Tổ chức đời sống xã hội của người Mường: Từ truyền thống đến hiện đại

SOCIAL SYSTEM OF THE MUONG PEOPLE: FROM TRADITION TO MODERN

Tác giả bài viết: Nghiên cứu sinh K2009 NGUYỄN THỊ HẰNG
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn)

TÓM TẮT

     Tổ chức xã hội Mường có thể phân thành ba giai đoạn: (1) Giai đoạn 1: Tổ chức xã hội cổ truyền Mường trước năm 1945; (2) Giai đoạn 2: Tổ chức xã hội Mường sau năm 1945 đến trước Đổi mới (trước1986); (3) Giai đoạn 3: Tổ chức xã hội Mường hiện nay (sau năm 1986). Mỗi giai đoạn thể hiện những khác biệt điển hình về cơ cấu tổ chức xã hội, kéo theo sự thay đổi về các mối quan hệ xã hội trong đó. Bằng phương pháp phân tích tài liệu, so sánh và điền dã dân tộc học, tác giả đã tổng hợp một cách có hệ thống về tổ chức đời sống xã hội của người Mường thông qua từng giai đoạn lịch sử, qua đó tác giả làm nổi bật các mối quan hệ xã hội đặc trưng trong từng hình thái tổ chức đời sống xã hội.

Từ khóa: Tổ chức xã hội, Lang Đạo, Mường, ruộng đất.

ABSTRACT

     Social system of the Muong forms and develops in parallel with the social organizations of Vietnam and there are many similarities. Along with the social-economic development, Muong social society system also have many great changes. There are some studies that described the Muong traditional society. However, no study has described for the transformation of Muong society from tradition to contemporary. Through document analysis method, the author compilesand analyzes systematically Muong society system through each historical period.

Keywords: Social system, Lang Đạo, Mường, land.

x
x x

1. Mở đầu

     Tổ chức xã hội của người Mường hình thành và phát triển song song với tổ chức xã hội của người Việt và có nhiều điểm tương đồng. Cùng với sự phát triển, biến đổi của nền kinh tế-xã hội, tổ chức xã hội Mường cũng có nhiều biến đổi lớn lao. Về vấn đề này, đã có một số nghiên cứu mô tả về xã hội Mường truyền thống như công trình Xã hội và ruộng đất ở vùng Mường trước cách mạng Tháng Tám của tác giả Mạc Đường [3]; Người Mường ở Hòa Bình của Giáo sư Từ Chi [7] và một nghiên cứu trường hợp về biến đổi tổ chức xã hội Mường ở vùng Thanh Sơn – Phú Thọ [6]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào mô tả một cách hệ thống về sự biến đổi về tổ chức xã hội Mường từ truyền thống đến hiện đại. Bài viết này tập trung khái quát những đặc trưng cơ bản của xã hội Mường qua từng giai đoạn cụ thể thông qua nghiên cứu để tổ chức xã hội tại bốn vùng trung tâm của người Mường tại tỉnh Hòa Bình, đó là vùng Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động.

2. Nội dung nghiên cứu

     2.1. Tổ chức xã hội cổ truyền Mường trước năm 1945

     Xã hội cổ truyền của người Mường trước năm 1945 là chế độ Lang Đạo, được tổ chức theo kiểu hình chóp, giống như một xã hội phong kiến thu nhỏ với sự phân hóa giai cấp khá rõ nét. Mỗi dòng họ nhà Lang tự phân biệt với các dòng họ khác không chỉ bằng Mường họ chiếm lĩnh mà còn bằng tên họ. Các dòng họ quý tộc gồm Đinh, Quách, Bạch, Hà, chia nhau cai quản các vùng Mường và nắm trong tay quyền phân phối ruộng đất. Còn tầng lớp bị trị thường có chung một tên họ gọi là Bùi. Quan hệ giữa người với người trong xã hội cổ truyền Mường chủ yếu là quan hệ giữa Nhà Lang với thuộc dân. Đó là mối quan hệ chủ yếu có giá trị chi phối các mối quan hệ khác.

