Phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh (1909 – 2019) – Phần 2

ISCOVERING AND RESEARCH OF SA HUYNH CULTURE
(1909 – 2019)

Tác giả bài viết: LÂM THỊ MỸ DUNG
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam)

     Đối với tổ hợp gốm Sa Huỳnh nam, chum quan tài đa dạng về loại hình nhưng  không giống với Sa Huỳnh bắc. Loại chum hình cầu ở Sa Huỳnh nam giống chum ở Giồng Cá Vồ hơn. Đồ gốm tùy táng đa dạng nhưng không có loại đèn như Sa Huỳnh bắc. Trong di tích Hoà Diêm, một số mộ chum có niên đại từ sau Công nguyên có nhiều nét tương đồng với dòng gốm Kalanay. Nhìn chung, đồ gốm Sa Huỳnh nam có những nét kế thừa từ gốm Xóm Cồn, hoa văn chải chiếm tỉ lệ lớn, văn in mép sò, in chấm thành các đồ án không kèm văn khắc vạch tạo biên rất nhiều, trong khi hoa văn tô màu không phổ biến.

     Nhìn chung, gốm của hai loại hình Sa Huỳnh bắc và nam “được trang trí đẹp với những đồ án hoa văn đa dạng. Hoa văn khắc vạch kết hợp tô màu, những đồ án và phong cách trang trí từ giai đoạn tiền Sa Huỳnh tiếp tục tồn tại và phát triển trong giai đoạn này” (Lâm, 2013, đoạn 182). Đặc biệt là hoa văn in mép sò độc lập hay in mép sò kết hợp với khắc vạch, miết láng tạo thành những băng trang trí có giá trị mỹ thuật cao. Đáng chú ý là loại gốm tô màu đen (tô ánh chì) “và đỏ thành từng băng uốn lượn hay góc cạnh, xen lẫn những băng bên trong trang trí những đường vạch nhỏ, chấm dải, in mép sò… trở thành phương pháp trang trí phổ biến” (Lâm, 2013, đoạn 182) của văn hóa Sa Huỳnh. Với loại văn thừng, có lẽ loại văn này chỉ “đóng vai trò kỹ thuật hơn là trang trí, kiểu loại văn thừng giai đoạn này đơn giản hơn so với giai đoạn sớm” (Lâm, 2013, đoạn 182). Tất cả gốm Sa Huỳnh đều là gốm thô, đất sét pha cát, đá hay vỏ nhuyễn thể… Kỹ thuật tạo dáng khá đồng nhất của người thợ gốm. Quy trình chế tác gồm các khâu tạo dáng cơ bản và tu chỉnh. Đối với các loại gốm lớn như các loại chum gốm, họ sử dụng kỹ thuật dải cuộn kết hợp bàn đập, hòn kê. Đối với các đồ gốm gia dụng, họ cũng dùng kỹ thuật dải cuộn, ấn tay, nặn nguyên khối kết hợp với ghép nổi con chạch. Sau khi tạo dáng, gốm được cạo sửa lại và dấu vết này để lại trên gốm Sa Huỳnh khá phổ biến. Chân đế hoặc vành miệng trong của đèn gốm sẽ được ghép sau khi bề mặt gốm hơi se lại. Bước cuối cùng là tạo hoa văn, các hoa văn trang trí được làm bằng kỹ thuật in, tô màu, và khắc vạch (Lâm, 2007)

Hình 4. Bản đồ phân bố các trung tâm sản xuất gốm Sa Huỳnh
Nguồn: Hoàng (2015)

     Về kỹ thuật nung, dựa trên những tư liệu phân tích mà Hoàng (2008) cho rằng người Sa Huỳnh đã nung gốm ngoài trời, nhiệt độ nung khoảng 600 – 900°C. Dựa vào phân tích loại hình và kỹ thuật có thể xác định được 11 khu vực sản xuất gốm trong không gian văn hoá Sa Huỳnh từ Huế đến Bình Thuận (Hình 4). Những tư liệu gần đây còn cho biết khu vực Bãi Cọi ở Hà Tĩnh cũng là một nơi sản xuất gốm. Về cơ bản, đồ gốm ở đây mang những nét đặc trưng của gốm Sa Huỳnh về chất liệu, loại hình và kỹ thuật chế tác ảnh hưởng đậm nét từ gốm thuộc văn hóa Đông Sơn (Hoàng, 2015).

     Đồ sắt là loại hình di vật nổi bật nhất trong văn hoá Sa Huỳnh. Trong đó, bộ công cụ và vũ khí bằng sắt hết sức đa dạng. Tại những địa điểm văn hoá Sa Huỳnh, công cụ sắt chiếm số lượng lớn. Đồ sắt được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp rèn, kết quả phân tích chín mẫu của sưu tập đồ sắt Đại Lãnh đã cho thấy chúng đều được chế tạo bằng phương pháp rèn, kỹ thuật đúc cũng gặp ở một số hiện vật. Nhìn chung, những người thợ sắt cổ Sa Huỳnh có tay nghề khá thành thạo trong việc rèn nóng. Số lượng đồ sắt Sa Huỳnh phát hiện được đến nay “đã lên tới hàng trăm chiếc” (Lâm, 2013, đoạn 180). Chủng loại đồ sắt khá “đa dạng gồm rựa, dao quắm, giáo, mai, liềm, thuổng, kiếm ngắn, dao, qua đồng…” (Lâm, 2013, đoạn 180). Theo Lâm (2013), có thể nói,

Đồ sắt trong văn hóa Sa Huỳnh nếu đặt trong tương quan với các trung tâm văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, văn hoá Dốc Chùa ở phía Nam thì số lượng và sự phổ biến rộng rãi của đồ sắt trong văn hoá Sa Huỳnh nhiều hơn hẳn. Trong bộ sưu tập hiện vật sắt, đặc trưng chủ đạo là tính thống nhất về loại hình và kỹ thuật dù được phát hiện trong/tại nhiều địa điểm mang tính địa phương hay khu vực rõ nét. Đồ sắt đã đóng vai trò thống nhất và kết tinh văn hoá ở Miền Trung Việt Nam thời đại Sơ sử. (đoạn 180).

