Phật giáo Hòa Hảo – Tôn giáo đậm chất Nam Bộ có nguồn gốc từ Phật giáo

Tác giả bài viết: Tiến sĩ  TRẦN HỒNG LƯU
(Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng)

Dẫn nhập

     Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới đã để lại nhiều thành tựu vĩ đại trong việc giáo dục đạo đức cho nhân loại. Hơn thế, Phật giáo còn được nhiều nhà khoa học hiện đại thừa nhận có nhiều ý tưởng vượt thời đại và rất gần với khoa học đương đại và cả trong tương lai. Hiện nay khi mà thế giới bước vào nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa về kinh tế quốc tế đã xuất hiện nhiều hệ vấn đề hết sức phức tạp. Đó là xu thế đồng hóa về văn hóa của các nước lớn, cạnh tranh xen lẫn với hợp tác, hòa bình đan xen với xung đột, các xu thế khác của thế giới đã và đang tồn tại khiến cuộc sống con người có sự biến động lớn làm cho tâm thế con người không khỏi bất an trước những biến động đó. Để góp phần đem lại sự phát triển trong bền vững, Phật giáo ngay từ đầu đã thể hiện vai trò hướng đạo cho hòa bình và sự phát triển bền vững đó.

     Ở Việt Nam Phật giáo đã xuất hiện từ rất sớm bằng cả hai con đường Bắc tông và Nam tông. Ở phía Bắc các nhà sư đã sớm thể hiện vai trò của mình trong việc góp phần đem lại sự bình an cho đất nước trong điều kiện giặc xâm lăng xâm lược và nhiều vị vua đã tôn sùng Phật đến mức được mệnh danh như Phật Hoàng và lập ra trường phái riêng Việt là Trúc Lâm Yên Tử. Ở phía Nam vùng đất mới khai mở sau nhưng Phật giáo cũng đã vào từ rất sớm, góp phần an định đời sống tinh thần của của những người dân bước đầu vào mở cõi và lập nghiệp. Chính tại vùng đất này đã sinh nhiều tôn giáo mới có nguồn gốc từ Phật giáo. Một trong số đó là Phật giáo Hòa Hảo, mang đậm chất xứ sở phương Nam. Bài viết sẽ điểm qua những nét chính yếu của tôn giáo này ở vùng Nam bộ.

1. Phật giáo Hòa Hảo – Một phát xuất độc đáo từ đạo Phật

     1.1. Bửu Sơn Kỳ Hương, nguồn gốc của Phật giáo Hòa Hảo

     Như đã biết, miền đất Nam bộ, cụ thể ở đây là đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất khai phá mới. Những người di dân đầu tiên là những anh lính thú và vợ con họ. Tiếp sau đó là những tù binh và những kẻ tù tội hay những người khổ đến cùng cực, không còn đường mưu sinh nào khác, buộc phải cùng đường kiếm cách mưu sinh chờ vận hội mới ở vùng đất mới. Đó chính là chủ nhân của vùng đất Nam bộ bao la sông nước với cảnh vật hoang vu nhiều cá tôm và thú dữ. Qua quá trình khai hoang ở vùng đất rộng lớn này với những vất vả thăng trầm đã tạo nên cốt cách của người Nam bộ: giản dị, thẳng thắn, trọng nghĩa, xả thân, hào sảng và rộng mở. Vì phải nương tựa vào nhau để vượt qua thiên nhiên xa lạ và hoang thú, con người ở đây không coi trọng giàu nghèo mà đối với họ cái cao quý nhất là sống với nhau một cách tình nghĩa. Đó là đạo lý sống có nghĩa với cha mẹ, anh em, bạn bè và đồng loại. Có thể nói tính cách này với mọi người Việt đều có nhưng đối với người Nam bộ lại kết tinh thật đậm đặc tạo ra bản sắc riêng của họ, do phát xuất mở cõi đặc thù của xứ này như đã nêu trên.

     Vùng đất bao la này chưa hề có luật lệ và sở hữu riêng nào. Tất cả đều tự nhiên như nhiên và con người thuở ban đầu đặt chân lên vùng đất lạ này không ít bỡ ngỡ và họ phải tự đặt ra những khái niệm mới và với ý nghĩa khai mở, thiết lập ngay từ đầu. Có thể thấy được những chập chững, vấp ngã, mò mẫm như đứa trẻ con đầu tiên bước vào đời đã được hình dung như thế đối với với những người khởi phát đầu tiên đi mở cõi. Và những cư dân ban đầu tri thức hiểu biết về thế giới xung quanh chưa nhiều nên họ không tránh khỏi những trả giá, thất bại khi tiếp xúc với những cái mới lạ đầu tiên trong đời. Và những trả giá, được mất, đau khổ đầu tiên đó là đương nhiên khi mà hiểu biết ban đầu về một thế giới mới lạ hoàn toàn.