     Đứng đầu mỗi mường là một Lang Cun. Lang Cun là con cả trong chi nhánh cả của dòng họ quý tộc nhà Lang. Với tư cách là người kế thừa của người Khai Khẩn – hoặc chính là người Khai Khẩn (người đến trước) một vùng đất Mường cho nên chính là vị chúa đất tối cao của một vùng Mường, đồng thời cũng là người có quyền hưởng thụ (tức là quyền sở hữu ruộng đất). Lang Cun như ông vua con, theo tục cha truyền con nối. Khi Lang chết, con trưởng thay thế, nếu Lang không có con trai, có khi vợ Lang được nắm quyền điều hành, dân dù giỏi đến đâu cũng không thể trở thành nhà Lang. “Xã hội Mường cổ truyền Hòa Bình có thể được xem là kết quả tập hợp của nhiều đẳng cấp, trong chừng mực mà số phận xã hội của từng cá nhân, dù nam hay nữ, lại phụ thuộc vào dòng họ của người ấy”; vị trí thống trị và bị trị “bị bám chặt và dòng họ của các cá nhân,. . . thân phận của từng người được áp đặt bằng đường cha truyền con nối” [7].

     Lang Cun cũng chính là người thờ cúng Thần Hoàng. Tổ tiên của Lang Cun với tư cách là Thần Hoàng, được coi là tổ tiên của tất cả dân Mường. Cho nên vai trò trưởng họ của người con cháu (thừa kế) của Lang Cun, được tất cả mọi người trong mường thừa nhận. Người ta coi toàn bộ đất đai trong mường chỉ là sự mở rộng đất đai của Lang Cun mà thôi. Người trong Mường phải có nghĩa vụ vâng lời và tôn kính Lang Cun, đồng thời cũng có quyền đòi hỏi từ Lang Cun sự che chở và giúp đỡ.

     Chức nhỏ hơn thuộc về chi thứ của dòng tộc quan Lang, gọi là Lang Đạo. Quan Lang Cun sẽ chia cho các Lang Đạo cai quản các mường nhỏ trong vùng của mình. Mọi công việc quản lí trong làng, Lang Đạo đều phải xin ý kiến của Lang Cun. Hàng năm, Lang Đạo phải có đóng góp lễ vật cho Lang Cun. Khi bố mẹ Lang Cun chết, Lang Đạo cũng phải chịu tang như bố mẹ mình. Các dòng tộc quan Lang chia nhau cai quản xứ Mường, người Mường gọi là “ăn lang”.

     Trong tầng lớp dưới gồm những người dân, có một số gia đình giúp việc cho nhà Lang, gọi là Ậu. Ngày xưa, giúp việc cho nhà Lang (Ậu) thì không có bổng lộc gì, không có lương, mà được Lang phân cho ruộng, thường là phần ruộng tốt. Dân phải khai hoang, vỡ hóa, phải nộp tô thuế, còn Ậu thì không phải nộp tô thuế. Ậu lo thu thóc, bắt phu phen, cúng bái, ma chay, đốc thúc dân thường làm ruộng.

     Tầng lớp thấp nhất của xã hội Mường cổ truyền là dân thường, gọi là Nhà Nóc. Còn Nóc trọi là dân ngụ cư, thường không có ruộng, rất nghèo đói.

     Có thể nói, quan hệ xã hội giữa Nhà Lang và thuộc dân, nói khác đi là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị là mối quan hệ điển hình trong xã hội Mường cổ truyền.

     Về quyền sở hữu ruộng đất, tất cả ruộng đất trên đất Mường đều là ruộng đất của nhà Lang. Ruộng đất nhà Lang được chia thành hai loại: Ruộng đất tập đoàn (nhiều người làm, gọi là Xâu) và ruộng đất cá thể khoán cho các nhà dân (Nõ). Đối với cả hai loại ruộng này, dân thường đều có trách nhiệm đóng góp sức lao động và nộp tô thuế. Mặc dù xuất thân từ tầng lớp dân nhưng các Ậu không bị ràng buộc vào việc làm Xâu và Nõ. Trong việc canh tác ruộng Xâu và Nõ thì sức kéo để canh tác và công cụ như cày bừa, trâu bò đều do Ậu Chấu Kho và dân Mường tự lo, còn lúa giống thì Nhà Lang bỏ ra.