     Đến nay, nguồn gốc của nghề luyện kim sắt trong văn hóa Sa Huỳnh vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, “trong một số địa điểm đã tìm thấy dấu tích của rèn sắt và luyện gang tại chỗ, như ở Đại Lãnh (Đại Lộc, Quảng Nam)” (Lâm, 2013, đoạn 180) nhưng cần có những nghiên cứu thêm. Tại địa điểm Gò Quê, trong chum mộ số 1 (hố khai quật 3) đã tìm thấy khoảng 50 cục quặng sắt. Các nhà khai quật lý giải đây là hiện tượng thu gom nguyên liệu để chế tác đồ sắt tại chỗ, hay ở Động Cườm (Bình Định) và Diên Sơn (Khánh Hoà) quặng sắt cũng được chôn trong mộ chum. “Có thể, luyện kim sắt trong văn hoá Sa Huỳnh có mối quan hệ chặt chẽ với khu vực Đông Nam Á lục địa” (Lâm, 2013, đoạn 180) và hải đảo. Giai đoạn cuối của nền văn hoá này, “loại hình công cụ và vũ khí bằng sắt thể hiện sự giao lưu văn hoá với người Hán (Trung Hoa) qua các loại hình như mũi nhọn, qua, dao có chuôi hình vành khăn kiểu Tây Hán” (Lâm, 2013, đoạn 180). Với đồ sắt tìm thấy trong một số địa điểm ở địa bàn nam Sa Huỳnh lại cho thấy nhiều nét tương đồng với đồ sắt Đông Nam Á hải đảo. Đồ đồng trong văn hóa Sa Huỳnh “so với đồ sắt thì ít hơn nhiều về số lượng. Trong một vài năm gần đây, trong các khu mộ táng” (Lâm, 2013, đoạn 181) ở Gò Mả Vôi, gò Quê, gò Dừa, Lai Nghi… “đã tìm thấy nhiều đồ đồng tùy táng, như công cụ, vũ khí, đồ nghi lễ… Nhiều đồ đồng được phát hiện trong cả mộ chum và mộ đất” (Lâm, 2013, đoạn 180). Phần lớn đồ đồng tùy táng là sản phẩm của trao đổi với văn hoá Đông Sơn, như: Trống đồng, công cụ, và vũ khí; Với văn hoá Đồng Nai như: Rìu có lưỡi cong hình Parabola; Với văn hoá Hán (Trung Hoa) như: Bát, đĩa, bình, ấm, gương… Tất nhiên, không loại trừ người Sa Huỳnh tự sản xuất tại chỗ – tuy chứng cứ còn quá ít. Những dấu vết liên quan đến nghề đúc đồng đã được tìm thấy nhưng ở giai đoạn sớm hơn như ở địa điểm Bình Châu hay Bàu Trám. Một vài khuôn đúc bằng đá (đúc rìu kiểu Dốc Chùa) được tìm thấy ngẫu nhiên ở Khánh Hoà và Ninh Thuận… hay dấu tích của những mảnh nồi nấu đồng, gỉ, xỉ, giọt đồng cũng đã được tìm thấy ở địa điểm cư trú Thôn Tư (Quảng Nam). Tuy vậy, dấu ấn giao lưu trao đổi kiểu như đồ đồng tìm thấy trong các di tích mộ chum vùng nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hòa…) có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Đồng Nai. Nhưng, không thể phủ nhận, nghề luyện kim ra đời và phát triển đã đóng vai trò quan trọng trong văn hoá Sa Huỳnh. Đặc biệt, nghề luyện/rèn sắt là vượt trội và đồ sắt đã tác động mạnh mẽ tới những khía cạnh đời sống vật chất của cư dân Sa Huỳnh.

     Nghề chế tác đồ trang sức bằng đá và thủy tinh cũng là nghề thủ công quan trọng của người Sa Huỳnh. Cư dân cổ Sa Huỳnh “có năng khiếu, khéo tay, và mỹ cảm cao; Họ ưa thích dùng đồ trang sức (vòng, nhẫn, khuyên tai, vật đeo hình dấu phảy, hạt chuỗi…) bằng thuỷ tinh, mã não, đá quý, đá hay đất nung” (Lâm, 2013, đoạn 183). Khuyên tai (hay bùa đeo) hai đầu thú và ba mấu là một trong những đồ trang sức đặc sắc của người Sa Huỳnh (Hình 5). Địa bàn phân bố của khuyên tai ba mấu là hầu khắp các địa điểm thuộc văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng, với loại hai đầu thú cho tới nay chỉ được phát hiện ở một số vùng. Ngoài ra, trong các địa điểm thuộc giai đoạn muộn đã tìm thấy hạt chuỗi hình con vật như hổ, chim nước và loại hạt chuỗi mã não… Hạt chuỗi, khuyên tai bằng vàng hay hạt chuỗi thủy tinh mạ vàng cũng đã được người Sa Huỳnh sử dụng và chôn theo mộ táng – với những loại trang sức này thường được xác định là nhập từ bên ngoài. Trong di tích Đại Lộc (Quảng Nam) hay Giồng Cá Vồ (TP. Hồ Chí Minh) đã phát hiện nhiều khuyên tai hai đầu thú ở dạng chế tác dở. Trong văn hóa Đông Sơn hay các địa điểm ở Philippines, Thái Lan… cũng đã phát hiện loại khuyên tai hai đầu thú – đây là những bằng chứng về sự lan toả ảnh hưởng của văn hoá Sa Huỳnh sang các văn hóa đồng đại.

Hình 5. Hai loại hình khuyên tai đặc trưng của văn hoá Sa Huỳnh
Nguồn: Nguyễn (2017).