     Do đó, dù xuất thân của những cư dân đầu tiên không hẳn là có “đạo đức công dân” như những từ hiện đại mà chúng ta vẫn dùng, song những con người có xuất xứ ban đầu như đã nói, không có con đường nào khác, muốn tồn tại và ứng phó được với các thế lực tự nhiên đầy lạ lẫm họ buộc phải cố kết, gắn bó với nhau thành một khối để tồn tại và muốn phát triển họ lại càng phải gắn bó mật thiết với nhau. Và một tình cảm tự nhiên của đồng loại đã đến với họ mà không cần một lời kêu gọi nào khác mà chính là từ đạo đức, lương tâm đồng loại đã tự nhiên gắn kết họ lại với nhau.

     Có thể nói vùng đất mới Nam bộ mà con người đầu tiên đặt chân đến không chỉ thiếu vắng tri thức về tổ chức và luật lệ mà còn trống vắng cả về đời sống tinh thần đó chính là đời sống tâm linh. Biết bao điều về miền đất hứa đang chờ đời con người khai phá mới mà chính họ cũng chưa biết. Nhu cầu về hiểu biết thế giới xung quanh, về địa lý, thổ nhưỡng, thú dữ, thiên nhiên, cách canh tác, cách tổ chức liên kết nhũng con người với nhau thật lạ lẫm với họ – những chủ nhân đầu tiên của vùng đất mới. Và đương nhiên những anh Hai, những thủ lĩnh đầu tiên của dân di cư phải xuất hiện làm nhiệm vụ này dù là không tự giác. Một số trong họ là những thầy lang, thầy tu, thầy bói, thầy phù thủy, thầy địa lý, thầy Đạo,… sẽ làm nhiệm vụ kiêm nhiệm là lãnh tụ vật chất và tinh thần cho các nhóm cư dân từ vài chục đến vài trăm hay cả ngàn người. Lời giảng giải của các ông thật giản dị dễ đi vào tâm thức con người dưới hình thức thơ ca hay tiên tri. Độc đáo hơn trong các bài giảng thuyết đó với nội dung cốt lõi thường là đề cao lối sống tình nghĩa đạo đức giữa người với người nên dễ có sức cuốn hút cư dân. Một trong số các ông Đạo có uy tín nhất là ông Đoàn Minh Huyên, người có công gây dựng nên một phong trào tôn giáo mới với tên gọi ban đầu là Bửu Sơn Kỳ Hương – tiền thân của Phật giáo Hòa Hảo sau này.

     Ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856) sinh tại An Giang, từ nhỏ đã đi du ngoạn nhiều nơi, năm 1849 ông trở về quê đúng mùa dịch tả gây nhiều chết chóc bi thương. Ông đã đi nhiều nơi để chữa bệnh cứu người. Vừa trị bệnh bằng những tờ giấy vàng xé nhỏ uống với nước là ông vừa thuyết pháp về đạo lý pha lẫn với những lời tiên tri khó hiểu. Có thể nói phương thuốc của ông chủ yếu bằng tinh thần nhưng tín đồ theo ông rất đông. Mỗi tín đồ được phát một mảnh giấy đóng triện với bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương. Năm 1849 được coi là khởi phát của Bửu Sơn Kỳ Hương và ông Đoàn Minh Huyên và được coi như Phật sống, thậm chí về sau còn được tôn là Phật Thầy Tây An. Các đại đồ đệ của ông được phái đi các nơi vừa truyền đạo, vừa trị bệnh và chiêu dân, lập trại. Qua 7 năm hành đạo, ông đã tạo dựng được một cơ sở xã hội khá sâu rộng và đứng chân được ở miền Tây.

     Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương phát triển qua nhiều giai đoạn có lúc thăng trầm khác nhau và tồn tại dai dẳng. Chỉ biết sức sống của Bửu Sơn Kỳ Hương mạnh đến mức về sau phong trào Cao Đài tuy phát triển mạnh nhưng cũng phải rút lui trước những vùng miền mà Bửu Sơn Kỳ Hương đã chiếm lĩnh. Khi ông Huyên mất 1856, các tín đồ vẫn tin ông bất tử và sẽ có ngày ông trở về, bởi khi còn sống ông từng nói những câu mơ hồ:

Chừng nào trâu rống dưới sông

Lòng ông bảy chợ thì ông trở về

Chừng nào gốc mục lên chồi

Ta vưng sắc lệnh tái hồi trần gian

(Đặng Nghiêm Vạn 1996, tr. 474).

     Niềm tin đó đã tạo nên tâm lý chờ đợi về một ngày Phật Thầy tái sinh, chính là mảnh đất tốt để dễ dàng nảy ra một niềm tin mới về một lãnh tụ mới cho một cao trào tôn giáo mới mang lại nhiều phúc lộc cho nhân dân. Hiện thân của Phật Thầy Tây An là các ông Đạo Đèn hay Phật Trùm hành đạo những năm 1868-1875 và Đức Bổn sư Ngô Lợi, hành đạo 1878-1890, Sư Vãi Bán Khoai truyền đạo trong 2 năm 1901-1902 rồi biệt tích1. Với các tín đồ thì những người này là bất tử và sẽ trở về trong tương lai. Chính với niềm tin đó là mảnh đất màu mỡ để một ngày ông Huỳnh Phú Sổ trở thành Đức Huỳnh giáo chủ, là lý do để Bửu Sơn Kỳ Hương đưa tới Phật giáo Hòa Hảo. Bửu Sơn Kỳ Hương tức hương thơm kỳ lạ của núi báu sắp qua thời Hạ nguyên, vùng Thất Sơn sẽ trở thành núi báu báo hiệu thời kỳ đổi mới cho đất nước. Pháp môn được giải thích là tu nhân học Phật tức tu theo đúng đạo làm người. Đã là người phải trả Tứ ân đối với tổ tiên, cha mẹ, đất nước, Tam bảo và đồng bào, nhân loại. Về Phật học, Bửu Sơn Kỳ Hương được coi là Tông phái của đạo Phật với chủ trương:

“Nhiệm màu vui đạo Thích Ca

Thiền môn hứng chí Di Đà lòng chuyên”.

     Đương nhiên đây là thứ đạo Phật đơn giản và bình dân, thể hiện qua câu chữ dân dã như:

“Chuyện tu chẳng khó gì đâu

Lấy câu bố thí làm đầu rất nên

Nay đà gặp Phật giáng sanh

Khá duyên bá tánh làm lành tu thân”2.

     Bửu Sơn Kỳ Hương được xem như sự cách tân Phật giáo hay Phật giáo địa phương hóa phù hợp với cư dân miền Tây, có thể nhìn hình thức bề ngoài qua giáo lý đơn giản và cách ăn mặc và thờ phụng tu hành của họ. Bửu Sơn Kỳ Hương thực hiện thờ phụng tiết kiệm và đơn giản thể hiện là không thờ cốt tượng, không tranh ảnh, chỉ thờ một tấm vải điều màu đỏ hình chữ nhật. Phần cúng tối giản chỉ có hoa, nước lã, hương, không có xôi chè hay thịt cá. Có thể nói: Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo của đạo lý làm người dành cho cư dân miền Tây thời kỳ mở cõi. Bửu Sơn Kỳ Hương là đạo lý đơn giản không cầu kì nhưng vẫn tiếp tục truyền thống yêu nước, thờ cúng tổ tiên. Không ít các đệ tử đã trực tiếp tập hợp đứng lên khởi nghĩa chống Pháp ngay khi chúng đến Nam bộ. Điển hình là Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành được các tín đồ nhớ mãi và thờ phụng. Khởi nghĩa của Trương Định cũng được sự ủng hộ mạnh mẽ của Bửu Sơn Kỳ Hương.

     2.2. Vài nét cơ bản về Phật giáo Hòa Hảo

     Ra đời năm 1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc tức An Giang ngày nay, gắn với tên tuổi của người sáng lập Huỳnh Phú Sổ (1920- 1947). Ông tự nhận mình là người biết nhiều việc quá khứ, tương lai, đã gặp Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Ngọc hoàng Thượng đế, được thọ mệnh các vị đó xuống trần với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo cứu độ chúng sinh khỏi sông mê bể khổ về chốn Tây phương cực lạc”. Trong một bài sấm kệ ông phán:

Đức Di đà truyền mở đạo lành

Bởi vì ngài thương xót chúng sinh

Ra sắc lệnh bảo ta truyền dạy

(Ban Tôn giáo Chính phủ 1993, tr. 200-201).