     Về làm Xâu, Ậu Chấu Kho có thể đòi hỏi các Nhà Nóc làm. Mỗi nhà cử một người làm và những người này phải cùng làm các công việc đồng áng từ đầu cho đến cuối trên các thửa ruộng Xâu. Ậu Chấu Kho phải có mặt để kiểm soát sao cho lao động các Nhà nóc trên ruộng Xâu được đồng đều và công bằng. Sự khác biệt giữa Xâu và Nõ không phải chỉ ở hình thức lao động. Sự khác biệt này còn có tính chất đặc thù của chế độ Nhà Lang. Xâu là đặc quyền của Lang Cun. Chỉ có Lang Cun mới có quyền cắt cử người làm Xâu. Lang Cun có quyền hưởng cả ruộng Xâu và ruộng Nõ. Còn Lang Đạo chỉ có quyền hưởng ruộng Nõ mà thôi.

     Ngoài các tầng lớp kể trên, còn có người hầu. Người hầu là người ở tại Nhà Lang, kể cả Lang Cun và Lang Đạo. Hoặc do bố mẹ phải bán con cho Nhà Lang, hoặc họ bị bố mẹ gán nợ cho Nhà Lang. Người hầu được Lang nuôi cho ăn mặc nhưng phải làm việc không công trong nhà và ngoài đồng. Con hầu đến tuổi trưởng thành có thể lấy vợ lấy chồng. Người vợ hay người chồng ấy thường là con nhà Nóc Trọi. Nhà Lang còn cho họ niêu, bát đĩa,. . . để họ có thể có một cuộc sống riêng tối thiểu, ở một túp lều nhỏ, không xa nhà chủ. Người hầu dường như sẽ quen dần với kiếp sống phụ thuộc và hầu hạ nhà chủ, sống lâu dần trở thành thành viên trong gia đình nhà chủ. Người hầu không hợp thành một tầng lớp xã hội riêng, chính vì thế mà việc bóc lột không công sức lao động của con hầu trở thành đặc quyền của chế độ Nhà Lang.

     Mối quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị trong xã hội cổ truyền Mường là mối quan hệ qua lại. Trong quan hệ giữa Nhà Lang với thuộc dân ở trong Mường thì Nhà Lang phải có ba nghĩa vụ: (1) Bảo vệ, chăm sóc thuộc dân của mình; (2) Cho dân vay mượn những thứ mà họ thiếu; (3) Xét xử công lí cho họ.

     Nhiệm vụ đầu tiên của Nhà Lang trong việc tổ chức mường xóm là đảm bảo việc điều tra, canh phòng, căn cứ tuần đinh gác đêm, kiểm soát các việc để Chiềng-mường không xảy ra trộm cắp, bảo vệ cho khách đến mường và khách qua mường không bị cướp giật, v.v.

     Nhiệm vụ cho vay là nhiệm vụ có vẻ bền bỉ nhất trong quan hệ giữa Nhà Lang với thuộc dân. Nhà Lang không thể chối từ dân đến vay trong khi đói giáp hạt mà Kho của Nhà Lang vẫn còn lúa từ vụ trước, kể cả ai đó không có trâu để cày phần ruộng của mình, Nhà Lang cũng phải cho mượn. Việc cho mượn trâu có khi chỉ có ý nghĩa tượng trưng, vì nông dân chính là người hàng ngày chăn dắt trâu bò cho Nhà Lang, họ có thể dùng chúng để kéo cày, giống như thể chúng là của họ vậy. Tuy nhiên, có lời nói Nhà Lang hay “có lời với nhau” trong các trường hợp tương tự chính là tập quán trong mường vậy. Đàn gia súc sinh sôi tản mát có khi chính Nhà Lang cũng không kiểm soát nổi, nhưng về nguyên tắc, nó vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà Lang.