     Nhìn chung, hai loại khuyên tai này cùng với những biến thể của chúng được phát hiện ở Philippin, Campuchia, Thái Lan… là hàng hoá mậu dịch của Đông Nam Á lúc bấy giờ. Những nghiên cứu của Nguyễn (2017) đưa ra khá nhiều vấn đề liên quan đến việc chế tạo và phân bố của những loại khuyên tai đặc trưng Sa Huỳnh. Đó là, những khuyên tai phát hiện được ở Đông Nam Á được làm bằng nguyên liệu từ Đài Loan, trong khi tại địa bàn Sa Huỳnh, nguyên liệu Đài Loan chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, nguyên liệu từ nhiều nguồn gốc chiếm tỉ lệ lớn. Khuyên tai – hàng mậu dịch ở Đông Nam Á kiểu loại đơn giản hơn rất nhiều so với loại nội địa Sa Huỳnh. Một vấn đề khác cũng cho thấy, đồ gốm hay đồ trang sức của văn hoá Sa Huỳnh có rất nhiều nét chung với các văn hoá khác cùng thời ở Đông Nam Á – đặc biệt là với Đông Nam Á hải đảo. Điều này lý giải đó là kết quả của mạng lưới trao đổi nguyên liệu và sản phẩm. Đáng chú ý là sự xuất hiện của một số trung tâm sản xuất trong khu vực Đông Nam Á.

     Đồ trang sức bằng thuỷ tinh rất phổ biến trong văn hoá Sa Huỳnh muộn, như: Khuyên tai, vòng tay, hạt chuỗi các loại… Đến nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc đồ thuỷ tinh trong văn hoá Sa Huỳnh, “nhưng theo đa số các nghiên cứu thì thuỷ tinh Sa Huỳnh phần lớn được chế tác tại chỗ” (Lâm, 2009b, đoạn 41). Có thể nói, người Sa Huỳnh “có nghề thủ công chế tạo thuỷ tinh phát triển, một số sản phẩm được buôn bán trao đổi đi những nơi khác trong khu vực Đông Nam Á” (Lâm, 2009b, đoạn 41). Theo Lâm (2009b),

Chính sự thống nhất trong loại hình và mức độ tinh tế của kỹ thuật đã cho thấy có những người thợ chuyên chế tác mặt hàng thuỷ tinh và ở mức độ nào đó họ đã biết cập nhật trình độ sản xuất thuỷ tinh của khu vực (Lâm, 2007). Tuy vậy, quy mô sản xuất chắc vẫn dừng ở hộ gia đình hay cá nhân, cho đến nay chưa có những chứng cứ về sự tồn tại của trung tâm chế tác đồ thuỷ tinh. Chứng cứ thuyết phục nhất về nghề chế tạo thủy tinh được ghi nhận trong di tích Giồng Cá Vồ (TP. Hồ Chí Minh). Bên cạnh sử dụng đồ thuỷ tinh bản địa thì họ vẫn nhập đồ trang sức thuỷ tinh nấu chảy lại của Ấn Độ (Francis, 2004, tr. 2) (Trích trong Lâm, 2009b, đoạn 41);

     Phương thức mưu sinh “đa dạng và linh hoạt trong sinh kế tận dụng tối đa ưu thế địa hình và môi trường sinh thái(Lâm, 2009b, đoạn 33): Dựa vào những dấu tích khảo cổ học và dữ liệu môi trường sinh thái và so sánh dân tộc học có thế thấy các cộng đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh có cơ cấu kinh tế đa dạng, như: Kết hợp giữa kinh tế sản xuất, kinh tế khai thác, sản xuất thủ công và trao đổi buôn bán. Như trên đã đề cập, môi trường sống của người Sa Huỳnh rất đa dạng cả về địa hình, địa mạo, khí hậu, đất đai… mặc dù yếu tố biển có vai trò quan trọng nhưng tác động của biển đối với cư dân là khác nhau giữa Sa Huỳnh bắc, Sa Huỳnh nam, Sa Huỳnh núi, Sa Huỳnh hạ lưu sông, Sa Huỳnh đảo…

     Đến nay, nghề trồng trọt nói chung, và trồng lúa nói riêng chúng ta cũng chưa có thật nhiều bằng chứng. Tuy vậy, một số dẫn liệu “về vỏ trấu trong đồ gốm, gạo cháy trong mộ chum ở Lai Nghi, Tiên Phước, gò Miếu Ông…; Hay loại hình nông cụ bằng sắt, bằng đồng đã thống kê được thì đồ sắt thuộc nhóm công cụ sản xuất chiếm số lượng rất lớn so với vũ khí – 306 công cụ sản xuất/ 56 vũ khí) (Lâm, 2009b, đoạn 33) đã lý giải cho vai trò nhất định của trồng trọt trong đời sống cư dân. Lúa có lẽ được trồng ở các loại thổ nhưỡng khác nhau, tạo ra các giống lúa khác nhau. Các tài liệu về khảo cổ học và dân tộc học cho biết, ở miền Trung là nơi có nhiều giống lúa phù hợp với cả môi trường nắng nóng, khô và nắng nóng cùng bão lũ. Một số giống cây ăn quả nhiệt đới mà sau này chúng ta biết trong sử liệu viết về Champa có lẽ có nguồn gốc từ thời Sa Huỳnh.

     Miền Trung Việt Nam với sự giàu có và phong phú sản vật liên quan đến núi rừng sông, biển, và đặc biệt là nguồn lâm thổ sản hải sản rất đa dạng đã được cư dân Sa Huỳnh khai thác hiệu quả, sự hiện diện của các cộng đồng lớn ở vùng núi Trường Sơn, thượng nguồn các sông mà dấu vết còn lại là các khu mộ táng ở miền núi Quảng Nam hay Quảng Ngãi có thể lý giải như là kết quả của việc khai thác và trao đổi sản vật thượng nguồn, hạ nguồn sôi động trong thời sơ sử.

