Việt ngữ, và là một trong “bát đại phương ngôn” của tiếng Hán ngày nay.

     Bối cảnh lịch sử ấy rõ ràng có liên quan đến sự hình thành tộc danh và quốc danh của người Việt sau khi họ tách khỏi khối Việt – Mường và giành độc lập từ tay người Hán năm 939. Năm 968, sau khi dẹp loạn thập nhị sứ quân, Đinh Tiên Hoàng đã đặt tên cho vương quốc của mình là Đại Cồ Việt (大 瞿 越). Đó là lần thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam kể từ thời nhà Triệu, tộc danh Việt trở thành quốc danh, chứng minh sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, người Việt đã nhận tộc danh ấy về mình, và muốn khẳng định quyền làm chủ của mình trên vương quốc mới. Đến năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu thành Đại Việt (大 越). Năm 1802, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long muốn đổi lại quốc danh Nam Việt, nhưng theo ý nhà Thanh mới gọi là Việt Nam (越 南) từ năm 1804.

     Kể từ thời Bắc thuộc về sau, quốc danh Việt chỉ bị bỏ qua trong một vài thời đoạn ngắn, với quốc hiệu Vạn Xuân (544-602) của nhà Tiền Lý, quốc hiệu Đại Ngu (1400-1407) của nhà Hồ, quốc hiệu Đại Nam (1839-1945) của nhà Nguyễn. Từ năm 1945 đến nay, Việt Nam lại trở thành quốc danh chính thức của đất nước Việt Nam. Ngày nay, người Việt tự gọi mình là Việt, vì danh xưng đó tuy bắt nguồn từ cách gọi của tổ tiên người Hán, nhưng đã trở thành tộc danh của người Việt và quốc danh của Việt Nam từ lâu, và nó giúp người Việt tự phân biệt mình với Hán tộc, với người Hoa2.

     Trong khi đó, các vương triều Trung Hoa lần lượt gọi lãnh thổ Việt Nam là Giao Chỉ Bộ, Giao Châu, An Nam Đô Hộ Phủ, Tĩnh Hải Quân, Giao Chỉ Quận, An Nam Quốc, Việt Nam Quốc. Trong đó, An Nam (安 南) là cách gọi lâu dài nhất của các triều đại Trung Hoa. Tên gọi này xuất hiện lần đầu tiên dưới thời nhà Ngô (sử gọi là Đông Ngô, 220-280), trở thành địa danh ngoại sinh chỉ đất nước Việt Nam dưới thời nhà Đường (618-907), và trở thành một quốc danh ngoại sinh kéo dài từ thời nhà Tống (960-1279) đến thời nhà Thanh (1644-1912).

     Năm 248, trước sự tàn ác của quan lại nhà Ngô, Bà Triệu (Triệu Thị Trinh, 225-248) cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa ở Cửu Chân, giết Thứ sử nhà Ngô ở Giao Châu. Hay tin, vua Ngô là Tôn Quyền liền sai Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu, An Nam Hiệu úy, dẫn 8000 quân sang đàn áp. Sau năm sáu tháng đương cự, Bà Triệu thua trận, tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa), lúc 23 tuổi. Sau khi tàn sát quân khởi nghĩa, nhà Ngô cho Tôn Tư làm Thái thú Giao Chỉ. Tôn Tư cũng là một kẻ khét tiếng tham lam, bạo ngược. Năm 263, một viên lại ở quân Giao Chỉ là Lã Hưng giết Tôn Tư, đem Giao Chỉ theo về nhà Ngụy. Nhà Ngụy cho Lã Hưng làm An Nam Tướng quân, sai Hoắc Giặc làm Thứ sử Giao Châu, Thoán Cốc làm Thái thú Giao Chỉ. Năm 264, Lã Hưng và Thoán Cốc bị thủ hạ sát hại. Năm 265, nhà Tấn thay nhà Ngụy, cử Mã Dung rồi Dương Tắc làm Thái thú Giao Chỉ. Sau hai lần Nam xâm bất thành (268, 269), vào năm 271 nhà Ngô sai Đào Hoàng đi theo đường biển, tiến vào Giao Châu, phá được thành và bắt Dương Tắc. Nhà Ngô lấy lại Giao Châu và tiếp tục cai trị cho đến khi bị nhà Tấn thay thế vào năm 280.