     Đến năm 1945 số tín đồ theo Phật giáo Hòa Hảo đạt tới 700 ngàn người. Năm 1947 Huỳnh Phú Sổ mất, các lực lượng Hòa Hảo bắt đầu chia rẽ thành các nhánh khác nhau và cát cứ các vùng Long Xuyên, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Mới, gắn liền với tên tuổi của Lê Quang Vinh – Ba Cụt, Trần Văn Soái – Năm Lửa, Lâm Thành Nguyên – Hai Ngoán và Nguyễn Giác Ngộ. Năm 1954, số tín đồ đạt trên 1 triệu người. Năm 1975 số tín đồ là 2 triệu người trở thành một tôn giáo bản địa có số tín đồ khá đông đảo (Ban Tôn giáo Chính phủ 1993, tr. 203-204).

     Về giáo lý Phật giáo Hòa Hảo, đa số các giáo lý của đạo được ghi lại trong các sách của Huỳnh Phú Sổ bao gồm:

     – Sấm giảng khuyên người tu niệm với thể văn lục bát 912 câu, viết tại làng Hòa Hảo năm 1939.

     – Kệ dân của người khùng là thơ 7 chữ với 846 câu viết tại làng Hòa Hảo năm 1939. Ông tự nhận là người điên khùng vì không theo các ham muốn vật chất như người thường.

     – Sấm giảng với thể văn lục bát dài 612 câu viết tại làng Hòa Hảo năm 1939, chủ yếu dạy người tu nhân đạo.

     – Giác mê tâm kệ, lối thơ 7 chữ với 846 câu viết tại làng Hòa Hảo năm 1939. Bắt đầu nêu các khái niệm Phật giáo như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ uẩn, Lục căn, Lục trần, khuyên người theo Phật với lòng thành kính không câu nệ hình thức.

     – Khuyến thiện văn lục bát dài 752 câu viết tại Chợ Quán năm 1941 kể về Thích Ca ngộ đạo.

     – Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo, lối văn xuôi viết tại Sài Gòn năm 1945 nói về cách tu Phật tại gia của Phật giáo Hòa Hảo. Cách thờ cúng hành lễ và những điều cấm kị của tín đồ.

     – Ngoài sách Huỳnh Phú Sổ, còn có một số sách luận giải về đạo Phật và Phật giáo Hòa Hảo của một số các tín đồ khác.3

     Có thể thấy, giáo lý Phật giáo Hòa Hảo là sự tiếp nhận và nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An. Nội dung giáo lý gồm hai phần: Phần Học Phật và Phần Tu Nhân.

     Phần Học Phật cơ bản dựa vào giáo lý Phật giáo nhưng được tinh giản và có sửa đổi đôi chút. Theo Phật giáo Hòa Hảo, Học Phật có ba pháp môn chính là: ác pháp, chân pháp và thiện pháp. Cụ thể: Ác pháp là các pháp ngăn trở thiện pháp gây ra tội lỗi khiến con người vướng mãi vào vòng luân hồi. Trong đó Tam nghiệp là thân, khẩu, ý nghiệp gây ra 10 điều ác thuộc về thân, khẩu, ý; sáu điều ham muốn và bảy trạng thái tình cảm, năm thứ hoặc: tham sân si làm con người trở nên ngu si mê muội khó siêu thoát. Tứ đổ tường: tửu sắc tài khí, là bốn bức tường nhốt con người trong tăm tối, sa đọa.

     Chân pháp là các pháp phá tan các mê muội làm bừng sáng trí tuệ đạt tới chân lý. Thuộc về Chân pháp có Tứ diệu đế nói về sự đau khổ, nguyên nhân đau khổ, cách diệt khổ và con đường diệt khổ; Thập nhị nhân duyên là 12 nhân duyên rối rắm gây ra chuỗi nhân quả và vòng luân hồi mà con người vướng phải khó thoát ra; Ngũ trược là năm thứ dơ bẩn làm ô nhiễm thân tâm, say đắm trong cõi trần tục: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược.