     Các ngành nghề thủ công rất phát triển, thúc đẩy buôn bán và trao đổi bên trong, cũng như bên ngoài. Như trên đã bàn về các loại hình di vật, một số nghề thủ công sản xuất có lẽ đã vượt quy mô gia đình và đạt quy mô làng. Trong đó, nghề chế tác đồ kim loại cho thấy có sự hiện diện của thợ cả lành nghề, chế tác đồ gốm đã được chuyên hoá ở mức độ nào đấy để sản xuất những mặt hàng có tính chất biểu trưng cao trong nghi lễ, trong tang lễ và trang trí. Theo Lâm (2009b), có thể nói:

Văn hoá Sa Huỳnh là sản phẩm của những cư dân có cuộc sống định cư trên đất liền nhưng với xu hướng hướng biển mạnh mẽ. Hệ sinh thái chủ đạo tạo nên nhiều đăc trưng văn hoá là hệ sinh thái cồn và bàu. Người cổ Sa Huỳnh có nền kinh tế đa ngành kết hợp giữa trồng lúa nước ở các đồng bằng nhỏ duyên hải, trồng lúa kiểu nương rẫy ở vùng đồi gò. Cư dân văn hoá Sa Huỳnh sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn nữa là với Ấn Độ và Trung Hoa (đoạn 34).

Mở rộng và phức hợp hoá mạng lưới trao đổi trong và ngoài: Với nhu cầu sự tăng mạnh trong tiêu thụ của sản phẩm làm ra của các cộng đồng cư dân kéo theo sự mở rộng và phức tạp hoá mạng lưới trao đổi trong và ngoài. Chính sự phát triển ngày càng nhanh và mạnh mang tính phức hợp của xã hội là nguyên nhân chính quan trọng dẫn đến sự có mặt của nhiều hàng hoá có nguồn gốc từ bên ngoài. Kết quả khai quật cho thấy một số ngôi mộ chứa hiện vật có nguồn gốc từ Trung Hoa, Ấn Độ, miền Bắc Việt Nam… phân bố ở nhiều dạng địa hình khác nhau ở cả địa bàn Bắc và Nam của văn hoá Sa Huỳnh. Chính những di vật mang tính biểu thị địa vị, thân phận đã góp phần thúc đẩy phân tầng xã hội trong từng lãnh địa và đặc biệt là sự phân hoá giữa các lãnh địa. Hiện vật nhập khẩu và cùng với chúng là những ý tưởng văn hoá – kỹ thuật đã góp phần tạo ra một số chuyển biến cơ cấu giữa các ngành thủ công và trong mỗi ngành. Tất cả những điều này đã tạo ra những thay đổi trong khai thác tìm kiếm nguyên liệu, tổ chức sản xuất và cách thức phân phối sản phẩm (thiết yếu và xa xỉ) trong từng lãnh địa và giữa các lãnh địa (đoạn 42).

Văn hóa Sa Huỳnh có mối quan hệ giao lưu rất mạnh mẽ với các văn hóa đồng đại trong khu vực. Đến giai đoạn cuối của nền văn hóa Sa Huỳnh (thế kỷ IIBC – thế kỷ IAD) đã có thêm sự tiếp xúc và trao đổi với những vùng xa hơn như Trung Hoa, Ấn Độ, Địa Trung Hải… Ngoài ra những di vật khảo cổ học liên quan đến sự tiếp xúc giữa Miền Trung Việt Nam với thế giới bên ngoài như với Đông Nam Á, Hải đảo, Trung Hoa, Ấn Độ, Địa Trung Hải ngày càng được phát lộ nhiều trong các di tích Sa Huỳnh ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà… Những tiếp xúc và trao đổi giữa Sa Huỳnh – Hán, Sa Huỳnh – Ấn bắt đầu từ giai đoạn giữa của văn hóa Sa Huỳnh (từ thế kỷ IVBC) rồi tăng cường trong giai đoạn cuối và tăng mạnh mẽ từ thế kỷ I, II trước và sau Công nguyên. Chứng cứ về sự tiếp xúc và ảnh hưởng này thường tìm thấy ở địa điểm hay nhóm địa điểm phân bố ven sông lớn, cửa sông ven biển, những địa hình thuận tiện cho việc tiếp xúc và trao đổi kinh tế văn hóa. Có thể thấy rằng, mạng lưới trao đổi và buôn bán nội vùng và liên vùng cùng với buôn bán khoảng cách xa có một vai trò quyết định trong việc tiếp thu, chuyển tiếp và biến đổi những yếu tố văn hoá ngoại sinh trong văn hoá Sa Huỳnh để dẫn đến những thay đổi quan trọng trong quá trình tiến hoá nội tại và thay đổi cấu trúc, quan hệ xã hội (đoạn 42).