     Sau khi thống nhất Trung Hoa, vào năm 622, nhà Đường (618-907) thành lập Giao Châu đô hộ phủ để cai quản vùng đất phía Nam. Sau đó, nhà Đường liên tiếp đưa quân xâm lược các vương quốc và bộ lạc xung quanh, lần lượt thành lập các cơ quan quản lí các khu vực chiếm đóng: An Đông đô hộ phủ, An Bắc đô hộ phủ. Năm 679, nhà Đường đổi Giao Châu đô hộ phủ thành An Nam đô hộ phủ. Từ đó, An Nam trở thành địa danh chỉ đất nước Việt Nam, cho đến năm 866 mới được nhà Đường thay thế bằng danh xưng mới là Tĩnh Hải Quân. Năm 939, nhân thời cơ Trung Hoa đại loạn dưới thời Ngũ Đại Thập Quốc, người Việt cùng với các tộc người anh em đã giành lại độc lập thành công. Nhưng các vương triều Trung Hoa vẫn chưa thừa nhận thực tế đó ngay. Năm 973, sứ nhà Tống đã sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ Quận Vương, phong cho Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Năm 986, sứ nhà Tống lại sang phong cho Lê Hoàn làm Kim tử Quang lộc Đại phu, Kiểm hiệu Thái úy, An Nam đô hộ Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ, Kinh triệu Khai Quốc Hầu. Danh xưng An Nam đô hộ, rồi Giao Chỉ Quận Vương đã được các đời vua Tống sử dụng. Cho đến năm 1164, vua Tống Hiến Tông mới sai sứ sang phong cho vua Lý Anh Tông làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ Quận thành An Nam Quốc, công nhận nước ta là một vương quốc riêng biệt (Đỗ Đức Hùng & Nguyễn Đức Nhuệ…, 2001, tr.24-27, 38, 46, 53, 56, 115).

     Từ đó, tên gọi An Nam Quốc đã được các triều đại Trung Hoa sử dụng liên tục cho đến năm 1804, khi hoàng đế nhà Thanh chấp nhận Việt Nam Quốc là quốc danh mới của nước ta. Do đó, người Trung Hoa và người Hoa di cư sang Việt Nam thường gọi người Việt là người An Nam. Theo đó, từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp cũng gọi Việt Nam là Annam, và gọi người Việt bằng một danh xưng khinh miệt là Annamite. Những cách gọi này thể hiện cái nhìn kì thị của ngoại nhân quá rõ nên không được người Việt chuộng dùng. Tuy nhiên, nó vẫn có ảnh hưởng, khiến cho một số người Việt trước đây cũng tự gọi mình là người An Nam.

     Còn các tộc danh khác của người Việt, xuất phát từ các tộc người cộng cư trên đất nước Việt Nam, lại phản ánh những cái nhìn khác hẳn. Trước hết là cách gọi của người Mường, một cộng đồng cư trú ở vùng núi Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa…, chia tách khỏi khối Việt – Mường từ khoảng thế kỉ VIII đến thế kỉ X. Chúng ta đều biết sở trường văn hóa của người Việt trên đồng bằng Bắc Bộ – Bắc Trung Bộ trong suốt thời tự chủ là làm nông nghiệp lúa nước và thủ công nghiệp. Đó là những tiền đề để người Việt phát triển thương nghiệp và chợ búa, và nơi chợ búa phát triển nhất là đất Kinh Kỳ Kẻ Chợ (trung tâm Hà Nội ngày nay). Từ nơi đây, hàng hóa tập kết từ các làng quê và từ nước ngoài được thương nhân phân phối đến khắp nông thôn và đưa lên miền núi để đổi lấy gỗ rừng, gia súc… Chính vì vậy, khi tiếp xúc với người Việt từ miền xuôi đến, người Mường chỉ toàn thấy các thương nhân và các đặc trưng văn hóa của chốn Kinh Kỳ Kẻ Chợ. Trong con mắt người Mường, thương nhân và các đặc trưng văn hóa Kinh Kỳ Kẻ Chợ đã trở thành sứ giả của tộc Việt, đại diện cho tộc Việt. Từ đó, Chỡ “người Kinh”, con Chỡ “người Kinh”, con Ké Chỡ “người Kẻ Chợ”, mõl Kinh “người Kinh”, Kinh Kỳ Ké Chỡ “Kinh Kỳ Kẻ Chợ” đã trở thành những tộc danh mà người Mường dùng để gọi người Việt ở miền xuôi (Nguyễn Văn Khang cb, 2002).