     Người dân trong mường thường nghĩ rằng việc xin Nhà Lang một cây gỗ to trong rừng của Nhà Lang để làm quan tài cho người chết là một việc đương nhiên và Nhà Lang cũng có nghĩa vụ phải cho người chết một cái cây như vậy. Đây là một cái quan tài kiểu cổ, truyền thống của người Mường. Cái quan tài đó là thường là một khúc gỗ to dài chừng 2,4m trở lên, đường kính từ 90cm trở lên. Người ta bổ đôi khúc gỗ tròn, khoét rỗng bên trong và úp lại, sao cho đủ đựng xác người chết (tính là người cao lớn nhất và các đồ tuỳ táng).

     Quan hệ giữa người với người trong xã hội Mường cổ truyền, kể cả các quan hệ về lao động, là quan hệ đẳng cấp. Nhưng Nhà Lang cố giữ quan hệ đẳng cấp này ở mức độ quan hệ gia trưởng và Nhà Lang cũng cố gắng làm gương trong các trường hợp cụ thể, làm sao cho dân yên lòng, không bức xúc đến mức muốn nổi loạn – cũng là một cách để bảo vệ chế độ Nhà Lang. Thỉnh thoảng Nhà Lang cũng tạo ra không khí dân chủ bằng cách cho phép dân ép rượu cần đối với mình. Trong dịp Tết làng, Nhà Lang còn lắng nghe dân Mường nói lên những ý nghĩa thực của họ trong đó có cả những lời phên phán cách cai trị của Nhà Lang.

     Có thể nói, chế độ Lang Đạo của dân tộc Mường đã thực sự gây cho xã hội Mường sự phân biệt đẳng cấp sâu sắc giữa tầng lớp Lang Đạo và tầng lớp nhân dân thường. Sự phân biệt này ngoài mối quan hệ sản xuất đã nêu ở trên còn thể hiện trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống như là nhà dân không được to hơn nhà Lang; đàn bà con gái dân thường không được mặc váy có thêu hình con rồng hay mặc váy chấm gót như vợ Lang; nhân dân trong Mường phải luôn nghe lời và phục dịch, cúng lễ nhà Lang. Nhiều tục lệ thể hiện sự phân biệt đẳng cấp sâu sắc cũng đã được hình thành từ đây, cụ thể như:

     – Trâu nộp vai, nai nộp đùi: Nếu người dân trong làng có việc phải mổ trâu, bò, lợn, đều phải biếu nhà Lang một vai hoặc một đùi.

     – Phục vụ nhà Lang: nếu nhà Lang có đám cưới hay ma chay, dân trong Mường đều phải đến giúp. Nếu nhà Lang xây nhà mới thì mỗi nhà trong Mường tự giác mang tre, nứa, lá cọ đến nộp. Khi nhà Lang đến dự đám cưới hoặc dự tổ chức mừng nhà mới của người dân trong Mường, thì người dân phải biếu nhà Lang 2kg thịt lợn hoặc 1 con gà, 1 chai rượu).

     – Dân không được phép lấy con gái nhà Lang: Ngược lại, Lang vẫn được lấy con gái dân, nhưng chỉ được làm vợ lẽ dù cưới trước. Vợ cả thuộc dòng họ nhà Lang. Dân phải đóng góp mọi thứ trong thời kì cưới xin của Lang.

     Cho đến ngày nay, người Mường vẫn chịu một chút ảnh hưởng của chế độ Lang Đạo xưa kia, qua thói quen kính trọng những người thuộc dòng dõi nhà Lang.

     Có thể khẳng định rằng, nổi bật trên hết của mối quan hệ và tính cố kết cộng đồng của người Mường trong xã hội truyền thống là quan hệ giữa dân Mường và Nhà Lang. Sự cố kết cộng đồng này đã tồn tại gắn liền với chế độ chính trị làm nên sự bền vững, khó lung lay của các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng người Mường cổ truyền. Cơ sở của các mối quan hệ này là quyền chiếm hữu ruộng đất, có nghĩa rằng, tính cố kết cộng đồng lúc này đã được thiết chế hóa với các mối quan hệ điển hình giữa giai cấp thống trị và giai cấp bóc lột. Do đó, khi phân tích về tính cố kết cộng đồng của xã hội Mường, người ta không thể tách rời khỏi chế độ chính trị của nó.