     3.2.2. Văn hóa tinh thần

     Đời sống tinh thần của cư dân Sa Huỳnh chủ yếu được biết đến thông qua những táng thức, táng tục và loại hình, chất lượng của đồ chôn theo – do tư liệu liên quan đến cư trú khá hiếm. Cư dân văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu dùng chum vò gốm lớn làm quan tài, chủ yếu chôn thẳng đứng2 bất kể táng thức hoả táng, cải táng, chôn một lần, chôn tượng trưng, chôn đơn hay kết hợp nhiều người, nhiều kiểu táng. Đối với trẻ em thường chôn một lần, chưa rõ có hay không tục cải táng3. Có chum đơn và chum lồng (dạng trong quan, ngoài quách) chôn thành từng cụm, thẳng hàng hoặc ô bàn cờ. Mộ đất ngày càng được nhận diện nhiều hơn trong văn hoá Sa Huỳnh và có mặt cả ở loại hình Sa Huỳnh bắc, Sa Huỳnh nam và Hải đảo. Mặc dù số lượng ít hơn so với loại hình mộ chum nồi, nhưng mộ đất cũng có các tục như hoả táng, hung táng, cải táng, và chôn tượng trưng. Mộ đất thường được cho là do có ảnh hưởng từ văn hóa Đông Sơn, đặc biệt là tỉ lệ mộ đất ở những địa điểm gò Quê hay gò Mả Vôi nơi có nhiều đồ đồng Đông Sơn. Tuy nhiên vấn đề này cũng cần nghiên cứu thêm, ngay trong văn hoá tiền Sa Huỳnh, kiểu chôn mộ đất cũng đã được cư dân thực hành. Tài liệu khảo cổ học ngày càng cho thấy trong một nền văn hoá khảo cổ, một giai đoạn khảo cổ có thể có nhiều cách thức mà con người sử dụng chôn cất người chết vừa đảm bảo tính vệ sinh môi trường, vừa tỏ lòng thương tiếc, thương nhớ, lưu giữ kỷ niệm, và vừa thoả mãn nhu cầu thể diện, thể hiện cũng như đáp ứng những yêu cầu tín ngưỡng, phong tục… Tục sưởi mộ, tục mở cửa sổ quan tài gốm, chôn theo tinh thể thạch anh trừ tà khí, tục làm biến dạng đồ chôn theo… cũng được người Sa Huỳnh thực hành tuy không phổ biến rộng lắm.

     Cư dân Sa Huỳnh ưa chuộng những đồ gốm trang trí màu sắc tương phản, các họa tiết góc cạnh và uốn lượn thường được tổ hợp tạo thành những băng trang trí chạy ngang trên đồ gốm. Kỹ thuật kết hợp này cùng với chia mảng trang trí xen kẽ giữa mảng để trơn miết bóng với mảng tạo hoa văn và tô màu đã tạo ra hiệu ứng ánh sáng đối nhau trên đồ gốm. Trang trí tô màu hầu hết được kết hợp bổ trợ cho các mô típ hoa văn khác, rất ít hoa văn tô màu đơn lẻ. So với đồ gốm của văn hoá Đông Sơn và văn hoá Đồng Nai giai đoạn Phú Hòa thì đồ gốm Sa Huỳnh đa dạng hơn về loại hình và phong phú hơn về trang trí.

     Dựa vào những đồ trang sức tìm thấy chủ yếu trong mộ táng chúng ta có thể thấy cư dân Sa Huỳnh rất ưa chuộng trang trí cơ thể và trang phục bằng những đồ đeo làm từ nhiều chất liệu từ đất nung, xương, sừng, vỏ nhuyễn thể, san hô, đá quý, thuỷ tinh, kim loại… Đồ trang sức, trang trí gồm từ hai nguồn, nguồn sản xuất tại chỗ và nguồn nhập từ bên ngoài. Loại hình gồm có vòng đeo tay, nhẫn, khuyên tai, vật đeo dạng amulet (bùa may mắn), hạt chuỗi, lục lạc… Khuyên tai hai đầu thú4§, khuyên tai ba mấu bằng đá và thuỷ tinh được coi là những loại hình trang sức tiểu biểu và độc đáo của các cộng đồng cư dân Sa Huỳnh. Từ góc độ không gian, khuyên tai ba mấu có diện phân bố rộng, hầu như địa điểm nào cũng tìm thấy, khuyên tai hai đầu thú phân bố ở một diện hẹp hơn, ví dụ như vùng lưu vực sông Thu Bồn cho tới nay chưa tìm thấy bất cứ khuyên tai hai đầu thú nào. Những khác biệt không gian này chưa biết có liên quan gì đến ý nghĩa và giá trị biểu trưng cũng như thẩm mỹ của các nhóm người khác nhau hay không.

     Đồ chôn theo người chết rất đa dạng và phong phú từ nhiều chất liệu, gốm, đá, đá quý, thuỷ tinh, vàng, đồng, sắt… Vào thời kỳ cuối, khi xã hội đạt mức độ phức hợp cao, nhiều khu mộ địa của thương nhân, mộ táng của dòng họ quý tộc, mộ thủ lĩnh đã hình thành, vị thế của người chết được biểu thị qua độ lớn của ngôi mộ (kích thước mộ, kích thước quan tài), số lượng, chất lượng đồ chôn theo (Lâm, 2018).

     3.3. Nguồn gốc và chủ nhân

     3.3.1. Nguồn gốc

     Các loại hình văn hoá Sa Huỳnh bắc và Sa Huỳnh nam hình thành dựa trên những nền tảng văn hoá tiền sử hậu kỳ Đá mới – sơ kỳ Kim khí ngay tại chỗ. Một trong những nguồn sớm nhất đó là nhóm di tích giai đoạn muộn của văn hoá Bàu Tró, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố Bàu Tró tham góp vào sự hình thành văn hoá Sa Huỳnh, theo chúng tôi chủ yếu là loại hình Sa Huỳnh bắc. Những di vật biểu hiện mối quan hệ này là bôn răng trâu, gốm tô màu đỏ và đen (Hà, 1997, tr. 736-739). Với những phát hiện ở cồn Nền và một số địa điểm khác thuộc văn hoá Bàu Tró ở Quảng Bình, chúng tôi cho rằng giai đoạn cực muộn của văn hoá Bàu Tró thực ra đã thuộc phạm trù văn hoá tiền Sa Huỳnh với đầy đủ những đặc trưng về đồ đá đồ gốm và táng thức mộ chum.

      Các nhóm tiền Sa Huỳnh như Bình Châu và Long Thạnh là những nguồn chính tạo nên diện mạo của văn hoá Sa Huỳnh, mặc dù vẫn còn những băn khoăn về trật tự sớm muộn của các nhóm. Những văn hoá tiền Sa Huỳnh này trực tiếp phát triển lên văn hoá Sa Huỳnh bắc, trong khi những địa điểm giai đoạn Bình Châu cho thấy mối liên quan chặt chẽ với thời đại đồ đồng miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn Gò Mun và Đông Sơn sớm thì các địa điểm giai đoạn Long Thạnh với táng thức mộ chum/vò gốm in mép vỏ sò, tô màu đen lại mang nhiều yếu tố hải đảo.