     Nhận diện và đặt tên cho tộc Việt qua tầng lớp thương nhân Việt cũng là cách của người Nguồn, một cộng đồng cư trú ở vùng núi Quảng Bình, chia tách khỏi tộc Việt từ khoảng thế kỉ X đến thế kỉ XIV. Người Nguồn gọi người Việt là ngài Puôn, nghĩa là “người đi buôn” (Võ Xuân Trang cb, 2008). Tương tự, người Tày, người Nùng, người Hán gọi người Việt là Kinh, ám chỉ nguồn gốc và đặc trưng văn hóa Kinh Kỳ của họ. Cộng đồng người Việt cư trú ở tỉnh Quảng Tây, cũng được người Trung Quốc ở đó gọi là người Kinh. Còn người Thái gọi Việt là Keo. Do cả người Mường, người Tày, người Nùng, người Hán đều gọi Việt là Kinh, tộc danh này cũng đã trở thành một tộc danh mà người Việt dùng để tự gọi mình.

     Trong khi đó, các tộc người nói tiếng Nam Á và Nam Đảo ở phía nam gọi người Việt bằng một danh xưng hoàn toàn khác. Người Brũ trước đây gọi người Việt là Yuan. Các tộc người khác ở Trường Sơn – Tây Nguyên, và người Chăm, người Khmer gọi Việt là Yuôn. Yuan hay Yuôn đều có sắc thái miệt thị, thể hiện cái nhìn phân biệt đối với một cộng đồng cư trú cận kề nhưng lại có những đặc trưng văn hóa khác xa với các tộc người bản địa3. Ngày nay, một bộ phận cư dân các tộc người này đã chuyển sang dùng danh xưng Việt hoặc Kinh, với sắc thái trung hòa, để gọi người Việt.

3. Văn hóa trong tộc danh các tộc người thiểu số

     Người Mường quần cư thành đơn vị tổ chức cộng đồng cơ sở gọi là xóm (còn gọi là chòm, quêl, quên) hoặc làng (ở Thanh Hóa). Các đơn vị quần cư này tập hợp các gia đình theo quan hệ láng giềng. Chịu ảnh hưởng văn hóa Thái, người Mường đã tập hợp các xóm lại và lập ra tổ chức mường. Mỗi mường có khoảng trên dưới một chục xóm. Trước đây, trên địa bàn của người Mường có 4 mường lớn nhất là Pi, Vang, Thàng, Đôộng và một số mường khác. Những mường lớn như mường Pi, mường Vang ở Hòa Bình có trên 20 xóm. Và đó chính là xuất phát điểm của tộc danh Mường mà người Thái, người Việt dùng để gọi người Mường; trong khi người Mường vẫn có tộc danh tự gọi là Mol, Muan có nghĩa là “người” (Nguyễn Văn Khang cb, 2002).