    Cần nhận thấy, ông Huỳnh Phú Sổ tuy thừa nhận Tứ diệu đế nhưng khi thuyết pháp ông đã đảo lộn thứ tự thành: Tập đế, Diệt đế, Khổ đế và Đạo đế. Đưa Tập đế lên trước và Khổ đế xếp gần cuối.

     Thiện pháp là pháp lành mà con người cần tu tập để gây thiện duyên làm cho thân tâm thanh sạch để giải thoát.

     Thiện pháp bao gồm Bát chánh đạo nhằm diệt trừ các ác pháp do thân khẩu ý nghiệp tạo tác. Cụ thể: Chính kiến, chính nghiệp, chính mạng sẽ diệt các ác pháp về thân. Chính ngữ diệt ác pháp về khẩu. Chính tư duy, chính tinh tiến, chính định, chính niệm diệt trừ các ác pháp về ý.

     Bát nhẫn là tám điều nhẫn nhịn nhằm vượt qua các thử thách trong tu tập và xử thế,… Nhẫn năng là cách xử thế với đời. Nhẫn giới là giữ nghiêm giới luật. Nhẫn hương lân là giữ hòa khí với làng xóm. Nhẫn phụ mẫu là giữ lòng hiếu thảo với cha mẹ. Nhẫn tâm là giữ lòng an định. Nhẫn tính là giữ tính tình điềm đạm. Nhẫn đức là giữ đức độ hòa nhã. Nhẫn thành là thành tâm, thành tín.

     Tóm lại, học Phật Hòa Hảo quan niệm người ta do: Tam nghiệp, Lục dục, Ngũ uẩn mà phạm phải điều ác chịu đau khổ trong luân hồi. Chỉ khi có Chân pháp hiểu được Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên mới diệt được Ác pháp và phải tu theo Bát chánh đạo, chấp nhận Bát nhẫn mới đạt Thiện pháp để thoát khỏi vòng luân hồi khổ ải đạt đến chánh quả hiền nhân.

     Phần Tu Nhân

     Là tu Tứ ân Hiếu nghĩa mà Phật Thầy Tây An đã chỉ ra. Đó là Ân tổ tiên, con cái phải có trách nhiệm đền đáp ân nghĩa do tổ tiên, cha mẹ, sống có hiếu nghĩa với cha mẹ. Đây là ân nghĩa đầu tiên quan trọng nhất trong Tứ ân; Ân đất nước: phải có ân nghĩa với quê hương, đất nước, gắn với thuần phong mĩ tục để nâng bước người đi; Ân đồng bào, nhân loại: phải sống có ân nghĩa với đồng bào với tổ tiên Lạc Hồng của mình. Biết chia sẻ vui buồn không phân biệt màu da, sắc tộc. Theo tinh thần Từ bi, Hỷ xả không gây họa cho người khác; Ân Tam bảo: là Phật, Pháp, Tăng. Ghi nhớ công ơn Tam bảo đã khai mở trí tuệ cứu vớt chúng sinh qua bể khổ. Noi theo Tam bảo để rèn thân tâm đạt đến giải thoát.

     Với Phật giáo Hòa Hảo thì phải vừa học Phật vừa Tu nhân học Phật tạo nên Đức, Tu Nhân tạo nên Công. Có vậy mới đạt được thành quả. Trong đó Phật giáo Hòa Hảo chú trọng hơn đến Tu Nhân vì trước hết con người phải tu luyện đạt đến nền tảng đạo đức thì mới học Phật được.

     Có thể nhận ra, tuy thừa nhận Phật giáo song với giáo lý đề cao Tu Nhân, Huỳnh Phú Sổ đã tạo ra một môn phái Phật giáo độc đáo và không kém đặc sắc mang âm hưởng Việt Nam. Đặc biệt với giáo lý đơn giản đã được giản lược hóa, Phật giáo Hòa Hảo đã khắc phục được sự “hàn lâm, bác học” với nhiều kinh sách đồ sộ và giáo lý cao siêu, trừu tượng, khó hiểu của Phật giáo, giúp nhiều người dân ít học có thể tiếp cận Phật giáo ở những điều căn cốt nhất.4 Đào sâu thêm phần học Phật, Tu nhân, Phật Thầy Tây An chỉ rõ: “Muôn vạn quyển kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu. Hôm nay đã quy y đầu Phật tu niệm tại gia, ta hãy cố gắng vưng lời thầy Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghĩa”.5

     Về nghi lễ: Phật giáo Hòa Hảo chủ trương thành tâm là chính, Hình thức không cần quá chuộng. Các chùa Hòa Hảo đều treo một lá cờ hình chữ nhật màu nâu (trần điều hay màu dà). Màu này được coi là trung hòa giữa các màu sắc khác. Mỗi gia đình có 3 bàn thờ, Thờ trần điều, thờ tổ tiên thờ Thông thiên ngoài trời. Thậm chí không lập bàn thờ chỉ thờ Phật trong tâm là đủ.