     Song song với sự chi phối các quan hệ xã hội của chế độ Lang Đạo, trong đời sống nói chung, trong hoạt động sản xuất nói riêng, người Mường có truyền thống đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau. Tính cố kết cộng đồng thông qua hoạt động sản xuất của người Mường đã trở thành nguồn sức mạnh, nó nâng đỡ con người trong hoàn cảnh khó khăn như đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, chống lại kẻ thù, .v.v. Nó được cụ thể hóa thành truyền thống hợp tác, tương trợ, liên kết trong lao động sản xuất giữa những người trong cùng dòng họ, thân tộc, làng xóm láng giềng, và hơn nữa, mặc dù không phải thân tộc, láng giềng, nhưng người Mường có một ý thức tương trợ, hỗ trợ, bảo vệ nhau rất lớn giữa những người Mường với nhau.

     Một già làng ở Mường Vang (Lạc Sơn – Hòa Bình) cho biết: “Mỗi khi mùa vụ đến, người Mường thường hay cấy đổi công hoặc làm giúp nhau và họ thường được “lấy công” bằng một bữa cơm hoặc thậm chí không lấy gì cả mà người ta gọi là “ăn bữa cơm tình cảm”, không tính toán thiệt hơn. Bởi họ luôn ý thức rằng sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những người Mường trong cộng đồng là tất yếu, lúc người khác cần thì họ giúp và khi mình cần thì người khác lại đến giúp” (Nữ, 50 tuổi, nông dân).

     Hình thức giúp đỡ này hoàn toàn mang tính tự nguyện không phải áp lực từ cộng đồng hay dư luận xã hội. Việc đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau thường dựa trên một số cơ sở như quan hệ thân tộc, láng giềng, ở gần nhà nhau, nhưng thậm chí giữa làng này và làng khác.

     2.2. Tổ chức xã hội Mường sau năm 1945 đến trước Thời kì Đổi mới 1986

     Xã hội Mường sau năm 1945 không còn chế độ Lang Cun mà thay vào đó là các hình thức hợp tác hóa nông nghiệp, tự túc tự cấp và khép kín. Theo đó, ruộng đất, trâu bò và các loại công cụ sản xuất đều thuộc hợp tác xã, tài sản chung của tập thể. Các hộ gia đình đi làm theo tiếng kẻng và sự phân công của đội trưởng đội sản xuất. Lúc này, xã hội làng bản được chính trị hóa cao độ. Vai trò của chi bộ Đảng, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Ban Chủ nhiệm hợp tác xã nổi bật lên, chi phối toàn bộ đời sống cùng làng bản. Các quan hệ gia đình, nhất là quan hệ dòng họ vốn rất nổi bật trong xã hội truyền thống, bị chìm lấp đi khá nhiều. Thậm chí, việc hôn nhân trước đây hoàn toàn lệ thuộc vào gia đình, dòng họ, thì đến thời bao cấp, các đoàn thể lại giữ vai trò rất lớn, nếu không nói là quyết định.

     Nhìn chung, hình thức kinh tế hợp tác xã tự túc tự cấp và khép kín đã tiếp tục phát huy tinh thần truyền thống là sự tương trợ, gắn kết giúp đỡ lẫn nhau – lá lành đùm lá rách – không chỉ trong lao động sản xuất, mà cả trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Hợp tác xã cũng là một dạng thức tổ chức xã hội mang tính cộng đồng, thậm chí là dạng thức cộng đồng triệt để nhất (tất cả ruộng đất, trâu bò, công cụ đều là của chung, lao động thì tuân theo một kế hoạch thống nhất từ Ban Quản trị Hợp tác xã, người nông dân được chuyên môn hóa – trong các tổ cấy, tổ cày, tổ chăn nuôi – giống như người công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp đã công nghiệp hóa cao độ). Có điều, tính cộng đồng trong làng bản xưa là tính cộng đồng xuất phát từ tinh thần tự nguyện, còn tính cộng đồng của hợp tác xã là tính cộng đồng được tổ chức theo yêu cầu của chính trị, trong đó không tránh khỏi có phần ép buộc. Cách tổ chức cộng đồng làng bản trong các hợp tác xã đã giúp động viên được sức người sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà kết quả là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