     Người Brũ có tộc danh tự gọi chung là Brũ. Tên gọi này phản ánh tính cộng đồng của người Brũ trong hiện tại và được khoa học công nhận (Khổng Diễn, 1978, tr.127; Vương Hữu Lễ, 1993, tr.5; Vương Hữu Lễ, 1997, tr.13; Mạc Đường, 1997, tr.96; Lý Tùng Hiếu, 2007). Theo Gérard Diffloth (1980-1981, tr.65), tộc danh Brũ đối với các nhóm Kuy, Souei và Ngeq đều có nghĩa là “người vùng núi” (montagne). Theo kiểm tra của chúng tôi, trong nhận thức của người Brũ, Brũ nguyên nghĩa cũng là “người ở vùng cao”, nên ngoài việc dùng làm tên tự gọi, đồng bào cũng dùng nó để chỉ các tộc người vùng cao khác như Brũ Êđê, Brũ Jrai, Brũ Sedang… Tộc danh này được ghi lại dưới nhiều dạng khác nhau: Bru, Brouou, Buru, Baro, Bro, Brou, Bruu, B’ru, Baru, Brũ…, nhưng Brũ (tổ hợp phụ âm br đi với nguyên âm u căng) là cách ghi chính xác nhất và hợp lí nhất vì đó chính là cách ghi bằng chữ viết Brũ được xây dựng năm 1967 và cải tiến năm 1986. Ở Lào, người Brũ được người Lào gọi là người Sộ, nghĩa là “người ở núi” (Mạc Đường, 1997, tr.96). Ở Việt Nam, người Brũ còn có tộc danh khác là Vân Kiều hoặc Bru – Vân Kiều. Nguồn gốc đầu tiên của danh xưng Vân Kiều có lẽ là tên buôn “vil Sakiêu”, một buôn hình thành từ rất lâu đời và nằm ở trung tâm địa bàn cư trú của người Brũ ở Việt Nam, tức là xã Hướng Hiệp, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị. Do vị thế đó, tên buôn “vil Sakiêu” đã được dùng để gọi dòng sông và trái núi lân cận và được ghi lại bằng chữ Hán là nguồn “Viên Kiệu”, núi “Viên Kiệu”. Trên cơ sở tên nguồn sông và tên núi, từ đầu đời Gia Long (1802-1819), “Viên Kiệu” đã trở thành tên một nguyên sách nộp thuế cho nhà Nguyễn, và đến năm 1827 thì được nâng lên thành tổng “Viên Kiệu”, thuộc châu Hướng Hóa, đạo Cam Lộ, trấn Quảng Trị. Và cuối cùng là sự hình thành tộc danh “Vân Kiều” mà lúc ban đầu dùng để chỉ dân cư của tổng Viên Kiệu. Còn về nguồn gốc của danh xưng Bru – Vân Kiều, theo Trần Trí Dõi (1999, tr.86), “từ năm 1979, tên gọi Bru – Vân Kiều được sử dụng để thay thế tên gọi Bru, do nhóm Vân Kiều không muốn gọi mình là Bru và các nhóm còn lại cũng không muốn mình bị coi là Vân Kiều”. Nhưng theo Lương Vũ (1993, tr.157), danh xưng Bru – Vân Kiều theo danh mục của Nhà nước để chỉ chung các nhóm Brũ ở Việt Nam trên thực tế chưa ổn, đồng bào thuộc dân tộc này chưa đồng ý. Phan Hữu Dật (1994, tr.18) nói rõ: “Đồng bào Bru – Vân Kiều muốn được gọi là Vân Kiều”. Còn các danh từ Kalơ, Cà Lơ, Galler, Kalo, Calo, Kaleu được Viện Ngôn ngữ học (1984, tr.35), Đặng Nghiêm Vạn (2003, tr.211) và Barbara F. Grimes (1988, tr.543-547, 611-613) nhắc đến như một “tên gọi khác” của người Brũ thì chỉ là một sự hiểu lầm, do ở người Brũ có tục kết bạn gọi là kà lơ; nhiều người khi nghe họ gọi nhau như vậy đã tưởng lầm rằng kà lơ là tên tự gọi của đồng bào. Ngoài nhóm Vân Kiều đến Việt Nam sớm nhất, người Brũ còn có ba nhóm địa phương khác: Tri (hay Trì, Trĩ, Tia Ri, Chà Ly, Trùi); Ma Coong (hay Măng Coong, Mong Khong, Mường Kong, Mang Cong); Khùa. Theo Mạc Đường (1997, tr.96-97), Khùa là tên gọi từ Khạ, có nghĩa là người ở rừng, còn Trĩ cũng như Măng Coong đều là tên các địa phương nằm trong vùng Nhom-ma-rát và Ba-na-phẩu ở Lào.