     Đồ cúng chỉ cần nước lạnh, hương hoa. Cúng tổ tiên có thể dùng đồ chay hay mặn đều được. Tín đồ không được lạy người sống trừ cha mẹ. Hiếu với cha mẹ chủ yếu khi họ còn sống. Tang gia không nên khóc lóc. Về hôn nhân cha mẹ không được ép buộc con cái nhưng cũng không để “chúng quá tự do” mà phải có trách nhiệm đối với chúng. Giáo luật cấm ăn trâu bò chó, những con vật có ích cho sản xuất và có tình cảm với con người. Cấm uống rượu, cờ bạc, thuốc phiện. Niệm Phật đơn giản với ba bài nguyện ngắn khi nhập đạo chỉ cần hai người giới thiệu và phải học giáo lý, giáo luật và phải xin phép cha mẹ, tổ tiên.

     Về mặt tổ chức: Các chi hội Phật giáo Hòa Hảo được tổ chức từ ấp, xã, quận đến tỉnh và bầu cử theo thứ tự cấp dưới bầu cấp trên. Ông Huỳnh Phú Sổ được tôn vinh là Giáo chủ Hội trưởng của Ban Trị sự Trung ương. Cùng tồn tại với các Ban Trị sự là các cấp của đảng Dân Xã với nòng cốt là tín đồ Hòa Hảo. Sau 1975, Tổ đình tuyên bố giải tán tổ chức cũ của đạo. Ngày nay, tín đồ theo Phật giáo Hòa Hảo tự do tu theo theo đúng tinh thần ban đầu của đạo xuất phát từ giáo luật của Bửu Sơn Kỳ Hương.

     Thời gian gần đây nhiều sinh hoạt của Phật giáo Hòa Hảo lại tiếp tục được khôi phục như ăn chay, đi núi, hành hương về Tổ Đình. Đa số các tín đồ đều hăng say thực hiện các chính sách của nhà nước.6

Kết luận

     Đầu thế kỷ XVII, những lớp người Việt đầu tiên đi khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long đầy hoang vu xa lạ với những thử thách nguy hiểm từ thiên nhiên mà con người chưa lường hết. Tuy đất đai trù phú tốt tươi nhưng bùn lầy, thú dữ, lũ lụt và bệnh tật luôn rình rập họ. Những tai ương trên trời dưới đất bất ngờ đưa đến với những người đầu tiên đi mở đất còn chưa hiểu biết nhiều về vùng đất mới. Hành trang về tinh thần mà con người mang theo cũng đầy thiếu hụt. Đó chính là sự thiếu vắng tri thức đối với họ. Cũng chính đó lại là cơ sở để những con người dũng mãnh này tự nhiên liên kết với nhau cả về vật chất và tinh thần. Phật giáo Hòa Hảo xuất hiện trong bối cảnh đó với phát xuất đầu tiên từ Bửu Sơn Kỳ Hương như đã nói ở trên.

     Những triết lý đầu tiên tuy có nguồn gốc từ Phật giáo và cả Nho giáo cộng với tinh thần yêu nước, yêu tổ tiên đất nước từ các anh Hai, các ông thầy: thuốc, bói, Đạo là hết sức đơn giản và sơ lược để đi sâu vào lòng người và đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của các cư dân ban đầu trên vùng đất lạ, góp phần sưởi ấm làm nền tảng cho đời sống tinh thần của người dân.

     Lớp người đầu tiên đi mở cõi như đã nói trên đa phần là những người còn hạn chế hiểu biết chữ nghĩa nên những giáo lý cao siêu của Phật giáo gắn nhiều với đạo lý dân Việt phải được cải biến ngắn gọn, dễ hiểu để dễ đi vào lòng người. Thông qua các câu ca dao, tục ngữ và văn vần giản dị đến mộc mạc, các ông thầy đã có công lồng ghép triết lý Phật giáo và đạo lý dân tộc vào để truyền bá cho nhân dân. Chính vì vậy Phật giáo Hòa Hảo thấm đẫm tinh thần người dân Nam bộ đến mức khó lẫn với các đạo khác cũng có nguồn gốc từ Phật giáo như đạo Cao Đài.