     2.3. Tổ chức xã hội Mường từ khi Đổi mới đến nay

     Vào những năm đầu của thập kỉ 90 của thế kỉ XX, khi các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bị giải thể, cùng với phong trào chung trong cả nước và lập lại chức trưởng thôn, thì ở miền núi cũng tái lập lại chức trưởng bản mà trong thời kì bao cấp đã bị xoá bỏ. Với hệ thống chính trị 4 cấp ở ta là trung ương, tỉnh, huyện và xã thì cấp thôn trong thực tế là “cánh tay nối dài” của nhà nước xuống đến các đơn vị xã hội cơ sở là làng (ở miền xuôi) và thôn bản ở miền núi. Bên cạnh các chi bộ Đảng, các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu Chiến binh, trưởng bản không chỉ có nhiệm vụ quản lí nhân khẩu mà còn là người thường xuyên phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến từng hộ dân.

     Thông thường, trưởng bản phải là người có học vấn tương đối cao, làm ăn giỏi, có uy tín với bà con, còn ở các bản Mường, đôi khi trưởng bản cũng là tộc trưởng của các dòng họ lớn. Trưởng bản là người sinh ra và lớn lên ngay trong bản, lại được dân tín nhiệm bầu lên, nên họ hiểu và gần dân hơn cả. Nhiều bản Mường cách xa Uỷ ban Nhân dân xã, vì vậy, từ khi có các trưởng bản thì quan hệ giữa người dân và chính quyền trở nên gần gũi và thân thiết hơn nhiều. Cần nói thêm là, trong thời kì này, các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng không can thiệp vào việc hôn nhân – gia đình so với thời bao cấp – nghĩa là quan hệ xã hội trong các bản làng ngày càng tự do, dân chủ hơn.

     Sự tham gia của khoa học – kĩ thuật và phương tiện sản xuất là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc giảm tính cố kết cộng đồng ở khía cạnh kinh tế. Đổi công, làm giúp vốn rất phổ biến trong xã hội Mường truyền thống thì nay chỉ còn rất ít, hoặc chuyển qua hình thức thuê mướn. Với sự xuất hiện nhiều máy móc sản xuất giúp tiết kiệm sức người đã giúp giải phóng sức lao động, làm giảm nhu cầu lao động chân tay. Theo đó, tính cố kết cộng đồng ở đây dường như dần được chuyển sang hình thức khác, như hình thức liên kết mua chung máy móc sản xuất (như máy cày, máy bừa, mua chung máy xay xát, v.v.).

     “Bây giờ bà con trong làng cũng ít làm nông nghiệp, họ dành thời gian để làm các việc bên ngoài cho thu nhập cao hơn. Máy móc bây giờ cũng làm thay người hết rồi, bà con trong làng chung nhau mua máy để làm cho đỡ vất vả. Nếu nhà ai thiếu người cấy thì lại phải thuê với giá cao” (Nam, 65 tuổi, nông dân, Mường Động).

     Nhìn chung, tính cố kết cộng đồng của người Mường ngày nay đã có những thay đổi lớn, chuyển qua hình thức cố kết mới kể từ khi chính sách Đổi mới được thực hiện. Tuy nhiên, những giá trị cơ bản vẫn được duy trì, tiêu biểu như tinh thần đoàn kết, thương yêu giúp đỡ, tôn trọng nhau, kính già yêu trẻ, tôn trọng các giá trị gia đình,.v.v. Xã hội Mường ngày nay vẫn là một tổ chức quy củ với những vị trí, cấp bậc khác nhau. Tầng lớp được kính trọng nhất là thầy cúng, thầy mo và các cụ lớn tuổi, đây được coi là những con người còn giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống của dân tộc.

     Tâm lí “một người làm quan, cả họ được nhờ”, “phép vua thua lệ làng” giống như người Việt dần được xoá bỏ và thay vào đó là ý thức cùng nhau xây dựng gia đình, làng xóm văn hóa.