     Văn hoá Xóm Cồn là cơ tầng bản địa chính của văn hoá Sa Huỳnh nam, bên cạnh đó những ảnh hưởng từ bên ngoài đặc biệt là hải đảo ở những thế kỷ sau Công nguyên đã tạo ra một diện mạo văn hoá Sa Huỳnh nam đa dạng và phong phú về táng thức, táng tục hơn so với Sa Huỳnh bắc, và chỉ ở không gian Sa Huỳnh nam truyền thống gốm Sa Huỳnh – Kalanay mới cho thấy những biểu hiện rõ ràng và có lẽ nên xác định lại thuật ngữ này một cách chính xác là truyền thống Hoà Diêm – Kalanay. Cũng cần phải nói thêm rằng giai đoạn muộn của văn hoá Xóm Cồn đã thuộc vào sơ kỳ Đồ sắt, tương đương văn hoá Sa Huỳnh; Những mộ chum ở di chỉ Vĩnh Yên hay dấu vết cư trú giai đoạn muộn ở phức hợp Hoà Diêm cho thấy rõ điều đó.

    3.3.2. Chủ nhân

     Cho đến nay chúng ta có rất ít dữ liệu liên quan đến cổ nhân mặc dù đa số các địa điểm khai quật là mộ táng. Tuy nhiên, do hỏa táng là táng tục phổ biến và do đất cát khô nóng không giúp lưu giữ chất liệu hữu cơ nên di cốt người cổ rất hiếm gặp, đặc biệt là ở loại hình Sa Huỳnh bắc.

     Ngôi mộ song táng một nam và một nữ ở Xóm Ốc, đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) được Nguyễn (2017) nghiên cứu và nhận thấy sọ của người nữ có những nét gần gũi với các sọ nữ người Việt, La Bạc Loan và khác xa với các sọ nữ Tây Úc. Các kích thước của xương hàm dưới và răng cũng chứng minh di cốt này gần gũi với những đại diện Mongoloid. Tư liệu về 13 chiếc răng người trong mộ Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hoà cũng mang đặc trưng của người Mongoloid.

     Tại Hoà Diêm, những di cốt người trong hai loại mộ (mộ đất và mộ chum) ở phức hợp di tích Hoà Diêm nơi mà niên đại AMS hiệu chỉnh cho thấy có bốn giai đoạn, sớm nhất khoảng năm 2,800BP và muộn nhất là năm 100 – 250AD. Mộ chum chứa gốm kiểu Kalanay và gốm màu cam thuộc niên đại muộn nhất, từ thế kỷ II – IIIAD. Một niên đại AMS phân tích từ răng người trong mộ huyệt đất cho kết quả từ năm 200 – 50BC. Dựa vào đó, các nhà nghiên cứu Hoà Diêm cho rằng mộ huyệt đất tồn tại sớm hơn mộ chum có gốm kiểu Kalanay và gốm màu cam (Mariko & ctg., 2012, tr. 73). Những nghiên cứu cổ nhân cho kết quả chủ nhân của mộ đất trước Công nguyên duy trì đặc điểm Gen của tổ tiên bản xứ từ thời hậu kỳ Đá mới trong khi chủ nhân của mộ chum niên đại sau Công nguyên có những nét tương đồng với người Đông Nam Á ngoài đảo. Từ những phân tích về tài liệu cổ nhân học, kết hợp với tài liệu khảo cổ học có thể phác thảo sơ bộ về nguồn gốc của cư dân Hoà Diêm. Nhiều khả năng, người cổ Hoà Diêm là một bộ phận của những người Indonesien bản địa sinh sống dọc Trường Sơn ngay từ hậu kỳ Đá mới rải rác ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, và Lâm Đồng mà các dấu vết còn để lại ở các địa điểm khảo cổ học của vùng này. Khoảng gần năm 3,000BP, họ đã tràn xuống vùng đồng bằng ven biển suốt từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Trong thời gian đó cũng có những nhóm cư dân khác từ Philippin và Indonesia đi vào và thậm chí cả những cư dân bản địa của Đài Loan đi xuống. Sự pha trộn những dòng Gen ở đây là không tránh khỏi, để dần hình thành nhóm cư dân dọc biển miền Trung Việt Nam, trong đó có cư dân cổ Hoà Diêm (Nguyễn & Matsumura, 2014, tr. 155).

     Kết quả phân tích gene cũng khá trùng với kết quả khảo cổ, Hoà Diêm là một phức hợp di tích nhiều giai đoạn, bao gồm cả cư trú và cả nghĩa địa. Lớp cư trú sớm có nhiều đặc điểm của văn hoá Xóm Cồn trước đó, mộ táng gồm mộ đất và mộ chum. Mộ chum giai đoạn muộn cho thấy mối quan hệ chặt chẽ với Kalanay – Tabon Philippin. Ở Hoà Diêm có những nền tảng văn hóa sớm bản địa. Theo kết quả khai quật tháng 8/2011 của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia5 cho thấy cùng những đợt sóng văn hoá từ bên ngoài, Nam Á là nền tảng cùng Nam Đảo đến sau.