     Triết lý và cách tổ chức thờ cúng đơn giản của Phật giáo Hòa Hảo đã góp phần gắn kết cư dân và dễ được họ chấp nhận, tán đồng. Đó là nét độc đáo của Phật giáo Hòa Hảo. Tuy khác biệt như vậy nhưng Phật giáo Hòa Hảo vẫn có điểm chung với Phật giáo dân gian nói chung kể cả thời kì Phật giáo cực thịnh thời Lý – Trần, đúng như nhận định chung của giới tôn giáo học nước ta, được GS.TS. Đỗ Quang Hưng dẫn lại: “Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo thời kỳ Lý – Trần nói riêng, thế mạnh là ở Phật giáo dân gian chứ không phải Phật giáo bác học”.7  Soi chiếu vào Phật giáo Hòa Hảo chúng ta thấy chất dân gian đậm nét trong nó, đã là một yếu tố hùng hồn minh chứng cho nhận định trên. Giả định nếu như thời kỳ đầu mở cõi, các tiền nhân, các thầy Đạo bê nguyên giáo lý cao siêu đồ sộ của Phật giáo uyên nguyên đến với cư dân sức học còn hạn chế thì liệu có thành công hay không? Câu trả lời chắc chắn là không.

     Chính vì vậy, Phật giáo Hòa Hảo ra đời gắn liền với công lao đầu tiên của các ông thầy làm đủ nghề được gắn liền với ông thầy Đạo nói chung. Không nghi ngờ gì nữa có thể khẳng định chắc chắn, Phật giáo Hòa Hảo là phát kiến riêng đặc sắc của vùng Nam bộ. Hơn thế nữa, Phật giáo Hòa Hảo đã góp phần truyền bá đạo Phật đến gần hơn với cư dân thời mở cõi và được quần chúng tán thưởng. Những tri thức uyên thâm của đạo Phật đã được các ông thầy Đạo lồng ghép vào với các đạo lý dân tộc gần gũi đã dễ dàng đi vào hồn của cư dân thời mở cõi, giúp họ không quên được gốc gác nguồn cội của họ, đúng như Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977), đã nói hộ lòng họ:

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

     Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, với Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo đã đi sâu vào tâm hồn người Việt dù ở hình thức đơn giản nhất, góp phần giúp cho đời sống tinh thần của họ được bình an thuở ban đầu mở nước. Và đó chính là chất độc đáo và hiệu quả lớn lao mà các tôn giáo khác không thể làm được.

__________
1. Đặng Thế Đại, Tính đặc sắc Nam bộ và truyền thống văn hóa Việt Nam qua một dòng tôn giáo, 
https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/a-b-c-d/dang-the-dai/tinh-dac-sacnam-bo-va-truyen-thong-van-hoa-viet-nam-qua-mot-dong-ton-giao, truy cập ngày 28/11/2020.

2. Nguyễn Văn Hầu (biên soạn) (1973), Sấm truyền Đức Phật Tây An, Ban Quản trị Tông Sơn cổ tự xuất bản, tr. 102, 110, 115.

3. Đặng Nghiêm Vạn (1996, chủ biên), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, tr. 487-488.

4. Ban Tôn giáo Chính phủ (1993), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội, tr. 209-210.

5. Đặng Nghiêm Vạn (1996, chủ biên), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, tr. 490.

6. Tổng cục Chính trị (1993), Một số hiểu biết về tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, tr. 201.

7. Đỗ Hương Giang (2017), Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 26.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

     Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

     Ban Tôn giáo Chính phủ (1993), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội.

     Đặng Nghiêm Vạn (1996, chủ biên): Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội.

     Đỗ Hương Giang (2017), Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

     Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo (2009), Sấm giảng thi-văn toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo-chủ, lưu hành nội bộ.

     Tổng cục Chính trị (1993), Một số hiểu biết về tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân.

Nguồn: Các hệ phái phật giáo và tôn giáo mới tại vùng Nam Bộ,
Nxb: Hồng Đức, Chủ biên: Thích Nhật Từ, năm 2021

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Phật giáo Hòa Hảo – Tôn giáo đậm chất Nam Bộ có nguồn gốc từ Phật giáo (Tác giả: TS. Trần Hồng Lưu)