     Người Chăm có tộc danh tự gọi chung là Chăm, bắt nguồn từ quốc danh Champa. Còn người Việt thường gọi người Chăm là người Hời, người Lồi, người Chiêm Thành, người Chàm. Cách gọi người Hời và người Lồi cổ xưa hơn, có thể bắt nguồn từ tộc danh Hroi của người Chăm trước khi tộc danh Chăm ra đời. Cách gọi người Chiêm Thành trước đây thì bắt nguồn từ quốc danh Chiêm Thành, phiên dịch từ quốc danh Champa. Còn cách gọi người Chàm có thể bắt nguồn từ cách đọc trại quốc danh Champa. Quốc danh Champa của người Chăm trước đây có thể bắt nguồn từ địa danh Champa, một thành bang ra đời ở Bắc Ấn Độ vào thời cổ đại. Dựa theo địa bàn cư trú, các nhà nghiên cứu thường chia người Chăm thành ba nhóm với ba tên gọi khác nhau. Tên gọi của nhóm Chăm Pangdurangga ở Ninh Thuận và Bình Thuận bắt nguồn từ địa danh Pangdurangga là tên một tiểu quốc Chăm hình thành trên địa bàn Ninh Thuận – Bình Thuận vào thế kỉ thứ I. Những người Chăm Pangdurangga theo Hồi giáo bản địa hóa được gọi bằng tiếng Ả Rập là Chăm Awal “phần đầu” (đọc là Chăm Aval, chỉ những người Chăm theo đạo Bà Ni), hoặc bằng tiếng Chăm là Chăm Bani hay Chăm Bini. Những người Chăm Pangdurangga theo Ấn Độ giáo bản địa hóa được gọi bằng tiếng Ả Rập là Chăm Ahiér “phần sau” (đọc là Chăm Ahiên, chỉ những người Chăm không theo đạo Bà Ni), hoặc bằng tiếng Chăm là Bà Chăm “Chăm theo Bà La Môn giáo”, hay Chăm Cuh “Chăm thiêu” (vì người Chăm Ahiér theo tục hoả táng), hay Chăm Jat “Chăm gốc”. Tên gọi của nhóm thứ hai là Chăm Hroi hay Haroi được cho là bắt nguồn từ tiếng Chăm ia harei “mặt trời”, chỉ xuất xứ của họ là từ đồng bằng ven biển phía đông di trú đến Tây Nguyên. Sau nhiều thế kỉ cộng cư với người Bahnar ở vùng núi Phú Yên, Bình Định, Gia Lai, nhóm Chăm Hroi đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Bahnar sâu sắc, nên còn được gọi là người Bahnar Chăm. Nhóm thứ ba được gọi là Chăm Nam Bộ vì cư trú trên địa bàn Nam Bộ. Ngoài ra còn có cách gọi theo tôn giáo là nhóm Chăm Islam, chỉ những người Chăm ở Nam Bộ và Ninh Thuận theo đạo Hồi Islam.