     Ý thức cộng đồng của người Mường ngày nay đã vượt khỏi phạm vi ý thức cộng đồng làng xã, trong ý thức cộng đồng dân tộc bao gồm cả ý thức cộng đồng nhân loại. Rất nhiều những hoạt động chung tay vì cộng đồng được con người hưởng ứng, không chỉ trên phạm vi một tổ chức mà trên phạm vi quốc gia thậm chí quốc tế. Chẳng hạn, như các hoạt động hiến máu nhân đạo, hoạt động quyên góp vì người nghèo; ủng hộ đồng bào bão lụt, sóng thần; ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; hoạt động vì môi trường xanh sạch đẹp, hay những hoạt động chung tay chống lại đại dịch HIV-AIDS, ma tuý,.v.v.

3. Kết luận

     Có thể nói, trong thời kì Đổi mới, tổ chức đời sống xã hội đã có nhiều biến đổi trên tất cả các phương diện: quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ giới và quan hệ giữa các thế hệ già và trẻ, v.v. Ngày nay, người Mường được giải phóng khỏi chế độ Lang Cun và những hạn chế của chế độ quan liêu bao cấp vốn chỉ phù hợp với thời chiến, họ được tự do canh tác trên mảnh ruộng của mình, không còn bị bóc lột, đồng thời họ được nhà nước giúp đỡ, tạo điều kiện cho vay vốn, hỗ trợ kĩ thuật sản xuất kinh doanh nên đời sống của người Mường ngày nay đã khá hơn rất nhiều so với trước kia. Dù chế độ Lang Đạo không còn, nhưng những nét văn hoá tốt đẹp vẫn được thế hệ con cháu dân tộc Mường gìn giữ và bảo tồn.

     Ở cấp làng bản, di sản quan trọng nhất trong quan hệ giữa người với người vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay là tinh thần cộng đồng, “lá lành đùm lá rách”. Trong thời bao cấp, hợp tác xã cũng là một dạng của tổ chức cộng đồng ở nông thôn, kể cả nông thôn miền núi. Chỉ có điều tính cộng đồng xưa mang tính tự nguyện và xuất phát từ những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, còn tổ chức cộng đồng thời kì hợp tác xã bao cấp là có chỉ đạo, duy ý chí, nhiều khi mang tính ép buộc. Đến thời kì Đổi mới, quan hệ xã hội nơi làng bản đã có sự biến đổi trên tất cả các phương diện: từ các lĩnh vực chính trị, kinh tế đến các quan hệ giới, quan hệ giữa các thế hệ. Tính cố kết cộng đồng được chuyển qua các hình thức mới như liên kết sản xuất, ý thức cộng đồng nhỏ được đặt ra trong mối quan hệ với cộng đồng lớn. Và như vậy, tất yếu không thể tránh khỏi sự xung đột giữa các giá trị truyền thống và hiện đại giữa người già và người trẻ, giữa nam và nữ, giữa người giàu và người nghèo, v.v. Do đó, việc xây dựng và thực hiện các chính sách, các quy chuẩn văn hóa mới vừa phù hợp với truyền thống và vừa phù hợp với những đòi hỏi của sự phát triển xã hội là yêu cầu đặt ra bức thiết với các nhà hoạch định chính sách và quản lí văn hóa cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

     [1] Bùi Tuyết Mai, 1999. Người Mường ở Việt Nam. Nxb Văn hóa Dân tộc.

     [2] Lương Quỳnh Khuê, 2007. Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay – Qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình. Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

     [3] Mạc Đường, 1962. Xã hội và ruộng đất ở vùng Mường trước cách mạng Tháng Tám. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tr. 49-56.

     [4] Nguyễn Quang Lập, 2005. Dân tộc Mường. Nxb Kim Đồng.

     [5] Nguyễn Từ Chi, 1996. Góp phần Nghiên cứu Văn hóa Tộc người. Nxb Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội.

     [6] Hà Văn Linh, 2005. Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở người Mường Thanh Sơn, Phú Thọ. Luận án Tiến sĩ.

     [7] Từ Chi, 2012, Người Mường ở Hòa Bình. Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

     [8] Vũ Đức Tân, 1999. Người Mường ở Việt Nam. Nxb Văn hóa Dân tộc.

Nguồn: JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE,
Social Sci., 2015, Vol. 60, No. 5, pp. 122-128

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Tổ chức đời sống xã hội của người Mường: Từ truyền thống đến hiện đại
(Tác giả: Nguyễn Thị Hằng)