     Ở di tích Giồng Phệt, Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh về di cốt có quan hệ gần gũi nhất với sọ người cổ Mongoloid, rồi đến người Myanmar và cũng gần gũi với nhóm loại hình Đông Nam Á của cư dân Đông Sơn. Còn ở Giồng Cá Vồ sọ nữ cho thấy giống những sọ nữ thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á của văn hoá Đông Sơn và với sọ nữ La Bạc Loan (Mongoloid Nam Á) ở huyện Quý, Khu Tự trị Dân tộc Choang (Quảng Tây, Trung Quốc) thuộc giai đoạn sơ kỳ Tây Hán (Nguyễn, 2017, tr. 45). Trong một nghiên cứu của Bellwood (2017, tr. 106) cho thấy rằng, trái ngược với quan điểm chung từ trước tới nay cho rằng Giồng Cá Vồ vốn là cảng biển và liên quan đến cư dân nói tiếng Nam Đảo, những mẫu nghiên cứu lại cho thấy mối liên hệ với Đông Á lục địa hơn là Đông Nam Á hải đảo. Tuy nhiên, do số lượng mẫu hạn chế và tinh chất cảng biển có nhiều nhóm dân cư, thương nhân bên ngoài, cư dân địa phương nên kết quả mẫu ở Giồng Cá Vồ nói trên có thể giải thích được.

4. Kết luận

     Sau 110 năm phát hiện và nghiên cứu, có thể điểm lại những thành tựu và vấn đề chính đạt được và nảy sinh trong nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh dưới đây:

Xác định rõ không gian phân bố của văn hoá Sa Huỳnh đồng thời nhận diện các loại hình khu vực của văn hoá Sa Huỳnh. Trong những nghiên cứu này bên cạnh nhận diện di tích và di vật theo các phương pháp truyền thống đã áp dụng thêm nhiều cách tiếp cận của khảo cổ học môi trường, khảo cổ học kỹ thuật, khảo cổ học mộ táng và cái chết, khảo cổ học thương mại… để xác lập được “bản đồ phân bố của văn hóa Sa Huỳnh, không gian phân bố của văn hóa Sa Huỳnh được mở rộng theo cả hai chiều Bắc – Nam, Đông – Tây” (Lâm, 2009b, đoạn 3), khái niệm “Bức khảm văn hoá Sa Huỳnh” được đưa ra với hàm ý tính đa dạng, đa sắc về cả tự nhiên, về cả văn hoá nhưng vẫn thống nhất trong những khía cạnh chính (Lâm, 2018);

Làm rõ nguồn gốc của văn hoá Sa Huỳnh, đánh giá vai trò của những nguồn văn hoá bản địa như nền tảng cơ bản hình thành văn hoá này trong lúc xác định vai trò thúc đẩy của những yếu tố ngoại sinh và đặt văn hoá Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á theo cả hai chiều kích lịch đại và đồng đại. “Nguồn gốc văn hóa Sa Huỳnh được xác định theo diễn tiến tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh, văn hóa Sa Huỳnh được xác định qua những chứng cứ xác thực có nguồn gốc nội sinh từ hợp nguồn của các dòng chảy văn hóa hậu kỳ Đá mới – sơ kỳ Kim khí” (Lâm, 2009b, đoạn 4) (văn hoá Bàu Tró ở bắc Trung Bộ, Long Thạnh – Bình Châu ở trung Trung Bộ, văn hoá Xóm Cồn ở nam Trung Bộ…), tính đa dạng của văn hoá Sa Huỳnh bắt nguồn từ đây;

Dựa vào kết quả khai quật trên diện rộng và hệ thống một số địa điểm văn hoá Sa Huỳnh như Bãi Cọi (Hà Tĩnh); Cồn Ràng (Huế), gò Mả Vôi, Lai Nghi, Hậu Xá, Bình Yên, Đại Lãnh… (Quảng Nam), gò Quê, Bình Châu II, Xóm Ốc… (Quảng Ngãi); Động Cườm (Bình Định); Hoà Diêm (Khánh Hòa); Phú Trường (Bình Thuận)… nhiều vấn đề của văn hoá Sa Huỳnh như cơ cấu kinh tế, tổ chức xã hội, ngành nghề thủ công, đời sống tinh thần, quan hệ giao lưu kinh tế văn hoá… dần được làm sáng tỏ. Trong giai đoạn này những nghiên cứu được công bố dưới nhiều dạng khác nhau như báo cáo khoa học, trong các thông báo khoa học, bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, một số đề tài dự án liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh, đặc biệt là một số cuộc hội thảo mang tính quốc gia về văn hóa Sa Huỳnh, như: Hội thảo “90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh” được tổ chức ở Hà Nội năm 1999, Hội thảo “100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh” tổ chức ở Quảng Ngãi năm 2009, một số cuộc hội thảo về văn hóa Sa Huỳnh ở địa phương như ở Hội An năm 2004… các vấn đề nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh ngày càng sáng tỏ (Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia Việt Nam, 2014; Hoàng, 2015; Lâm, 2018; Nguyễn, 2017; Nguyễn & Matsumura, 2014; & Vũ, 1991).

     Vấn đề đặt ra là, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh nói chung còn nhiều vấn đề hạn chế đó là nhiều nguồn tư liệu chưa được khai thác hết, nhiều vấn đề được nghiên cứu chuyên sâu song nhiều khía cạnh vẫn chưa được khai thác bởi những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan. Bên cạnh đó, ngoài những tư liệu đã công bố thì việc so sánh đối chiếu với những tư liệu hiện vật được lưu giữ tại các địa phương còn nhiều khó khăn. Việc áp dụng những phương pháp khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên trong phân tích di vật còn rất khiêm tốn, văn hoá Sa Huỳnh không phải lúc nào cũng được đặt trong bối cảnh của khu vực để thấy được những nét chung và riêng, tiếp cận từ góc độ lịch sử ngôn ngữ, nhân chủng và môi trường cổ… Những hạn chế trên một phần do tư liệu không có và một phần do chưa thấy được sự cần thiết của tiếp cận liên ngành, niên đại tuyệt đối của văn hoá Sa Huỳnh cũng chưa phải đã được quan tâm đúng mức. Nhiều địa điểm chỉ được xác định niên đại dựa vào so sánh loại hình di vật, nhiều khu mộ táng không thể xác định được giai đoạn sớm  muộn của các mộ táng hay di tích cư trú của cư dân Sa Huỳnh cũng chưa được nghiên cứu hệ thống… Vì vậy, còn nhiều vấn đề được đặt ra và cần giải quyết, cũng như công việc tìm kiếm những phát hiện mới và những nhận thức mới cũng là một nhiệm vụ quan trọng cho nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh hiện nay.