     Người M’nông thì chỉ có một tộc danh chung, nhưng lại được giới nghiên cứu viết bằng nhiều cách khác nhau: M’nông, Mnông, Mơnông, Mơ Nông, Pơ Nông (tiếng Việt), Mnong, Pnong, Budong (tiếng Anh). Nhưng theo một số trí thức M’nông mà chúng tôi tiếp xúc tại thị xã Gia Nghĩa (tháng 7/2004), tộc danh của họ phải viết là Bu Nong (bằng chữ M’nông) hoặc Bu Noong (bằng chữ Quốc ngữ) mới đúng, và phải đọc với nguyên âm ô dài (Bu Nôông). Từ điển M’nông – Việt do Bùi Khánh Thế và Đinh Lê Thư chủ biên (1994, tr.136) cũng ghi nhận Bu Nông là tộc danh của người M’nông. Tuy vậy, bản thân người M’nông lại không giải thích được nguồn gốc và ý nghĩa của tộc danh này. Trong tiếng M’nông, bu có nghĩa là “người”, còn nông có nghĩa là “(trái) bầu” – một ý nghĩa khó dùng để giải thích tộc danh Bu Nong, Bu Noong hoặc Bu Nông. Còn nếu ghép hai yếu tố đó làm một thì Bu Nong, Bu Noong hoặc Bu Nông đều không có ý nghĩa gì trong tiếng M’Nông. Người Chăm gọi người M’nông là Binaung, người Việt gọi là Mơ Nông; nhưng trong tiếng Chăm và tiếng Việt, những danh xưng này cũng không có nghĩa. Trong các tộc người láng giềng của người M’nông, danh từ Bu Nong, Bu Noong hoặc Bu Nông chỉ có ngữ âm tương tự với khái niệm vơnơm “núi” trong tiếng Kơho và phnum hoặc phnom “núi” trong tiếng Khmer. Vậy nguồn gốc của Bu Nong, Bu Noong hoặc Bu Nông phải chăng có liên quan đến các tộc người láng giềng này? Theo nhà sử học Lương Ninh (1984, tr.68), “thời tiền sử, một bộ phận cư dân cổ Đông Nam Á đã sinh sống trên đất nước Campuchia ngày nay và theo dấu vết văn hóa, còn lan rộng trên cả cao nguyên Cò-rạt và trung lưu sông Mekong. Hậu duệ của bộ phận này là một tộc ít người còn sinh sống ở miền núi Campuchia và cả ở Trường Sơn (Việt Nam) – người Pnong. Hiện nay, người Khmer chiếm số đông tuyệt đối trong dân cư, nhưng người Khmer rất gần gũi người Pnong về mặt nhân học, nói theo nghĩa rộng. Cho nên tác giả cho rằng dân cư tiền sử là người Pnong, còn người Khmer hình thành muộn, trong quá trình xuất hiện nhà nước, và gọi người Khmer là ‘người Pnong Ấn Độ hóa’”. Dựa theo giả thuyết này của Lương Ninh, chúng tôi phỏng đoán M’nông, Mnông, Mơnông, Mơ Nông, Pơ Nông, Mnong, Pnong, Budong, Bu Nong, Bu Noong, Bu Nông đều là tộc danh bắt nguồn từ danh từ Phnom “núi” là cách gọi của người Khmer để chỉ các tộc người cư trú ở vùng núi, trong đó có người M’nông, phân biệt với người Khmer cư trú ở bồn địa Biển Hồ Tonle Sap. Điều đó giải thích tại sao mặc dù là tộc danh phổ biến nhưng tất cả các cách gọi tộc danh của người M’nông đều không phải là từ ngữ M’nông, khiến cho người M’nông hoàn toàn không hiểu ý nghĩa của chúng và dẫn tới nhiều cách đọc trại khác nhau.

__________
1Có ý kiến giải thích rằng Thái, Tày, Táy, Yáy có nghĩa là “tự do”; Tàu, Ba Tàu là cách đọc trại “Tào quan” là quan lại người Hán, hoặc vốn dùng để chỉ “Tàu” là phương tiện vận chuyển đường thủy mà người Hán đã dùng khi đến Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng những giải thích ấy có căn cứ chắc chắn, nên chỉ ghi nhận chờ kiến giải.

2Có giả thuyết cho rằng tộc danh Việt có nguồn gốc là chữ tượng hình của người Hán mô phỏng lưỡi rìu của người Bách Việt [Bình Nguyên Lộc, 1971, p.154-157, 784-787; Trần Ngọc Thêm, 2004, p.57-58]. Xin ghi nhận để chờ cao kiến của các nhà nghiên cứu.

3Có ý kiến giải thích rằng tộc danh Yuan hay Yuôn có liên hệ với “Yueh” là cách đọc tộc danh Việt theo tiếng Hán. Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng giải thích ấy có căn cứ chắc chắn, nên chỉ xin ghi nhận ngoài lề để chờ cao kiến của các nhà nghiên cứu.

Nguồn: Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Sư Phạm TP. HCM, tập 16, số 5 (2019): 173-185

     Mời xem tiếp:

Nguồn gốc và ý nghĩa các tộc danh ở Việt Nam (Phần 2)

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)