__________
2 Ở bãi Cọi có hiện tượng chôn chum nằm ngang.

3 Có người nghiên cứu cho rằng không có tục hoả táng trẻ em, tuy nhiên việc phân tích giới tính, lứa tuổi… đối với tàn tích hoả táng chưa bao giờ được tiến hành, do vậy khó mà đưa ra được kết luận cuối cùng về chủ đề này.

4 Có người gọi là bùa đeo hay vật đeo.

5 Có ba nhóm mộ với các đặc trưng cơ bản khác nhau, thuộc các giai đoạn từ sớm đến muộn. Nhóm mộ sớm nhất (hai mộ chum), chôn vào sinh thổ, không có đồ tuỳ táng, chất liệu, màu sắc và loại hình chum gốm rất độc đáo và cơ bản khác biệt so với các mộ còn lại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bellwood, P. (2017). First islanders: Prehistory and human migration in island southeast Asia. Hoboken, USA: Wiley-Blackwell.

Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia Việt Nam. (2014). Di tích Bãi Cọi, Hà Tĩnh, Việt Nam. Trong Báo cáo hợp tác nghiên cứu học thuật Hàn Việt (Quyển 3). Hà Nội, Việt Nam: Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia Việt Nam.

Chử, V. T. (2004). Văn hoá Sa Huỳnh – Nhìn lại 10 thập kỷ phát hiện và nghiên cứu. Trong Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam (Tập 1). Hà Nội, Việt Nam: NXB. Khoa học Xã hội.

Francis, P. (2004). Some notes on beads in Vietnam. Retrieved from
http://www.thebeadsite.com/SEAC1-03.html

Hà, V. T. (1994). Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Khoa học Xã hội.

Hà, V. T. (1997). Theo dấu các văn hoá cổ. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Khoa học Xã hội.

Hán, V. K., Hoàng, V. K., Lâm, T. M. D., Nguyễn, X. M., Nguyễn, C., & Nguyễn, K. S.(2009). Cơ sở khảo cổ học. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội.

Hoàng, T. Q. (2008). Đồ gốm trong văn hoá Sa Huỳnh. (Luận văn Thạc sĩ), Viện Khảo cổ học, Việt Nam.

Hoàng, T. Q. (2015). Kỹ thuật chế tác đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh. (Luận án Tiến sĩ), Viện Khảo cổ học, Việt Nam.

Lâm, T. M. D. (2003). Về truyền thống mộ chum. Tạp chí Khảo cổ học, (2), 48-59.

Lâm, T. M. D. (2007). Văn hóa Sa Huỳnh từ những phát hiện và nghiên cứu mới. Bài báo được trình bày tại Hội thảo Quốc tế “100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh”, Quảng Ngãi, Việt Nam.

Lâm, T. M. D. (2008). Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang Sơ kỳ Lịch sử ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam. (Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Đại học Quốc gia, Mã số ĐTT Đ 06.07). Hà Nội, Việt Nam: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Lam, T. M. D. (2009). Sa Huynh regional and inter-regional interactions in the Thu Bon valley, Quangnam province, central Vietnam. BIPPA (Indo – Pacific Prehistory Association Bulletin), 29, 68-75.

Lâm, T. M. D. (2009). Văn hóa Sa Huỳnh. Được trích lục từ
http://dzunglam.blogspot.com/2009/07/van-hoa-sahuynh.html

Lâm, T. M. D. (2009c). Tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học mộ táng. Được truy
lục từ
http://dzunglam.blogspot.com/2009/10/tiep-can-khao-co-hoc-xa-hoi-vakhao-co.html.

Lâm, T. M. D. (2013). Bối cảnh Đông Nam Á thời tiền sử. Được truy lục từ

Lâm, T. M. D. (2018). Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Champa thế kỷ V TCN đến thế kỷ V CN. Trong Một số vấn đề khảo cổ học. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Thế giới.

Lê, B. T. (1998). Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Thế giới.

Mariko, A., Bùi, C. H., Nguyễn, K. D., Nguyễn, K. T. K., Đặng, N. K., Kanji, T.,

Shinya, W., Tomomi, S., Emiri, M., Ayako, I. (2012). Báo cáo khai quật di chỉ khảo cổ học Hoà Diêm (Khánh Hoà, Việt Nam). Institute of International Culture Bulletin, (17), 73.

Nguyễn, L. C., & Matsumura, H. (2014). Nghiên cứu những di cốt người cổ di chỉ khảo cổ học Hoà Diêm, Khánh Hoà. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Văn hóa Thông tin.

Nguyễn, L. C. (2017). Những phát hiện về di cốt người cổ trên đảo và ven bờ biển Việt Nam. Trong L. T. M. Dung & Đ. H. Sơn, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Khảo cổ học Biển Đảo Việt Nam, Tiềm năng và Triển vọng”. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nguyễn, K. D. (2017). Đồ trang sức cổ văn hoá Sa Huỳnh. Hà Nội, Việt Nam: NAFOSTED.

Solheim, W. G. (1959). Sa Huynh pottery relationships in Southeast Asia. Asian Prespectives, 102(2), 47-50.

Vũ, Q. H. (1996). Văn hoá Xóm Cồn và vị trí của nó trong thời đại Kim khí ven biển miền Trung. (Luận án Phó Tiến sỹ), Viện Khảo cổ học, Việt Nam.

Vũ, C. Q. (1991). Văn hóa Sa Huỳnh. Hà Nội, Việt Nam: NXB. Văn hóa Dân tộc.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt, Tập 9, Số 3, 2019 75–97

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)